Những người làm nghề viết văn

NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ VIẾT VĂN

Từ sau 1945, có một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một số khía cạnh:

– Nên nghĩ sao để đưa công việc viết văn thành một hoạt động nghề nghiệp thực thụ.

– Nên lo sao để trau dồi bản lĩnh người viết  và hình thành nên những trí thức có cốt cách vững vàng.

– Nên đánh giá sao để mức độ quan liêu hoá, từ đó dần tìm cách giải thoát khỏi căn bệnh ác độc đó.

I

Theo nhiều người kể lại, trước Cách mạng  nhà văn Nguyễn Tuân có lần bị ra toà. Khi người ta hỏi ông nghề nghiệp gì, ông trả lời viết văn thì viên thư lại liền ghi: vô nghề nghiệp. Mẩu giai thoại này thường được dẫn ra để ngụ ý là trước Cách mạng, nghề viết văn rất bị xem thường. Nhưng theo chúng tôi tìm hiểu thì mặc dù bị thành kiến như vậy, bấy giờ viết văn đã là một nghề với nghĩa:

a. Có những người coi viết văn như một công việc làm đều đều để kiếm sống mình và vợ con mình bằng chính nghề đó, không cần một thứ phụ cấp nào khác.

b. Trình độ nghề nghiệp của người viết khá ổn định. Ai chỉ có năng khiếu mà không hết lòng với nghề, sớm bị đào thải. Ngược lại những người theo đuổi nghề nhiều năm là những người chuyên sâu, có trình độ tay nghề cao.

Khi tôi hỏi nhà văn Tô Hoài trước Cách mạng trong vòng có mấy năm 1941, 1942, 1943, 1944… sao ông viết được nhiều thế, ông thường trả lời đại ý: Tình hình làm nghề lúc ấy nó đòi hỏi như vậy. Không có mặt hàng riêng anh không sống được (mặt hàng riêng, ở đây ý nói đề tài riêng, phong cách riêng). Có mặt hàng riêng rồi, lại phải viết đều, viết khoẻ nữa. Có điều lạ là đến bây giờ đọc lại nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài lúc ấy, những tác phẩm mà đôi khi các ông kể là phải viết vội để mang bán lấy tiền khi vợ đau, con ốm v.v… còn thấy có giá trị, điều đó chỉ chứng tỏ ngòi bút của các ông đã đạt đến độ chín cần thiết. Mặc dù nước ta bấy giờ là một nước thuộc địa, nhưng những ảnh hưởng của thế giới vẫn dội vào đều đều và văn học ta từ 1925 đến 1945 đã trải qua những giai đoạn phát triển tiêu biểu thường thấy ở nhiều nền văn học khác.

Từ sau Cách mạng, khi nói về nghề viết văn, chúng ta thường hay nói đây là một công tác cách mạng mà không xem như một nghề kiếm sống. Đại khái thấy có ai có năng khiếu viết lách một chút là các cơ quan báo chí xuất bản liền kéo về làm các công việc kề cận với sáng tác, như phóng viên, biên tập viên. Rồi dần dần, trong những trường hợp đặc cách mà ở lớp người trên 40 này mới có một vài người được hưởng, còn chủ yếu giành cho các ngòi bút cao niên, tách ra thành sáng tác chuyên nghiệp, không phải làm gì mà vẫn được hưởng đều đều, lên lương đều đều, việc xếp lương và lên lương này dựa vào thâm niên tham gia cách mạng chứ không phải chất lượng sáng tác. Còn nhuận bút chỉ là chuyện phụ, thêm thắt vào cho đỡ tủi, cả người trả lẫn người nhận đều hiểu không ai sống bằng nhuận bút, thôi Nhà nước đã quy định vậy, thì ta cũng theo vậy. Nói gọn lại là đến nay chúng ta chỉ có những cán bộ viết văn chứ không có những người viết văn sống bằng nghề nghiệp của mình và về căn bản, Hội của chúng ta là một thứ hội của phong trào chứ không phải hội của những cây bút chuyên nghiệp. Phong trào có cái cần của nó (và đây là điều mà những ai mới vào nghề thường được răn dạy: hãy nhớ mình từ phong trào mà trưởng thành lên, không được tách rời cơ sở v.v… và v.v…). Nhưng đã đến lúc nên nói với nhau rằng đánh giá văn học một nước không bao giờ người ta dừng ở phong trào mà phải xem trình độ chuyên nghiệp hoá đến đâu, tức là xem cách đào tạo những cây bút tiêu biểu sống cả đời bằng nghề viết và trình độ những cây bút tiêu biểu đó so với các thời đại trước và so với trình độ ở các nước khác. Thử nhìn lại tình hình Hội ta ở chỗ này thấy có nhiều điểm đáng lo ngại. Hàng năm, rồi vài năm một lần, Hội lại kiểm điểm xem đã phát hiện được bao nhiêu cây bút mới, đã giúp cho phong trào tỉnh nọ tỉnh kia ra sao. Còn số phận các cây bút hôm qua đã phát hiện đó như thế nào, họ có khả năng trở thành những nhà văn chững chạc không thì không cần biết. Do đẻ giỏi mà nuôi kém, đẻ tràn lan, cốt lấy thành tích, mà không chú trọng bồi dưỡng tiếp tục, không mở ra con đường chọn lọc tự nhiên thông qua đào thải nên đã nảy sinh những hiện tượng rất lạ, trong không khí cởi mở hiện nay nên cho phép nói là những hiện tượng kỳ cục, quái gở. Có những người chỉ ngẫu nhiên có được một số sáng tác đột xuất cũng được chuyên nghiệp hoá, rồi sau cứ lẽo đẽo theo đuổi mãi với nghề, song không bao giờ viết được cái gì khá hơn những cái ban đầu kia nữa. Hoặc có những người có năng khiếu, phải nói là rất có năng khiếu nữa, giá ở trong một hoàn cảnh tốt, có thể trở thành một cây bút làm nghề thuần thục, đằng này ngược lại, sau một hai tác phẩm đầu, sinh ta lười lĩnh, làm dối làm ẩu, sống bằng cái uy danh sẵn có của tác phẩm đầu tay mà không biết rằng nhà văn là kẻ đời đời khởi nghiệp, cuộc đời người viết chỉ có nghĩa ở chỗ luôn luôn là những cuộc làm lại từ đầu. Do không có cạnh tranh, cũng như không có sự bắt buộc nhà văn để anh ta luôn luôn làm mới mình, chinh phục lại độc giả… nên số người viết khoẻ, đều tay, cái sau hơn cái trước, số đó rất nhiều. Một người như nhà văn Tô Hoài thường  dặn dò một số anh em viết phê bình như chúng tôi là nên nhớ cái nghiệp nhà văn An Nam ta nó mỏng lắm. Khó tìm được thấy người viết quyển nào cũng hay. Đã có những người tuyên bố viết những bộ sách vài ba tập, nhưng thường thường là chỉ được tập đầu, còn các tập sau chả ra gì. Thậm chí, trong một cuốn sách cũng có hiện tượng xôi đỗ, chương được, chương không. Chúng tôi rất đồng tình với nhận xét trên đây của Tô Hoài. Nhắc lại ý kiến đó của ông, chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng đấy chẳng phải là một điều hay ho gì. Hơn nữa, phải thấy đấy là một điều đáng xấu hổ, không phải cho riêng ai, mà cho cả phong trào, và cái hướng phấn đấu là phải có được những cây bút vững vàng viết đều viết khoẻ, luôn luôn trên đường hoàn thiện sự nghiệp của mình để trở thành những tên tuổi làm vẻ vang cho nhân dân, cho đất nước. Lại cũng rất đáng báo động là trình độ nghề nghiệp của chúng ta hiện nay rất thấp. Đã đành viết văn là công việc của tâm huyết, của tư tưởng, nhưng trong nghề vẫn có những cái thuộc về kỹ thuật viết, những biểu hiện  cụ thể của tư duy nghệ thuật, nó là dấu hiệu khiến cho đọc văn của thế kỷ này thấy khác hẳn với văn của thế kỷ khác. Với những ai không cho rằng có kỹ thuật viết văn, chúng tôi xin phép dừng lại ở đây, vì tranh luận về việc đó đòi hỏi rất nhiều giấy mực. Riêng với những ai công nhận là có kỹ thuật viết, tôi nghĩ các bạn đó cũng dễ nhận ra là kỹ thuật viết của chúng ta hiện nay – đặc biệt là trong văn xuôi — rất cổ lỗ; cũng như hội hoạ, văn học ta hoàn toàn đứng ngoài mà không dây dưa gì đến những trào lưu chung của thế giới trong cái thế kỷ chúng ta đang sống. Khắc phục sự lạc hậu ấy trong hành nghề phải có thời gian, phải có chuẩn bị, nhưng nên nhớ đó là một trong những việc phải làm để đưa việc viết văn trở nên nghề nghiệp thực thụ. Và suy cho cùng, việc đào tạo những cây bút làm nghề thực thụ là cách tốt nhất để củng cố cái phong trào mà chúng ta từng dày công lo liệu. Từ các cây bút có trình độ hành nghề hiện đại, chúng ta mới có cơ hình thành những tài năng có tầm cỡ, những nhà văn đi ra thế giới bằng sáng tác của mình chứ không phải chỉ được đón tiếp như một nhà văn Việt Nam nói chung, điều mà Nguyễn Minh Châu từng than tiếc và những ai có lương tâm đều thấy đúng.

II

Từ những người viết có năng khiếu tới những người viết sống bằng nghề, có tay nghề hiện đại, đã có một nấc thang; từ những người làm nghề thành thạo lo sao hình thành nên những người có cốt cách trí thức, biết suy nghĩ và trả lời cho những lo toan chung của dân tộc, của đất nước, đấy lại là một nấc thang cao hơn, khó hơn. Do đức tính khiêm tốn đã ăn vào máu chúng ta (một thứ khiêm tốn đồng nghĩa với cầu an, sợ sệt, không dám chịu trách nhiệm, cốt sống yên thân qua ngày), giới cầm bút thường lảng tránh câu chuyện này, cho là trình độ ta còn thấp, không nên làm. Nhưng lảng mãi không được, cho nên    xin phép  khơi gợi lên ở  đây và mong được hưởng ứng với nghĩa: bàn đi, bàn đi, rồi may ra có lúc chúng ta có thể làm, chứ không bao giờ bàn thì chắc chắn không bao giờ làm nổi.

Đọc lịch sử văn học một nước có nhiều duyên nợ với ta như nước Pháp, hẳn mọi người đều biết rằng ở đây, thời đại nào cũng hình thành nên những nhà văn đồng thời là những trí thức lớn của đất nước, những người viết văn không có chức vụ gì trong chính quyền, nhưng luôn luôn là những tiếng nói mạnh mẽ tham gia vào các việc lớn trong xã hội. Từ V. Huygo trở đi qua R. Rolland, A.France, H. Barbusse đến A. Gide và J.P. Sartre , A. Camus và L.Aragon … các nhà văn ấy đồng thời là những trí thức lớn. Cốt cách trí thức toát ra qua tác phẩm của họ, ở đó có cả truyền thống lâu dài mà nền văn hoá Pháp đã thu góp được, cốt cách trí thức đó lại cô kết trong con người của họ, bộc lộ ra qua cách ứng xử của họ. Nhắc đến tên tuổi các nhà văn ấy có nghĩa là nhắc đến một quyền lực, một uy tín. Đây cũng là chỉ số đánh dấu sự phát triển rất cao của một nền văn học, cái trình độ mà, ví dụ như, khi nhìn lại văn học Việt Nam trước Cách mạng, chúng ta thấy là chưa đạt tới. Theo chúng tôi hiểu, trước Cách mạng 1945 giới viết văn ở nước ta mới chỉ có những người hành nghề giỏi mà chưa có những trí thức với nghĩa tốt đẹp nhất của chữ ấy: những giá trị tinh thần mà đến nhà nước cũng phải vì nể.

Thế còn vai trò người viết văn trong xã hội ta từ sau Cách mạng tháng Tám? Đây là một vấn đề lớn, liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của trí thức Cách mạng nói chung. Trong phạm vi hiểu biết còn hạn chế, chúng tôi chỉ muốn nói một số điều liên quan đến sự định hướng mà lớp người viết trẻ từ hồi chống Mỹ hay được nhắc nhở, ý chúng muốn nói tới kiểu nhà văn mà bọn tôi  được giáo dục là phải cố mà noi theo.

Đối tượng phục vụ của nền văn học mới là nhân dân lao động. Bản thân những người cầm bút trẻ phần lớn là con em của nhân dân lao động trưởng thành lên. Hơn bốn mươi năm qua, đất nước lại luôn luôn bận rộn . Do hoàn cảnh thúc bách, tận trong tâm khảm mọi người viết, bao giờ cũng khắc khoải một điều: phục vụ trước đã, tìm tòi làm chi vội, gắng viết làm sao để những người mới thoát nạn mù chữ cũng hiểu, thế là quý rồi. Bấy nhiêu lời dặn dò, điều tâm sự… là những yếu tố tạo nên cả một khí hậu văn học, nếu có thể nói như vậy. Chúng ta thường chỉ mới lưu ý tới ảnh hưởng của những điều kiện đó tới kết quả về mặt sáng tác. Rằng văn học ta sau 1945 mới chỉ có những tác phẩm lành mạnh phản ánh một cách khiêm tốn những biến chuyển của cách mạng. Rằng các nhà văn còn cần làm việc nhiều mới dần dần có được những tác phẩm tương ứng với tầm vóc của lịch sử v.v…. và v.v… Tất cả những cái đó đều đúng, nhưng còn nhiều hệ luỵ khác, nhất là những hệ luỵ cô kết thành nếp sống nếp nghĩ, cái đó mới đáng lo. Chẳng hạn, việc miêu tả đời sống một cách thô thiển (chỉ dừng lại ở mức miêu tả mà không đào sâu vào làm nổi bật ý nghĩa đời sống) ban đầu là một thực tế phải chấp nhận, sau trở thành một thứ khuôn thước, không ai nghĩ là nên làm khác. “Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị, người lớn làm văn miêu tả” – đấy là một câu tổng kết, mà ngẫm ra thấy đúng và do đó, thấy rất đau xót. Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: “Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn một chút nữa là viết cho dí dỏm…”. Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp nhà văn trẻ trưởng thành nổi. Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn. Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp thì ngứa cổ hót chơi. Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ. Một quan niệm như thế đẻ ra kiểu nhà văn có tính chất nghệ nhân, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ hiểu bản chất đời sống. Đó là loại nhà văn giống như xẩm chợ, thiên về nói leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình. Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và như thế là được rồi! Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự giác. Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng, chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống, những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường, nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất cần. Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc của một trí thức. Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm tư duy mới. Đó  cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói. Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc, để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.

Thiếu lý tưởng nghề nghiệp, thiếu cốt cách trí thức, đây có phải căn bệnh có thật của những người viết văn hôm nay không, thậm chí nếu có thì  nên gọi là bệnh hay là quan điểm thực tiễn cần thiết, một điểm đáng tự hào, xin các bạn đồng nghiệp cùng bàn. Phần chúng tôi, xin thú thực là trước khi nêu ý kiến này, đã phải phân vân rất nhiều, cầm bút viết ra mà cứ cảm thấy ngần ngại. Đúng là khi đã vào sâu nghề nghiệp, trong thâm tâm nhiều người cũng thấy phải phấn đấu để tạo ra cốt cách cho ngòi bút của mình, học thêm, trau dồi bản lĩnh thêm. Tự đào luyện thành một trí thức chân chính, cái điều ấy càng ngày càng hiện lên như một mơ ước. Có điều trong những ngày gạo châu củi quế, văn hoá tiêu dùng tràn lan này, cái chuyện đó xa vời quá, bàn tới không được, nói ra e thành chuyện lạc lõng. Nhưng có cái lạ ở những người viết văn là những nét tâm lý đáng sợ sau đây: khi không thể làm, thì coi là việc không cần làm. Và nếu mình không làm được mà người khác có ý muốn làm thì ra công khích bác, chế giễu. “Thời buổi này còn nói chuyện trí thức ư? Cũ rồi, lỗi thời rồi! Lại muốn chơi trội ư? Lại muốn theo kiểu thơ văn hũ nút ư?…”. Những lời châm chọc tương tự đã giết hại bao mầm mống tốt đẹp ở những người toan đi vào con đường tự rèn mình, những mong manh lại cho nghề văn một ý nghĩa cao quý như một thiên chức tốt đẹp. Ấy là không kể có những nhà văn nhà thơ đàn anh từng được đào tạo kỹ càng, giờ vẫn chịu khó làm nghề, chịu khó học hỏi, có thói quen làm việc của những trí thức, nhưng đôi khi cũng vô tình hay cố ý hùa theo mọi người, bỉ bác những tìm tòi học hỏi của các bạn trẻ. Việc hùa theo một cách vô trách nhiệm này lâu ngày ở các vị ấy trở thành một thứ thói quen nhắc đi nhắc lại không biết nhàm chán đến mức người ta có thể tự hỏi: hay là các vị ấy có tri thức rồi thì không muốn ai có nữa, thậm chí muốn nghề văn của ta càng lạc hậu càng tốt, nhân cách anh em chung quanh càng kém đi thì nhân cách các vị ấy càng đẹp đẽ hơn lên. Dù là động cơ nào đi nữa thì lối ứng xử này cũng rất nguy hiểm.

III

Không lo rèn luyện về mặt nghề nghiệp, không tự cảnh tỉnh và hướng suy nghĩ vào cuộc tìm tòi hoàn thiện của người trí thức, thế các nhà văn  — tôi không nói tất cả, nhưng ngờ rằng không ít nhà văn ở ta- hướng năng lượng, hướng nhiệt tình đời sống của mình vào đâu? Xin thưa: hướng đi làm quan. Câu trả lời nghe có vẻ lạ tai nhưng lại là sự thật mỗi ngày mỗi hiển hiện rõ rệt.

Xưa kia, dưới thời phong kiến, nhiều nhà nho có tâm huyết đã ra làm quan rồi, thậm chí đã hiển đạt lắm rồi, thượng thư, tổng đốc hẳn hoi, nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn cảm thấy mình rơi vào vòng ô trọc, và dồn cả tấc lòng mình vào những câu thơ tâm sự mà lúc viết ngỡ rằng có thể không ai biết tới. Trong lòng các ông quan ấy vẫn còn những thi sĩ chân chính. Nay thì hình như mọi chuyện xảy ra theo chiều ngược lại, người ta thích làm quan ngay trong giới của mình, một sự lạ lùng, vậy mà, oái oăm thay, lại là điều có thật. Trong bộ máy hành chính của ta, Hội nhà văn chỉ là một cơ quan nhỏ, cỡ ngang một vụ, quyền lợi hình như không có gì béo bở lắm. Tiền tiêu cho Hội hàng năm, đã có người nửa đùa nửa thật mà dự đoán rằng không khéo chỉ xấp xỉ tiền tiêu cho một đội bóng đá. Nhưng như mấy câu thơ tức cảnh của Nguyễn Gia Thiều:

Vẻ chi tèo teo cảnh

Thế mà cũng tang thương

ở đây cũng vẫn có đủ những căn bệnh mà xã hội ta đang có.

Cái ham muốn làm quan đó diễn ra dai dẳng hàng ngày lại càng nồng nã quay cuồng trong lòng người ta trước những sự kiện như một kỳ bổ nhiệm , một đợt đại hội “Lâu nay nhiều người chúng ta đến đại hội, điều đầu tiên là xì xào xem ai vào chấp hành “.Một nhận xét như thế không làm ai bận tâm vì nó là chuyện đương nhiên . Sở dĩ người nào cũng ngong ngóng nhìn vào chỗ ấy, vì quả thật, theo cách tổ chức như của chúng ta , một chức vụ trong Hội  bảo đảm cho người ta nhiều thứ lắm.

Một người phụ trách nếu biết tận dụng quyền lực sẽ có thể in sách ào ào vì Hội có nhà xuất bản riêng. Sách ra rồi sẽ có báo của Hội ca ngợi tâng bốc. Các hội đồng thì đề nghị tặng thưởng. Các cơ quan đối ngoại thì gợi ý Hội bạn nên dịch nên in…

Hồi còn bao cấp, quyền lợi lớn đến vậy đó. Về sau có vẻ bớt đi , nhưng còn lớn lắm , vì ở lĩnh vực nào có xóa bỏ bao cấp không biết , chứ trong lĩnh vực tư tưởng , đâu có chuyện  bỏ !

Có thể so với “quan chức” ở các ngành khác, quyền lợi của các “quan chức” trong giới cầm bút chả mùi mẽ gì! Nhưng “quan chức” trong văn nghệ có cái thú là nhàn thân và có một lớp vỏ rất đẹp đẽ. Trong lúc làm “quan”, người ta có thể tự an ủi: hình như ta vẫn là người lao động cơ mà…Do ta viết hay nên sách được tái bản và nước ngoài cho dịch… Họ không viết hay bằng ta nên họ tị nạnh… Ôi, đã có cái lý để tự biện hộ khéo léo đến như thế, thì sự hấp dẫn của quyền lực chỉ càng thêm mạnh mẽ! Cũng do chỗ được một hình thức màu mè che đậy, nên chủ nghĩa quan liêu có nhiều biến dạng cụ thể, tạo nên một sức quyến rũ kỳ lạ. Người xưa nói tu tại gia, còn trong giới chúng ta có lối vụ tiếng tăm nhất thời, thực chất cũng là làm quan mà lại không có chức tước nào, chỉ có sự thiêng liêng của nghề văn bị đánh tráo và bị lợi dụng.

Ở ta danh nghĩa hội viên Hội nhà văn khá quan trọng, và đó là một quan niệm được hình thành trong suốt trường kỳ lịch sử, nên khá bền chắc trong lòng người .Trong khi kiếm sống bằng nhiều nghề khác,  nhiều người vẫn tìm đủ cách để xin vào Hội, và hay oán thán rằng Hội không mở rộng cửa đón mình. Lại cốt vào để dành quyền lợi, một ít tiền trợ cấp, một suất vé đi tham quan, đi họp ở nước ngoài chứ gì? Một số người khinh bạc dè bỉu .Cái đó theo tôi có, nhưng không phải tất cả. Công bằng mà nói, phải thấy nhiều người có động cơ trong sáng, muốn vào Hội vì nghĩ rằng có xuất hội viên nghĩa là tài năng được khẳng định, là có được một vị trí nghề nghiệp vững chắc. Nhưng với tư cách là một hội viên tính đến 2007 là ba chục năm , tôi cũng xin được phép thú nhận một suy nghĩ khác: Cái đích của việc viết văn cao đẹp hơn nhiều, sự công nhận của những người đương thời, kể cả những người cùng giới, rất cần cho mình, nhưng suy cho cùng, vẫn không phải là bảo đảm chăc chắn cho những gì mình đã và sẽ viết ra. Xưa nay, trong lịch sử, đã có bao nhiêu trường hợp một nhà văn được người đương thời đưa lên tận mây xanh, sau không ai biết tới nữa. Vậy thì dù rất quý những lời động viên nhau, chúng ta cũng nên nhìn sự đời nhẹ đi một chút, và chính các nhà văn phải đi đầu trong việc này, thành thực, biết điều, thận trọng. Sở dĩ, một số anh em mới viết đôi khi cay cú với chuyện vào hội vì chính các hội viên cũ đầu têu gây ra một thứ danh hão . Trong thâm tâm những hội viên ấy không khỏi cảm thấy (và qua giọng nói tiếng cười cho người ta cảm thấy) mình là một cái gì đã thành rồi, đã liệt hạng rồi, có ngạch có bậc rồi. Đây chính là chủ nghĩa quan liêu thông thường, một thứ tâm lý quan liêu bắt rễ vào suy nghĩ trong số đông chúng ta. Từ chỗ cần khẳng định vị trí và thành tựu của văn học cách mạng, chúng ta đi dần tới chỗ khuếch đại đóng góp của từng người. Tự chúng ta làm, rồi lại tự chúng ta khen nhau, văn thơ chúng ta in trên báo chưa ráo mực nhiều khi đã vào thẳng sách giáo khoa. Trong các sách văn học sử, chúng ta dành chỗ cho thời hiện đại quá nhiều ;  dù cố ý hay vô tình thì cũng là cách vĩnh viễn hoá những tên tuổi hiện thời, xếp mình và bè bạn mình bên cạnh những đấng, những bậc kỳ cựu trong quá khứ đã chịu nổi thử thách của thời gian. Đấy là một thứ tự đầu độc rất có hại cho sáng tác. Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu là một người lao động rất cần cù, ngay khi tuổi đã cao, ông vẫn hàng ngày đánh vật với trang giấy trắng, luôn luôn dốc sức làm những công việc lâu dài mà khi có dịp xuất hiện trên báo chí cũng không bỏ qua bao giờ. Có điều, đối với nhiều anh em làm biên tập ở các báo, nhà xuất bản, tức cánh ở trong bếp núc nghề văn như chúng tôi, Xuân Diệu thường hiện ra với một chỗ yếu không thể khắc phục, đó là ông rất sợ người ta quên mình, lâu không mời ông viết là ông không bằng lòng, trong một “bảng vàng danh dự” nào đó (nhiều khi chỉ là một danh sách đưa ra ngẫu nhiên, trong một bài báo nhỏ) mà thiếu tên ông là ông cự ngay. Sự hiếu danh ở Xuân Diệu rất thành thực, khiến không ai nỡ giận ông. Chúng tôi cũng hiểu, trong đời tư, ông rất đơn độc, nên luôn luôn cần được bù đắp, muốn mình luôn luôn sống với văn học, sống với mọi người. Song nghĩ đến việc một nhà thơ thuộc loại dẫn đầu cả một nền thơ, mà luôn luôn sợ người ta quên, sợ người ta xếp lầm chỗ mình như thế, chúng tôi cứ thấy có gì tội nghiệp, lại cứ thấy tiếc cho ông. Mặc dù đã có gan bỏ hết các chức tước để chỉ dồn sức vào các trang viết, Xuân Diệu vẫn bị mấy chữ tiếng thơm trói buộc, và điều đó đã kìm hãm ông, không cho phép ông tập trung làm việc, nhất là không cho phép ông phiêu lưu tìm kiếm, như nghề văn vốn đòi hỏi. Trường hợp Xuân Diệu thật ra chỉ là một ca điển hình, căn bệnh trên đây ít nhiều có trong mỗi chúng ta. Do ảnh hưởng của một thứ chủ nghĩa tập thể thô thiển, ta quan niệm rằng sự đánh giá của số đông về từng cá nhân bao giờ cũng chính xác và nhất thành là bất biến, và thuộc về lịch sử, ta đâm ra sợ hãi khi có vẻ ra ngoài thông lệ, không theo lối nói, lối ứng xử của chung quanh và chỉ hoàn toàn yên tâm khi thấy mình nói chung cũng giống như mọi người, rồi trong khuôn khổ cái chung ấy, nhích được một chút hơn mọi người thì hí hửng, sung sướng. Cái tâm lý bầy đàn này – ở Liên Xô cũ người ta gọi như thế- vốn đã đi ngược lại bản chất con người nói chung, lại càng là không thể chấp nhận được với những ai làm nghề sáng tạo, bởi nó không tạo được sự đơn độc tinh thần vốn là cần thiết với những công việc lớn. Để khắc phục chỗ yếu này, trước hết cần có sự cởi mở về quan niệm. Cái mới nào khi mới ra đời chẳng đơn độc, thậm chí là thiểu số nữa. Nếu cứ lấy đa số ra mà áp đặt thì trong nhiều trường hợp, không có được cái mới thực sự. Muốn có được cái mới, chủ quan từng người phải có sự kiên trì mà chung quanh phải có sự thông cảm. Trong nền văn học ta sau Cách mạng, đã có những trường hợp do người viết có được ngoan cường chỉ là mình, dám là mình, mà một phong cách được hình thành. Đó là, chẳng hạn, những trang văn xuôi của Nguyễn Khải, một cách nhìn đời sống ban đầu bị bao người kêu là độc ác, tàn nhẫn, nhưng khi quen rồi, lại cho là sắc sảo, biết phát hiện. Đó là, chẳng hạn, thơ của Nguyễn Đình Thi, thứ thơ có một thời bị mang ra phê bình cho là yếu đuối, xa lạ với quần chúng (chúng tôi còn được nghe kể là có một câu phê phán rất cô đọng “Anh không khóc nhưng những chữ của anh nó thút thít”), nay đối với chúng ta lại là một thứ thơ có chiều sâu nội tâm và theo ý tôi là một cách tân về giọng điệu trong thơ. Hoá ra, chưa nói đâu xa, ngay ở các bậc đàn anh hôm nay đang viết, cũng đã có những bài học quý, các anh đã nêu gương dũng cảm tìm tòi, đi ngược lại sự công nhận nhất thời của số đông để tìm tới giá trị lâu dài hơn cho tác phẩm của mình. Tôi không rõ là tại sao các anh thường quên không dặn dò lớp người sau dũng cảm, dám đơn độc tìm tòi, mà thường chỉ nhắc chúng tôi là lắng nghe chung quanh, hoà hợp với phong trào và khi xem xét các tác phẩm mới viết ra, các anh cũng chỉ lấy sự công nhận của số đông ra làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá. Trong một hoàn cảnh như thế, dĩ nhiên, cái tâm lý quan liêu nói trên – thích danh tiếng, thích xác định “địa vị lâu dài” trong văn học, hợm hĩnh một cách nông nổi – tha hồ lây lan như một thứ dịch bệnh, đời sống văn học có lúc chỉ còn cái vẻ nhộn nhịp bề ngoài mà thiếu sự âm thầm kiên nhẫn tìm tòi. Lấy cái nhất thời để đánh giá nhau hoặc chê bai nhau, chúng ta tự làm yếu mình đi rất nhiều và đến khi làn sóng văn hoá tiêu dùng lan tới, thì nhiều người bó gối quy hàng. Trước khi mất, Nguyễn Minh Châu có nói với Nguyễn Đăng Mạnh: “Nhà văn mà sợ dân chủ thì không thể hiểu được”. Mượn cách nói đó cũng có thể nói nhà văn mà chỉ biết có tiếng thơm đương thời (tôi nhấn mạnh chữ chỉ), mà chỉ đánh giá theo số lượng trang viết, số cuốn được làm khi in tuyển tập, số bài phê bình tâng bốc… thì cũng không thể hiểu được. Nhưng đó là một nét tâm lý đang phổ biến. Cái hướng mà chúng ta phải nghĩ  ở đây là bảo nhau cùng sửa, người nào cũng sửa thì mới nhanh chóng giải được bệnh.

*

Một sự dửng dưng kéo dài

Đỗ Phủ và Lý Bạch, Hugo và Balzac, Tolstoi và Dostoievski… những tên tuổi lớn trong nền văn học thế giới bấy lâu đã khá quen thuộc với bạn đọc và các nhà văn Việt Nam. Vào dịp kỷ niệm ngày sinh ngày mất của các bậc thầy ấy (nhất là vào những năm chẵn), báo chí thường có bài giới thiệu lại thân thế sự nghiệp cùng ảnh hưởng của các nhà văn đó trên thế giới để mọi người cùng hiểu biết thêm.

Dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của E. Hemingway cuối năm 1999 cũng đã diễn ra những hoạt động tương tự.

Có điều, riêng với tác giả Chuông nguyện hồn ai, dư luận nói chung và các nhà văn nói riêng hình như có sự ưu ái hơn một chút. Trên tạp chí Văn hoá văn nghệ Công an số ra 6/2000) có hẳn một bài viết dành riêng để ghi nhận ý kiến của một số nhà văn Việt Nam ( ở đây  là Hồ Phương, Lê Minh Khuê, Trần Đăng Khoa, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập) chung quanh ảnh hưởng của Hemingway đối với  cuộc đời cầm bút của họ. Có người nêu lên bài học về sự tổng hợp giữa hư cấu và đời thực khi viết về chiến tranh. Có người lưu ý cách viết đối thoại. Có người nhớ tới chất nguyên sơ hoang dã rất tiêu biểu cho văn xuôi Hemingway.

Chúng tôi không nghĩ rằng bài viết nói trên đã tổng hợp được đầy đủ những ảnh hưởng mà Hemingway để lại trong giới cầm bút hôm nay. Tuy nhiên, nó chạm tới một tình trạng có thực: trong tâm trí nhiều nhà văn, Hemingway có vị trí hết sức gần gũi. Dường như là ông luôn luôn có mặt trong sáng tác của họ.

Chỉ tiếc là bên cạnh Hemingway thì cũng còn nhiều nhà văn lớn, cũng xứng đáng như Hemingway, nhưng chưa được biểu thị yêu mến đến vậy

*

Mỗi khi có dịp cắt nghĩa tại sao tác phẩm nọ tác phẩm kia được xem là hay, là có giá trị, nhiều người thường chỉ lưu ý rằng người viết ra những tác phẩm đó có sự bám sát thực tế, hoặc ông ta ( hay bà ta) không tiếc công ngồi vào bàn sửa chữa hoàn thiện những gì đã viết. Những cách giải thích đó đều đúng, nhưng xem kỹ ra, lại thấy chưa đủ. ở một tác phẩm thực sự là có chất văn, cái đời sống hiện lên qua các trang giấy không phải thứ thực tế sống sít mà ai cũng thấy ở ngoài đời, ngược lại nó phải có sắc thái riêng, chỉ từng nhà văn mới biết nhìn ra và khai thác. Mà như thế, tức là phần chủ quan của nhà văn lúc nào cũng có mặt. Đến lượt nó, cái phần chủ quan này lại là cả một sự tổng hợp bao gồm từ năng khiếu trời cho, công phu rèn luyện tới toàn bộ kiến thức văn chương mà người đó đã tích luỹ được trong quá trình tự học. Thành thử, một chuyện có vẻ đâu đâu, như chuyện đọc thêm một vài nhà văn cổ điển hoặc hiện đại, lại không vô can chút nào hết. Nếu có một thứ “chiếu yêu kính” soi vào trang sách, người ta sẽ thấy nó đã hoà tan vào các dòng chữ và có mặt trong những chi tiết đơn giản nhất của tác phẩm.

Nhờ có nó, sự gắn bó với thực tế của nhà văn mới trở thành sự chiếm lĩnh, sự hoá giải đầy tinh thần trách nhiệm và mọi nỗ lực lao động nghệ thuật mới có đủ đất để phát huy hiệu quả.

Có lẽ vì thế, mà một trong những hướng tìm hiểu về một nhà văn là xem ngòi bút ấy bắt được những ảnh hưởng tốt đẹp nào từ bên ngoài; tâm hồn ấy đồng cảm đến đâu với những tâm hồn khác, và nói chung, cái cách con người ấy tự làm giàu thêm cho mình ra sao.

Về phần người viết, khi thú nhận rằng mình tiếp nhận được ảnh hưởng từ những nguồn văn xa xôi, mỗi chúng ta không sợ mang tiếng là kém cỏi. Ngược lại, ấy là lúc mỗi người công bình với mình, đồng thời tự tin khoẻ khoắn hơn bao giờ hết: ta hiểu mình đang làm nghề như tất cả những người trên thế giới này vẫn làm (và cha ông ta xưa trong điều kiện eo hẹp của các cụ, thật ra cũng không làm khác).

Khả năng tiêu hoá vốn là một chỉ số của sức khoẻ -với từng người cũng vậy, mà với cả giới cũng vậy.

*

So với thời kỳ hoà bình, đất nước những năm chiến tranh có chịu ít nhiều hạn chế hơn trong việc giao lưu văn hóa với nước ngoài thì cũng là điều dễ hiểu. ấy vậy mà nhớ lại đời sống văn học thời chiến tức là ba bốn chục năm về trước, trong đầu óc tôi vẫn hiện lên rành rành những tấm gương của các bậc đàn anh lặng lẽ rút đúc kinh nghiệm từ các nền văn học nước ngoài để bồi bổ cho những trang văn chương phục vụ chiến đấu. Một lần nào đó, cả loạt anh em làm thơ xúm nhau vào dịch Đỗ Phủ. Rồi một lần khác, chia nhau để dịch Tagore. Nguyễn Tuân không chỉ viết về thơ Tú Xương mà còn mê Tchékhov và hay nhắc đến Lỗ Tấn cùng Brecht. Chế Lan Viên, trong khi cổ động mọi người yêu thơ ca dân gian Mèo, vẫn dành thời gian để dịch Eluard hay nhà thơ Tây Ban Nha R. Alberti. Nhưng hoạt động một cách bền bỉ nhất mà cũng hiệu quả nhất, có lẽ là Xuân Diệu. Từ sau 1954, ở Hà Nội, Xuân Diệu đã đứng ra hoặc chủ trì hoặc tham gia cùng với các nhà thơ khác, dịch S. Pétefi, N.Hikmet, V.Maiakovski, P.Néruda, N.Guillen và thường là kèm theo bản dịch, có bài giới thiệu công phu. Có thể nói, nhờ hoạt động bền bỉ của Xuân Diệu và nhiều bậc đàn anh khác, mà thế hệ các nhà thơ Việt Nam lớn lên trong những năm chống Mỹ, những Xuân Quỳnh, Thanh Nhàn, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ… như được tiếp thêm sức mạnh để cất lên tiếng hát ca ngợi hoặc bộc lộ tâm tình trong những năm đất nước gian lao. Tiếp đó, một ít tìm tòi nghệ thuật của những Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy… những năm về sau, không ít thì nhiều cũng là được hoàn thiện trên một mặt bằng thơ ca rộng rãi mà thơ dịch là một yếu tố tạo thành. Nghĩa là lúc ấy, các nhà văn đã tiêu hoá tương đối tốt những “thức ăn” mà mấy cây bút năng động và có hiểu biết nhất đã đứng ra chuẩn bị cho cả giới.

*

Có một nghịch lý, đang thấy xảy ra trong đời sống văn chương hiện thời. Nay là lúc từ Kafka đến Camus, từ Kawabata đến Borges, từ H.Hesse đến  Faulkner, và trong thơ từ Apollinaire, Lorca đến Szymborska, Bonnefoy v.v… đều đã có sách dịch ra tiếng Việt. Người  ham đọc thời nay tha hồ tìm kiếm. ấy thế nhưng các dịch phẩm ấy dường như chỉ tồn tại như là thứ hàng hoá tinh thần để người tiêu thụ (trước tiên là bạn đọc rộng rãi) tuỳ nghi sử dụng. Ngoài ra, chúng không mấy liên hệ đến đời sống văn chương trong nước. Bằng chứng là người ta không cảm thấy hơi thở của chúng trong các sáng tác đang xuất hiện hàng ngày.

Sở dĩ bài báo viết riêng về ảnh hưởng của Hemingway trong văn chương Việt Nam có thể ra đời vì trong thực tế, số nhà văn quan tâm đến ông còn đông và quả là ông có ảnh hưởng tới cách sống cách viết của họ. Ngược lại, những tác giả khác, dù hiện đại và nổi tiếng đến đâu, không hiểu sao vẫn không đủ sức thu hút người viết. Ngay cả đôi khi, được giới thiệu trên tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam, ảnh hưởng của họ vẫn chỉ hết sức khiêm tốn. Cũng có một vài bạn trẻ tìm đọc, có người nghiêm chỉnh học theo, nhưng số cây bút trẻ ấy quá ít, không đủ sức khuấy động cả văn giới.

*

Thực ra, sách dịch hiện nay là cả một mớ hỗn độn. Trên đường trở thành thứ hàng hoá dành riêng cho một lớp bạn đọc nhất định, nhiều cuốn tiểu thuyết in ra chỉ trần xì có văn bản; ngoài ra, các chi tiết phụ trợ như tác giả là người thế nào, mức độ nổi tiếng đến đâu, hoặc trong nguyên tác, quyển sách có tên ra sao, in ra lần đầu ở đâu, đã dịch ra bao nhiêu thứ tiếng… đều bị vặt trụi.

Nhưng ở đây, tôi muốn để loại sách thương mại đó sang một bên. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nói tới một số cuốn sách được làm một cách kỹ càng, phải nói là ở trình độ mà các thế hệ trước ước ao.

Tiếc thay, những sự nỗ lực như vậy, chưa tìm thấy tiếng vang trong lòng giới cầm bút trong nước.

Có vẻ như thức ăn thì quá nhiều, nhưng giờ đây, chúng ta lại không đủ sức tiêu hoá.

Và sự dửng dưng kéo dài- sự dửng dưng mà trong y học, nhiều khi được coi như một căn bệnh.

Đưa những tinh hoa văn học đến với đông đảo bạn đọc

Cửa biển là tên bộ thiểu thuyết dài của Nguyên Hồng, tính ra đến ngót ba chục ngàn trang. Tác phẩm được Nguyên Hồng thai nghén từ những năm kháng chiến chống Pháp, và sự thực đã thu hút gần hết sức lực của ông trong những năm cuối đời (tập đầu, Sóng gầm in ra 1961, tập cuối Khi đứa con ra đời, 1976). Tác giả lại đã đặt vào đây gần như tất cả kinh nghiệm sống, tới mức sau khi hoàn thành Cửa biển, ông còn để thời gian viết riêng một tập sách mang tên Những nhân vật ấy đã sống với tôi, để tâm sự với bạn đọc về quá trình sáng tác của mình. Có điều, theo tôi Cửa biển là một bộ sách quá nặng. Có cảm tưởng như khi viết, tác giả chỉ mải mê theo đuổi dòng cảm xúc mà không hề tính toán xem người đọc sẽ tiếp nhận sách như thế nào. Bố cục có phần rối. Những trang viết chất đầy sự sống không được tổ chức lại cho hợp lý, bên cạnh những đoạn xuất thần có không ít đoạn kéo lê ra nặng nề. ở cương vị một người đọc, tôi thường nghĩ tới Cửa biển với cảm giác nước đôi, vừa phục, vừa ngần ngại, và tin rằng có nhiều bạn đọc cũng làm như mình, tức là tiếp xúc với quyển sach qua những đoạn trích, chứ người có gan đọc hết ít lắm. Bởi vậy, mới có hiện tượng mặc dù được coi là tác phẩm lớn của Nguyên Hồng song Cửa biển chỉ được in ra đâu có một hai lần, trong khi những cuốn sách nhỏ gọn hơn của cùng tác giả như Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, thì in đi in lại nhiều không tính xuể. Gỡ chỗ bí này thế nào bây giờ? ở nước ngoài thường có loại sách thu gọn, kể cả những kiệt tác như Những người khốn khổ, Chiến tranh và hoà bình cũng có bản thu gọn. Liên hệ tới Cửa biển, tôi thầm ao ước trong hàng ngàn giáo viên, hàng năm phải giảng dạy Nguyên Hồng, có một người nào đó, bỏ công ra san định lại tác phẩm thì hay biết mấy! Công việc của người này là lọc ra những đoạn hay, những miếng nạc, còn bao nhiêu những đoạn xương xẩu kém cỏi bỏ hết, rồi giữa các đoạn hay đó, có phần lược thuật, tóm tắt câu chuyện để các đoạn trích ra kia có sự kết dính và bạn đọc dễ theo dõi. Từ 3.000 trang, rút lại còn độ 300-400 trang gì đấy, bấy giờ Cửa biển sẽ hiện ra thân tình với mọi người hơn. Qua bàn tay xử lý của một người lược thuật sành sỏi và tinh thông nghề nghiệp Cửa biển lúc đó nhìn không đáng sợ nữa mà sẽ dễ đọc, dễ tiêu hoá.

*

Sinh thời chẳng những lao động cần cù “tay hay làm lụng mắt hay kiếm tìm” mà Xuân Diệu còn là người biết chi chút với mọi thứ mình đã làm ra (nói như Trần Thanh Mại), trong trường hợp này, Xuân Diệu hiện ra thật chẳng khác gì những nhà giàu giữ của, cái răng, cái tóc có rơi có rụng cũng gói ghém cẩn thận rồi cất đi một hốc. Lý luận của Xuân Diệu là như thế này: rễ của cúc, cũng có vị riêng, tức phàm đã là sáng tác của những bậc tài danh, thì một mảy nhỏ cũng mang dấu ấn của con người ông ta và bạn đọc cũng cần biết. Với tinh thần ấy, khi lo làm tuyển tập của mình (tập 1 in ra cuối 1983) Xuân Diệu đưa vào đến gần 240 bài thơ, trong đó có cả những bài phải nói là yếu, kém nếu hiểu chữ tuyển một cách chặt chẽ, thì không nên lấy vào làm gì. Và tôi đoán cũng không mấy người có Tuyển tập Xuân Diệu trong nhà mà đọc hết từ đầu đến cuối 240 bài đó. Cái nặng nề trong thơ và trong văn xuôi khác nhau, song ở loại nào, nó cũng là cản trở, hạn chế việc đưa tác phẩm tới người đọc và như vậy cả Nguyên Hồng lẫn Xuân Diệu đều chịu những thiệt thòi không đáng có.

*

Viết ra tác phẩm chưa đủ, có một việc cũng quan trọng không kém, và cần tính tới, đó là đưa tác phẩm tới tay người đọc; ở đây, mọi sự dư thừa, cố gạn, cố nhặt nhạnh thêm thắt đều gây phản cảm: chỗ giống nhau giữa hai trường hợp Xuân Diệu và Nguyên Hồng vừa nêu là như vậy.

Cũng phải nói thực: Thông thường của đau con xót, các nhà văn không mấy khi có thể tự làm cái việc cắt gọt và điều chỉnh tác phẩm của mình. Vậy nên, sẽ là tự nhiên, nếu như có những người đứng ra đảm nhiệm công việc khó khăn và cũng đầy tính chất sáng tạo đó. Họ cũng phải có tài và có tâm huyết.

Khái quát mà nói, nay là lúc lao động viết văn không phải là việc riêng của từng người, mà là một chuỗi công việc liên tục, có thể và nên có sự phối hợp cộng tác giữa nhiều người.

Nhưng đấy là chuyện ở ta thường bị xem nhẹ, nói đúng ra là chưa có được quan niệm một cách đầy đủ. Từ 3.000 trang sách của Nguyên Hồng rút ra 300-400 trang ư? Hơi đâu mà ngồi kỳ khu gạn lọc sắp xếp ra công trình của người khác như vậy? Rồi có ai biết cho sự hết lòng của mình, hay là lại công cốc nốt? Còn như cái việc từ 240 bài thơ của Xuân Diệu lấy ra khoảng 40-50 bài ư? Quá ngon lành, bất cứ ai cũng có thể “nhảy vô”. Hai cách làm như trên, tưởng là trái ngược song gặp nhau ở một điểm: chúng đều xuất phát từ sự ích kỷ. Bởi cái thói dễ làm khó bỏ ấy nên có tình trạng bộ sách của Nguyên Hồng thì gần như bị bỏ quên, trong khi thơ Xuân Diệu bao nhiêu bàn tay vọc vào, và cứ một lần có một người biên soạn mới thì lại trình ra một tuyển thơ Xuân Diệu có khang khác đi ít chút- có điều vì được làm quá dễ dãi nên các tập này lại giống nhau ở chỗ tuỳ tiện, rời rạc, giữa các bài trong tập không có được sự gắn kết cần thiết. Đã có  và sẽ còn có những tập tuyển thơ Xuân Diệu loại này ra đời, nhưng vẫn chả có tập nào trở thành một cuốn sách chặt chẽ, cùng được mọi người công nhận như một chuẩn mực có giá trị. Và cái sự làm đi làm lại là không tránh khỏi!

*

Sau khi làm các tuyển tập hiện nay với một vài tác giả lớn, ở ta bắt đầu hình thành các toàn tập. Như toàn tập Nguyễn Thi, toàn tập Vũ Trọng Phụng trong đó có những bộ dài: Toàn tập Hoài Thanh tới 4.000 trang; Toàn tập Nguyễn Tuân ước tính cũng lên tới 5.000 trang v.v…. Quả thật trên con đường kiếm tìm, khôi phục di sản của những người đã khuất, đây là công việc rất cần thiết, ở các nước giàu có, người ta vẫn làm, và còn làm cầu kỳ, kỹ lưỡng hơn mình làm nhiều. Thế nhưng, với tư cách một người vừa có dính tới công tác nghiên cứu văn học, lại vừa làm xuất bản, nhìn các tuyển tập trên, trong lòng tôi cứ bật lên những thắc mắc vu vơ. Rồi những toàn tập ấy sẽ đến với bạn đọc như thế nào? Với đồng lương eo hẹp và nhà cửa phần lớn còn chật chội như hiện nay, liệu có bao nhiêu người  đọc (kể cả những người trong công việc lẽ ra phải dùng tới, cỡ như các giáo viên dạy văn trung học trở lên) sẽ mua các bộ sách quý ấy? Và với tình trạng các thư viện công cộng, bao gồm thư viện cơ quan và các địa phương đang xuống cấp, ngân sách lại quá eo hẹp như hiện nay, liệu có bao nhiêu bộ được mang ra phục vụ một cách hữu hiệu? Hay là sẽ có tình trạng sách chỉ được trưng bày những nơi sang trọng, còn những người lẽ ra phải có chúng nơi bàn làm việc, thì chỉ có cách nhìn chúng trong tủ kính, rồi nuốt nước bọt , và … lảng.

Thành thử, có vẻ như một đề nghị trái khoáy, nhưng tôi vẫn cho rằng nên coi việc làm các toàn tập hiện nay là một bước chuẩn bị để các nhà nghiên cứu ở ta soát xét lại các tuyển tập đã in và sớm bắt tay vào làm những tuyển tập mới thu hút được phần tinh hoa của mỗi tác giả để phục vụ đông đảo bạn đọc. Thời nào thì những người bận rộn về công việc mưu sinh hàng ngày và ít có điều kiện làm quen với văn học- lớp đại chúng đó cũng đông. Những người trong nghề có thể nghĩ rằng đám bạn đọc phổ thông ấy cần gì phải hiểu biết văn học một cách tường tận. Chẳng phải là nhiều khi họ đã mê muội chạy theo mấy cây bút hạng ba hạng tư đó sao? Vậy thì làm sách cho họ thế nào chẳng xong? Nhưng tôi tưởng nên nghĩ ngược lại: chính vì ít thời giờ và không có điều kiện để hiểu văn học, nên đại chúng cần tới một sự giúp đỡ thân tình. Hơn ai hết, họ cần được tiếp xúc thẳng với những tinh hoa sáng tạo. Về phía người viết mà xét, chính việc chinh phục được những độc giả có vẻ xa lạ với văn chương lại có thể mang tới những hứng thú kỳ lạ. Tản Đà xưa có lần đã từ chối không muốn một nhà xuất bản làm sách cho mình quá sang trọng, vì sợ rằng như thế sách ra giá đắt, không đến được tay của những người nghèo. Đời nay, liệu có còn ai ngồi nghĩ như vậy, hay chỉ lẩn mẩn ngồi lo sách dày, sách đẹp?

Chủ nghĩa bình quân kéo chúng ta lại

Mỗi khi bắt tay tổ chức những cuốn sách tập hợp nhiều sáng tác văn thơ chung quanh một đề tài cụ thể, có một công việc rắc rối sớm đến với những người biên soạn, ấy là việc sắp xếp bài vở. Ta sẽ đặt các bài theo thứ tự thời gian chúng xuất hiện trước dư luận? Theo sự phát triển lịch sử của vấn đề được nêu? Hay theo một lô gích khoa học nào khác? Ai cũng nhận những cách làm ấy là hay, song lại không dám làm theo, bởi chúng đòi hỏi người ta phải có công phu tìm tòi, phải có chủ kiến có bản lĩnh. Thứ nữa, chúng dễ để lộ ra sự yêu ghét của người tuyển chọn. Thế là, để khỏi mất công, mà cũng là để yên bề đối nhân xử thế, người ta liền xếp các bài theo thứ tự ABC tên tác giả. Có thể tạm gọi đó là một thứ trật tự vô cảm. Nó không cho thấy sự rung động của người biên soạn trước cái hay cái dở của từng bài viết. Nó cào bằng tất cả. Và nằm sâu bên trong tâm lý cả người biên soạn lẫn nguời có bài được tuyển chọn, ấy là chủ nghĩa bình quân: Sáng  tác của chúng ta đại khái “mắm sốt” như nhau cả thôi mỗi người mỗi vẻ, phân biệt hay dở khó lắm phiền phức lắm. Nói cách khác mọi sự xếp hạng đều không thể làm được và đều vô bổ. Đấy, đại khái chủ nghĩa bình quân bắt đầu từ một sự hoài nghi sâu xa như vậy!

*

Không phải chỉ riêng trong việc làm các tuyển tập, mà nhìn chung, cả trong đời sống văn chương, chỗ nào có điều kiện là ở đấy chủ nghĩa bình quân có mặt. Thường rơi vào bình quân nhất, là những khi người ta phải đánh giá nhau (như trong các bản báo cáo, khi xếp đặt giải thưởng) hoặc phân chia quyền lợi. Những ai có chân trong các hội nghệ thuật đều biết hàng năm, nhà nước có trích một khoản trong ngân quỹ để đầu tư cho sáng tác. Tiền của không mấy, đáng lẽ phải tập trung cho một vài người nào đó xuất sắc hơn cả, để giúp họ đẩy nhanh công việc, thì ở nhiều nơi, có hiện tượng rải mành mành, “hoa thơm mỗi người ngửi một tí”. Lại như trong chuyện nhuận bút, ở đây cũng đang thấy sự bình quân, nghĩa là giữa cái hay cái dở chỉ có một độ chênh bé nhỏ, không phản ánh được sự chênh lệch có thực giữa sản phẩm của những tài năng và các loại hàng chợ làng nhàng, do đó không khuyến khích nhà văn tập trung vào làm những tác phẩm có giá trị. Có điều lạ là không chỉ cơ sở quốc doanh, mà cả tư nhân cũng không tránh khỏi lối nghĩ thiển cận ấy. Các đầu nậu chỉ cốt giữ hầu bao thật chặt, đỡ chi đồng nào hay đồng ấy, còn như việc dùng đồng tiền để phân biệt hay dở cho rành mạch, việc đó chưa ai định làm, và biết làm có hiệu quả.

*

Chủ nghĩa bình quân, tinh thần san đều, vốn có một cơ sở sâu xa của nó. Nếu như trong bóng đá, lâu nay sự phát triển dừng lại ở mức phong trào, và bây giờ mới bắt đầu có bóng đá bán chuyên nghiệp thì ở văn học tình hình cũng có những nét tương đồng. Khái niệm nhà văn chuyên nghiệp theo nghĩa chặt chẽ của mấy từ này, ở ta chưa có. Giữa những người làm việc ở các cơ quan văn học nghệ thuật với các cây bút nghiệp dư, sự phân cách không có là bao. Tất cả chỉ là những bộ phận khác nhau của một phong trào chung.

Mà đã gọi là phong trào thì mọi đối sách đều là căn cứ vào số đông, chứ các cá tính sáng tạo đâu đã phải đối tượng để tính toán.

Hơn thế nữa bản thân bộ phận tạm gọi là sáng tác thường xuyên cũng chỉ được xem như một đám đông sàn sàn như nhau. Họ chưa được đánh giá chính xác rồi phân chia ra theo những thang bậc cụ thể. Vì để cho họ làm việc, ngoài cách kêu gọi, vận động chung chung, thì những biện pháp khác hầu như chưa có.

Nhìn cho rộng ra, trong đời sống cộng đồng, tinh thần bình quân vốn là sản phẩm của một xã hội tiểu nông manh mún hình thành đã ngàn đời, nay vẫn tồn tại một cách đai dẳng. Ai cũng sẵn sàng nghĩ “chết một đống hơn sống một người” (chứ không tin rằng) nếu có vài người sống thật tốt, họ cũng có thể kéo cả những người khác cùng sống”). Thành thử bình quân là một cách nghĩ tự phát, nhiều khi không chủ bụng song người ta vẫn cứ hồn nhiên mà làm và chỉ ngớ ra khi phải lãnh đủ hậu quả của nó!

*

Nhưng không phải mọi người cứ hồn nhiên như thế mãi!

Nói là lý luận thì cũng hơi quá, thời gian gần đây, có một số người thích mang lại cho cách sống bình quân hôm nay một ít lý sự. Ví dụ khi bàn về xuất bản sách vở, họ có chủ trương là trừ những thứ có sai phạm chính trị, còn hay dở chưa biết, cứ in ra rồi để thiên hạ tự lọc lựa. Nói chung, với mọi quyền lợi chân chính của giới văn chương, họ muốn chia đều.

Lập luận của họ như sau: Một câu thơ được viết ra, hễ không giống những câu thơ trước đó có người đã viết, tức độc đáo rồi. Mà độc đáo là cơ sở của sáng tạo. Và mọi sáng tạo đều phải được đối xử bình đẳng.

Trong một số bìa trong mục sổ tay trước đây, chúng tôi đã có dịp bàn qua về thứ lý luận sáng tạo kiểu này, ở đây xin nói thêm: Sáng tạo không phải là làm ra một thứ gì đó trước đây chưa hề có. Đúng hơn, nên nói làm ra một thứ gì đó có giá trị, đáng để cho mọi người mong muốn. Mà nói tới giá trị là nói tới thang bậc cụ thể. ở đó có cái cao có cái thấp, có cái thiết yếu có cái lặt vặt, thậm chí có lẫn lộn cả vào những cái tạp nhạp cần loại bỏ “Bất cứ sự đơn giản hoá hệ thống kiểu nào đều dẫn tới sự tràn ngập của những hình thức thấp của sự sống và điều đó sẽ làm xấu đi một cách tệ hại cái nếp sinh hoạt tự nhiên của con người”. Những kết luận như trên không chỉ đúng trong phạm vi thiên nhiên, mà còn đúng trong cả xã hội.

Cũng trong  xu thế bảo hộ cho sự bình quân, một số người khác lại lập luận như sau: Trong thiên nhiên vốn có sự bình đẳng tự phát, và tự nó, sự bình đẳng này đã mang lại vẻ đẹp, không cần đến việc lựa chọn nhân tạo. Câu chuyện khiến tôi nhớ lại một kỷ niệm cũ. Trên các nẻo đường Trường Sơn nhưng năm chiến tranh, người ta thường gặp những cánh rừng bị bom cày nát ra; thay vào đó, thấy có những lớp cỏ gianh tươi tốt mọc rất nhanh vươn lên trên đám thân cây cháy trụi và nằm lổng chổng đây đó. So sánh những cánh rừng nguyên sinh chưa bị bom cày xới rừng cỏ gianh thì có sự phân biệt rõ rệt. Một bên là những cấu trúc tầng tầng lớp lớp hợp lý; có cây cao bóng cả, có đám cỏ xanh nằm sát mặt đất chỉ để giữ độ ẩm, và có rất nhiều dây leo xen kẽ. Còn bên kia là một cấu trúc đơn điệu gồm những thành phần giống hệt nhau. Nhìn xa, đồi cỏ gianh dào dạt trong gió, trong nắng, trông cũng đẹp, chỉ có điều, trừ một số nơi còn dùng để lợp nhà và cắt tạm lấy cái đun, ngoài ra cỏ gianh chẳng được việc gì cả. Trong khi ấy, việc phân chia có vẻ bất bình đẳng (một bên cây cao bóng cả một bên cỏ dại) lại tạo cho những cánh rừng nguyên sinh một toàn bộ hợp lý và trở nên có ích. Có thể ai đó thích có một nền văn học cỏ gianh để thoả mãn cái ao ước bình đẳng, riêng tôi vẫn mong sống trong một nền văn học tầng tầng lớp lớp phân biệt, dẫu rằng trong đó bản thân tôi chỉ là một thứ cỏ cằn cỗi lan trên mặt đất, tôi cũng cam lòng (miễn là với tôi, đó là một số phận xứng đáng!).

*

Sở dĩ chủ nghĩa bình quân có đất sống, lý do một phần là ở cái khó của hoàn cảnh, mặt bằng xuất phát của chúng ta thấp quá. Muốn an lòng nhau, phải lấy phong trào thay cho cá nhân. Nhưng ngay ở đây, nảy sinh hậu quả: càng bất lực trong lựa chọn, càng hạ thấp tiêu chuẩn để khen nhau, càng rải mành mành trong việc đầu tư, thì sự tự phát càng có dịp nảy nở, mọi yếu tố tinh hoa không ngóc đầu lên được, và toàn bộ cái chung bị níu kéo trở lại. Cái vòng luẩn quẩn kéo dài, trong đời sống cũng thế mà trong văn chương cũng thế.

Người viết văn và kinh tế thị trường

Giá kể có một cách nào đó thống kê những từ  cửa miệng mà mọi người dân ở ta hôm nay hay dùng, thì chắc chắn bốn tiếng kinh tế thị trường đứng ở loại một. Với tư cách một sự thay đổi lớn nhất xảy ra từ những năm sau chiến tranh, kinh tế thị trường đang làm đảo lộn nếp sống mọi người. Sản xuất bung ra. Hàng hoá ê hề. So với những năm ở thời bao cấp, nay là lúc mỗi chúng ta đi nhanh hơn, làm việc hối hả hơn, cảm thấy thiếu thời gian hơn. Cùng với cách suy nghĩ thay đổi, trong mỗi con người còn luôn thấy bừng bừng những dục vọng, muốn được sống, được hiểu biết và hưởng thụ tới mức tối đa mà hoàn cảnh cho phép. Về phía các nhà văn, mọi người cũng đã trải qua một giai đoạn mà lao động sáng tạo gặp phải những thách thức khác hẳn ngày trước. Một sự miêu tả cho được những thay đổi lớn lao đã đến với giới viết văn trong hơn chục năm qua, cũng rất cần thiết. Nhưng trong bài này, tôi chưa làm được việc đó, mà bước đầu chỉ muốn khảo sát sơ bộ những nhận thức của các nhà văn trước kinh tế thị trường, và trước tiên là dừng lại ở những nhận thức tạm gọi là ngây thơ, hoặc mang tính cách ảo tưởng, nó bộc lộ sự non kém của chúng ta, đồng thời cũng hạn chế việc giải phóng những năng lực sáng tạo vốn tiềm ẩn trong chúng ta (việc giải phóng này một khi được thực hiện, sẽ làm nên những đóng góp thiết thực đối với xã hội).

*

Chẳng những trong phạm vi hẹp, giữa đám bạn bè trong giới cầm bút mà ngay trên mặt báo, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy có những lời than thở đại loại:

– Lao tâm khổ tứ bao nhiêu công phu. ấy vậy mà viết xong, liệu có ai in cho mình bây giờ?

– Khi một người viết còn phải để tâm tới việc công bố tác phẩm thì rút cục sự sáng tạo chỉ còn là một mặt hàng mang ra buôn bán.

Nghe mà cám cảnh, như một người đẹp bị phụ tình, một tài năng bị bỏ rơi, vô lý và oan uổng quá!

Song nay là lúc, người ta phải biết không sợ tàn nhẫn để nói thực: khi một nhà văn than thở nông nỗi viết ra không ai in, tức là ông ta sống trong cái không khí thơ mộng thời xưa, khi mà văn chương làm ra được mặc nhiên coi là có giá trị, và được nhà nước bao tiêu. Sống mãi trong cái nếp như vậy, ở ta hình thành một thứ tâm lý ỷ lại, không cần soát xét xem chất lượng sáng tác của mình ra sao, mà cũng không cần xem nó có phù hợp với nhu cầu xã hội không, cứ viết như đồng thuộc, rồi ngồi kêu than là không ai in cho mình. Sự thụ động bao giờ cũng dở, song sự thụ động ở đây lại hai lần đáng trách vì nó chứng tỏ một cách nghĩ đã lạc hậu so với thời đại.

Nói cho đúng ra, nay là lúc những lời than thở lạc lõng như trên ngày càng trở nên thưa thớt. Hơn chục năm qua, các nhà văn tỏ ra khá nhạy cảm trước thời cuộc và chuyển hẳn được sang cách làm ăn mới. Sống trong hoàn cảnh đất nước khó khăn, giấy mực thiếu thốn, việc in sách chỉ làm cầm chừng, trước đây, nhiều người cầm bút thường xuyên cảm thấy ấm ách, và cho rằng mình có cả một tiềm năng lớn mà chưa có dịp thi thố. Theo đà làm ăn mới, nay la lúc có những người viết như ăn giả bữa sau trận ốm. Nghĩa là có bao nhiêu sức lực dồn ra hết. ảo tưởng đã đến rất nhanh: một số trong họ tưởng sức sáng tạo của mình là vô tận, và sung sướng như cá gặp nước. Họ cố ý không thấy là càng ngày càng trở nên đuối sức hơn trong cuộc đua tranh để thích ứng. Nhằm biện hộ cho cái thói quen mải miết làm hàng, bất chấp chất lượng… đã thành bệnh trong người, họ còn thản nhiên tuyên bố rằng quy luật của thị trường là vậy, thị trường đòi hỏi người ta phải biết nắm lấy nhu cầu của nguời đọc và đáp ứng kịp thời, có biết đâu chính sự thả nổi chất lượng đã dẫn tới tình trạng văn chương mất dần bạn đọc, số lượng các cuốn sách mới viết in ra tụt xuống đến mức thảm hại. Một sự đắc ý lúc này chẳng những vô duyên mà còn là một sự hiểu biết tai hại: Bởi quy luật quan trọng nhất của thị trường, nói nôm na cho gọn, chính là tiền nào của ấy, chỉ có nâng cao chất lượng hàng hoá và làm cho mặt hàng ngày mỗi đa dạng thì nhu cầu tiêu thụ mới ổn định và ngày một phát triển.

*

Đặt bên cạnh thái độ nhởn nhơ đắc ý cũng tức là sự bốc đồng giả tạo nói trên thì những nỗi lo âu trước nền văn học hiện nay có cái lý riêng của nó. Sách ra nhiều, nhưng sách hay sách tốt quá hiếm. Nhiều cuốn biên khảo ra đời sự thực chỉ là mạ lại những cuốn đã in từ trước. Sáng tác tuy không đến nỗi trắng trợn như vậy, song vẫn là trượt dài theo đường ray cũ, và một ít cố gắng nhằm làm vừa lòng người đọc thường được bộc lộ kèm theo nhiều luộm thuộm, nhếch nhác. Đúng là đằng sau cái vẻ phồn vinh giả tạo (giấy trắng, bìa đẹp…) văn chương trrong thời kinh tế thị trường lại đang hiện ra với nhiều bệnh rõ rệt hơn hẳn so với thời bao cấp, và đấy là một lý do khiến trong đời sống tinh thần nói chung, nó có phần bị mất giá. Trước tình hình này, một số người nảy sinh tâm lý dao động. Một mặt, họ vẫn cố gắng để nương theo hoàn cảnh mà sống. Mặt khác lại tỏ ý nghi ngờ và quay ra buộc tội kinh tế thị trường cho rằng chỉ vì nó (tức kinh tế thị trường) mà văn học hôm nay sa sút. Lẽ cố nhiên, đây là một sự kết án oan uổng. Nói một cách đơn giản sở dĩ hôm nay chung ta viết kém, ấy là vì việc chuẩn bị của chúng ta cho quá trình sáng tạo còn hời hợt, ta hiểu về nghề còn nông cạn, chẳng những không tìm được cách giải phóng những kinh nghiệm tích luỹ được trong chiến tranh, lại cũng không biết nâng nó lên một trình độ cao hơn để tác phẩm trở nên có sức hấp dẫn và có ích cho những con người bình thường hôm nay. Tóm lại ở đây, lý do phải tìm ở ngay sự hạn chế của những người cầm bút. Còn như nếu quy tất cả nguyên nhân của tình trạng bê trễ cho kinh tế thị trường thì lại không phải. Chẳng qua thị trường chỉ đẩy nhanh hơn lên những hoạt động của giới văn chương, và làm cho những căn bệnh vốn có được dịp bộc lộ đầy đủ. Nó không có lỗi.

*

Để nói về những thay đổi căn bản đang xảy ra trong đời sống kể từ khi các nguyên tắc của kinh tế thị trường được xác lập, một nhà nghiên cứu đến Hội Nhà văn nói chuyện đã bắt đầu từ một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt là cái tăm. Ông so sánh cái tăm lâu nay các gia đình ở ta vẫn dùng với cái tăm mấy năm nay là lúc sự vật quanh ta phải được quan niệm lại. Cố nhiên đây chỉ là một cách nói, cái tăm thời nào cũng dùng để xỉa răng, chẳng qua do đời sống bấy lâu chả được ai nghĩ tới, nên nó cứ xấu xí cục mịch mãi, nay có được chau chuót cho đẹp và tiện dụng hơn, cũng là tự nhiên. Liên hệ sang chuyện văn chương cũng vậy, ai viết sách thì cũng phải nghĩ tới việc nó sẽ được đón nhận ra sao. Và người đọc thì người ta có quyền chọn quyển này thích, quyển kia ngán, vậy xu thế quan tâm tới người đọc nên nay phải điều chỉnh lại cho đúng mức. Hoặc như chuyện giá cả văn chương cũng vậy, giữa một quyển sách hay và một quyển sách dở, công sức nhiều khi chênh nhau đến cả trăm lần, thì nhất định sẽ có lúc nhuận bút phải vượt qua cái khung chết cứng hiện nay để tìm tới một sự định giá có khả năng kích thích các sáng tác tốt. Theo tôi hiểu một ít điều chỉnh theo những hướng vừa nêu là chuyện tự nhiên. Còn nếu như những điều chỉnh hợp lý tương tự như thế xảy ra chậm chạp, và số người khai thác được ưu thế của kinh tế thị trường để ngòi bút ngày mỗi khởi sắc, số đó quá ít, thì trước tiên, phải xem lại chính nhận thức của chúng ta đã.

Giá như có được những cuộc thăm dò thiết thực!

Giữa vô số những cuộc thăm dò ý kiến về văn chương thường được các báo và viện nghiên cứu ở nước ngoài tổ chức và báo chí Việt Nam đưa lại, có một cuộc thăm dò cứ làm tôi thấy lạ, và loay hoay nhớ mãi không dứt ra được. Đó là cuộc bình chọn của độc giả Thiểm Tây đầu năm 1998 để lựa ra 10 tác giả viết văn bị coi như sa sút nhất của Trung Quốc, với điều kiện người lọt vào danh sách này phải là những cây bút nổi tiếng trong nước (tin của báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, 26/9/1998). ở đây, điều làm chúng ta quan tâm, trước tiên có lẽ chưa phải là ở bên đất nước hơn một tỉ dân số, nhà văn nào đang viết lên tay, ai viết sa sút và bị bạn đọc chê trách. Mà theo ý tôi, cái chính là qua đây thấy hiện ra cả một sinh hoạt văn học rộng lớn với tính tổ chức cao, trong đó nhiều mối quan hệ cơ bản như quan hệ giữa bạn đọc và nhà văn, hoặc quan hệ giữa các nhà văn với cuộc đời sáng tác của chính mình đều được xử lý đúng đắn – đấy là những điều mà văn học ta đang phấn đấu một cách chật vật và chưa biết bao giờ làm được.

*

Một cuộc thăm dò như trên chỉ có kết quả khi có được số phiếu trả lời cần thiết. Tức là số người đang theo dõi đời sống văn học một cách sít sao, số đó phải đông; chẳng những họ cùng hào hứng trả lời câu hỏi đã nêu mà câu trả lời phải tương đối tập trung thì cuộc thăm dò mới có giá trị. Chuyện tuy là nhỏ, nhưng bắt tay vào làm thấy chả nhỏ chút nào hết! Cứ xem ở ta thì biết. Kể ra cũng thấy có tổ chức những cuộc thăm dò nghệ thuật, nhưng thưa thớt lắm và thường được làm bên điện ảnh hay âm nhạc. Còn với văn chương, nó đang còn là một khái niệm xa lạ, chưa có chỗ trong đầu óc các nhà quản lý đời sống văn học. Thế nhỡ bây giờ có người định làm thì sao? Đây là một vài trục trặc có thẻ đoán trước.

a/ Số bạn đọc tham gia ít. Người đọc không đặt quá nhiều vui buồn vào văn chương, như chính các nhà viết sách kỳ vọng. Sự dửng dưng là rất khó sửa chữa. Giá có mua sách, thì với một số người cũng là đọc cho vui, đọc xong xếp xó chứ không sức đâu tính toán xem ai đang viết hay lên, ai đang viết dở đi, để phát biểu.

Lại nữa, có khi một số người cũng có ý kiến đấy, nhưng không thấy có gì lợi lộc, nên thản nhiên đứng ngoài. Lấy lý mà suy, khi một bạn đọc bày tỏ ý kiến của mình với quyển truyện nọ, tập thơ kia, tức là giúp cho đời sống văn chương phát triển. Và như vậy, là anh đang góp phần vào việc làm giàu đời sống tinh thần của cả xã hội, trong đó có bạn bè gia đình anh. Song nay là lúc mấy người chịu nghĩ lòng vòng đến thế! Cái lợi giờ đây được hiểu thiết thực hơn nhiều. Một số cuộc thi bây giờ sở dĩ có nhiều người tham gia, phần thì nội dung phổ cập, hấp dẫn, phần nữa là khéo lo liệu, người đứng ra tổ chức chạy được những cơ sở tài trợ hào phóng, đặt ra được những phần thưởng có giá, nên mới xôm trò một chút. Liệu văn học có nên làm theo kiểu ấy? Và làm có được hay không? Câu trả lời có vẻ lúng túng lắm.

b/ ý kiến không tập trung. Một nét đặc biệt của dư luận văn chương ở ta hiện nay là tình trạng nhiễu, tạp, “mỗi chợ mỗi cân”. Hãy nhìn trên mặt báo thì biết. Một số tờ báo cũng thấp thoáng có mục điểm sách, nhưng thường là không đều, mỗi tờ nêu một hai cuốn và nếu xếp cạnh nhau, thấy chả tờ nào giống tờ nào. Nên chi luôn luôn người ta có thể lên một danh sách những cuốn được giới thiệu, nhưng tìm ra một cuốn được nhiều người đồng tình khuyên là nên đọc thì không được. Sự phân tán của dư luận cho thấy một tình trạng  bình quân vốn là rất kỵ trong một công việc sáng tạo.

*

Tuy nhiên, nói theo chữ mà các phóng viên thể thao gần đây hay dùng “độ quái” của cuộc thăm dò ở Thiểm Tây nói trên là ở chỗ nó đề ra những yêu cầu cao với bạn đọc.

Xưa nay, người ta thường chỉ có những cuộc thăm dò để tính xem có tác phẩm nào, hoặc nhà văn nào đang được nhất trí thừa nhận.

ở đây, người ta muốn cùng bạn đọc đi tìm cái kém cỏi, cái bị chê trách – kể cũng đã khó đấy chứ!

Song nhìn kỹ thì thấy cái bẫy của câu hỏi thăm dò là ở chỗ, trước khi chỉ ra tác giả nào đang sa sút, giữa từng người trả lời với ban tổ chức cũng như giữa những nguời trả lời với nhau đã phải có sự thống nhất xem ai là những tác giả đang có tiếng trong nước (chắc chắn đó cũng chỉ là một danh sách hạn chế từ vài chục đến độ trăm người gì đó). “Sân chơi” như vậy là có giới hạn rõ rệt và cuộc thăm dò biến thành một cuộc đối thoại, một cuộc đấu trí sôi nổi của những người cùng để tâm lo liệu cho một công việc chung. Họ thi nhau xem ai nhạy cảm hơn, sáng suốt hơn trong việc nhìn ra những lầm lỡ sai trệch, từ đó có hướng huy động công sức thúc đẩy cho cái sự nghiệp chung kia ngày một phát triển. Khi làm những điều ấy, mỗi người tin rằng lời nói thẳng của mình không làm ai nhụt chí và nản lòng cả.

Quay về tình hình văn học ở ta, tôi ngờ loại người đọc như vậy còn đang rất hiếm, bản thân đời sống văn chương chưa tạo điều kiện cho loại người đó xuất hiện.

*

Còn một điều nữa, khiến cho cuộc phỏng vấn nói trên đáng chú ý, ấy là nó bộc lộ sự vững vàng của các nhà văn trước dư luận. Giữa thanh thiên bạch nhật mà bị nêu tên là viết sa sút, kể cũng ngại lắm. Dân ta có câu vạch vôi vào mặt ai đó ngụ ý một sự đánh giá nhau rành mạch là rất khó, dễ gây đau xót cho người trong cuộc. Có thể dự đoán nếu như một số nhà văn sẵn sàng đón nhận những cuộc thăm dò như thế, bởi họ là những người đang viết, và còn tin là mình có thể viết hay hơn. Họ không thích người ta chỉ nhớ đến họ bằng những sáng tác năm ngoái năm kia. Ngược lại, họ muốn kéo người đọc đến với sáng tác họ vừa viết ra hôm nay. Nhất là họ không bằng lòng với lối đánh giá một lần rồi thôi, mà sẵn sàng giáp mặt với dư luận, và nếu ai đó có mang họ ra “cân đong đo đếm” lại, xác định lại giá trị, thì họ cũng hào hứng chấp nhận. Theo chỗ tôi hiểu, đây là cái điều ở ta rất khó thực hiện. Trong khi ở chỗ riêng tư, các nhà văn không khó gì lắm trong việc đánh hơi tình trạng trồi sụt xảy đến với mỗi đồng nghiệp thì ở chỗ công cộng, phần đông ngần ngại không muốn nói ra một cách rành mạch. Mà sự ngần ngại ấy là dựa trên một kinh nghiệm chắc chắn: đồng nghiệp bị chê sẽ tức tối, rồi tìm đủ cớ phản bác. Không có một thứ văn bản nào quy định, nhưng lâu dần một thứ lệ làng đã hình thành và được mọi người tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Ví dụ, một biên tập viên phải xử lý một bài phê bình hay đọc sách, trước khi cho in. Nếu bài viết kia có quá lời khen quyển sách, thì biên tập viên cũng chỉ cười thầm rồi trong phần lớn trường hợp thây kệ, tặc lưỡi cho qua. Những đoạn phải để ý nhất là những đoạn chế. Chưa nói chê quá lời, chê đúng cũng phải hạn chế. Lý lẽ: bao nhiêu người viết hỏng viết kém anh không chê, tự nhiên anh mang quyển sách này ra chê. Vậy không phải là bất công sao? Thế là các bài báo gọi là phê bình đọc sách ấy phần lớn trở thành một thứ nước đường ngòn ngọt, người được nói tới thì vui, còn người ngoài đọc vào thì chán. Nhưng thói quen khi đã thành nếp rồi, thay đổi khó lắm. Sự thiếu tự tin khiến cho một số nhà văn sẵn sàng ngồi nghe những lời tán tỉnh về những thành tựu đã qua, chứ không bụng dạ nào chấp nhận những bài viết cùng bàn bạc với mình về công việc trước mắt.

*

Như vậy, mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhà văn và đông đảo bạn đọc: sự tha thiết của dư luận với từng bước lui tới của văn chương: sự định vị rõ ràng của các tên tuổi và sau hết, sự thẳng thắn và tự tin của những người làm nghề, có thể xem đấy là mấy điều kiện để có một cuộc thăm dò đáng chú ý như đã nói ở trên. Ngược lại, theo ý tôi, đời sống văn chương ở ta đang thiếu hẳn những điều kiện đó, nên không thể bỗng chốc nảy nòi một cuộc thăm dò tương tự (và nhìn rộng ra nhiều việc khác cũng chưa thể làm cũng như chất lượng sáng tác thời gian tới không thể đẩy tới được). Bằng kinh nghiệm riêng, người viết bài này tin như vậy, vừa tin vừa mong rằng nếu như có một phép màu nào đó, khiến cho điều mình tin bị bác bỏ thì thật vui biết bao nhiêu! Vâng, giá kể bây giờ, trước khi có những cuộc phỏng vấn thú vị khác, các giới hữu quan cho tổ chức ngay một cuộc thăm dò dư luận “Trong số những nhà văn nổi tiếng của hơn70 triệu dân Việt Nam hiện nay, ai đang viết sa sút đi, tại sao? “, rồi sau đó có cách xử lý các tư liệu thu được một cách khoa học và báo cáo công khai trước công chúng, cũng như sau đó, rút ra được những kết luận cần thiết… Khi đó mặc dù được chứng minh là mình nói sai, người viết bài này cũng tự thấy mát ruột vô cùng! Nhà thơ Xuân Diệu từng viết mấy câu sau đây làm kết luận cho một bài viết của mình:” Trên con đường tìm kiếm học hỏi, khi tôi bị cái chân lý đánh ngã, cũng là lúc tôi thắng. Vì mục đích của mỗi chúng ta không phải là thắng cái gì cho mình mà mục đích chung của mỗi chúng ta là làm cho sự lý luận, phê bình, nghiên cứu của chúng ta đi đến chân lý” (trong tập Dao có mài mới sắc).


Những loại tài năng bổ trợ

Báo chí gần đây kêu nhiều về các tuyển tập đang được biên soạn và in ra tới tấp. Đại khái nhiều người cùng cho rằng nhiều tuyển tập sở dĩ kém cỏi vì người làm tuyển trình độ còn yếu, chưa chuẩn bị chu đáo chưa đọc nhiều, bao quát rộng, nhất là chưa khách quan và công bằng. Tôi thấy những lời trách móc ấy đều có lý cả, nhưng vẫn băn khoăn: trên thực tế, những tiêu chuẩn đơn giản lại rất khó thực hiện. Nhà thơ nào mà chẳng chủ quan? Mang những cái chủ quan ấy để cạnh nhau, thấy chẳng giống nhau một chút nào cả. Đầu mối của việc kêu ca có lẽ là ở chỗ ấy chăng? Bởi vậy, trong khi chờ đợi những tuyển tập “khách quan” “công bằng” ra đời, tôi muốn đề nghị một loại tuyển tập khác: Người làm tuyển loại này trước tiên là người có chủ kiến. Anh ta nhận làm tuyển tập vì xem đó là một phương tiện để tự trình bày bản thân mình, phát biểu các vấn đề mà mình quan tâm trước dư luận. Giữa một đời sống văn học thường  xuyên ngổn ngang bề bộn, anh vạch ra được một đường dây phát triển, chỉ ra được một xu thế đang nổi lên và sẽ có triển vọng. Làm tuyển như vậy trước tiên là một hoạt động sáng tạo. Cách đây sáu chục năm, cuốn Thi nhân Việt Nam 1932-41 của Hoài Thanh đã ra đời theo cái cách như vậy. Đọc cả bài khảo luận ở đầu sách lẫn lời tâm sự của tác giả ở cuối sách, tôi không thấy Hoài Thanh tuyên bố là mình khách quan và công bằng bao giờ. Chẳng những thế, ông còn nói chẻ hoe ra rằng “Vô tư thì tôi đã vô tư hết sức, nhưng khách quan thì không” hoặc “Biết làm sao chiều được tất cả mọi người? Âu là tôi chỉ chiều tôi vậy”. Song cái sự chủ quan ấy lại được các thi sĩ đương thời và bạn đọc rộng rãi công nhận, đọc sách, người ta không để ý xem Hoài Thanh đã công bằng chưa, mà chỉ bị cuốn theo tác giả. Và giờ đây nghĩ tới Thi nhân Việt Nam 1932-41, chúng ta phải xấu hổ, vì gần 60 năm đã qua mà chưa ai làm được một cuốn có trình độ tương tự.

*

Hoá ra, sự công bằng trong văn chương, là một cái gì đó rất khó đạt tới. Nó đỏng đánh trêu ghẹo chúng ta. Khi ta cố sức đi tìm thì nó nhởn nhơ nằm ngoài tầm tay. Ngược lại, khi ta không định tìm, tự nó sẽ tới. Yếu tố quyết định ở đây là tài năng người làm văn chương. Xưa nay trong giới chỉ hay nói tới tài năng của người sáng tác, người mang nặng đẻ đau một tác phẩm nào đó. Nhưng cũng thuộc lĩnh vực của sự sáng tạo văn chương, còn nhiều loại tài năng khác chẳng hạn như tài làm tuyển. Thấu hiểu cái hay cái đẹp của những tác phẩm khác nhau; mang lại cho các tác phẩm ấy những ý nghĩa người thường không nhìn thấy, thậm chí cả người làm ra chúng cũng không ngờ tới; và đặt những tác phẩm ấy bên cạnh nhau tạo nên một hiệu quả tổng hợp mà từng cái riêng rẽ không có nổi: Chỉ khi hội đủ những phẩm chất ấy, người làm tuyển mới có quyền bắt tay vào công việc. Xem thế thì thấy việc xuất hiện các tuyển tập có giá trị còn đang khó khăn, cũng thực là điều dễ hiểu!

Vùng mỏ là một trong những cuốn truyện thuộc loại sang nghiệp sử của nền văn học Việt Nam sau 8/1945. Tác giả của nó là Võ Huy Tâm, trước khi trở thành nhà văn là một cán bộ công đoàn. Ban đầu bản thảo mang tên Đình Công do Võ Huy Tâm viết ra còn đơn sơ. Vùng mỏ chỉ có bộ mặt như hiện nay sau quá trình Võ Huy Tâm ngồi kỳ cạch sửa chữa dưới sự dìu dắt giúp đỡ của Nguyễn Huy Tưởng. Tô Hoài kể lại như sau:

“Lần ấy, Võ Huy Tâm ở với chúng tôi có đến mấy tháng. Ngày ngày ngồi vào cái bàn mặt nứa ở góc gian nhà, như mọi người làm việc hành chính (…) Nguyễn Huy Tưởng rì rầm nói, Võ Huy Tâm cầm bút, chốc chốc lại hỏi (…)

Cách làm của Nguyễn Huy Tưởng là thế này: từng đoạn một, nên cắt thế nào, chữa chữ nào. Cái chính là cắt, cắt, không thêm. Tất cả những việc ấy, Nguyễn Huy Tưởng chỉ bàn. Khi nào nghe vỡ ra thì Võ Huy Tâm tự làm. Nguyễn Huy Tưởng không viết hộ Võ Huy Tâm một câu một chữ. Võ Huy Tâm kỳ khu chép đi chép lại rồi đóng những quyển vở mới. Đến một hôm nào không biết, thành tập bản thảo tinh tươm (…)”.

Khó lòng nói cho chính xác rằng trong cái việc mà Nguyễn Huy Tưởng nói ở đây, tâm là chính hay tài là chính. Có tâm thì mới dám làm việc một cách im lặng và tận tuỵ đến vậy! Nhưng trước hết và sau cùng đó là phải có tài – tài nhìn ra trong tập bản thảo mang tên n Đình Công kia cái hồn cốt của Vùng mỏ. Rồi tài ở chỗ tỉ mẩn giảng giải thế nào để Võ Huy Tâm hiểu ra và tự sửa chữa lấy.

Để cái tình riêng sang một bên có thể bảo những gì mà Nguyễn Huy Tưởng đã làm với cuốn Vùng mỏ là thuộc  về công việc của một biên tập viên, và ông đã thực thi chức năng của mình một cách mẫu mực, biết sống với tác phẩm của người khác một cách hết lòng, lại biết tách ra để đánh giá nó chính xác, từ đó đối thoại với tác giả, gợi ý tác giả sửa chữa. Có thể tin chắc một nền văn học muốn phát triển lành mạnh cần đến cả một đội ngũ biên tập viên lành nghề và nhiệt huyết như vậy. Còn như ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một tình trạng ngược lại: Nhiều cuốn sách in ra câu cú tuỳ tiện, bố cục xộc xệch. Nhiều cuốn khác có chất liệu tốt, giá kể có sự gia công thêm đoạn này bớt đoạn khác, để làm cho rõ chủ đề, sẽ nâng cao được chất lượng… có điều cứ dang dở thế mà đến với bạn đọc. Hỏi tại sao, hoá ra các biên tập viên thì làm việc tắc trách, còn các tác giả thì cao ngạo, bụng nghĩ ai đứng tên biên tập cũng được, miễn sách của mình in ra nguyên vẹn. Khi một nghề nghiệp bị coi thường thì ở đó không thể xuất hiện những tài năng để rồi có những đóng góp riêng vào đời sống văn học theo cái cách mà nghề nghiệp đó quy định.

*

Có một hoạt động mà từ hồi có kinh tế thị trường, trong giới văn chương bắt đầu nói tới nhiều, đó là việc một số người bỏ tiền ra để in và phát hành sách. Nếu được xem xét một cách nghiêm chỉnh, hoạt động này có thể có ích nhiều cho sáng tác, như nghề mở gallery đã có tác động tốt tới đời sống mỹ thuật. Người làm nghề này đóng vai trò của những bệ phóng. Bằng  cách đón lấy những tìm tòi chân chính của các nhà văn và có biện pháp đưa nó đến với công chúng rộng rãi, họ có thể góp phần khơi nguồn cho những giá trị cao đẹp trong văn học. Tiếc rằng ở ta, hoạt động này bị coi thường. Và những người vừa có hiểu biết, vừa có cách làm hợp lý, còn chưa xuất hiện. Tình trạng thông thường hiện nay là: người bỏ tiền ra in sách chỉ làm việc trên những bản thảo đã có sẵn. Từng món hàng được xử lý một cách rời rẽ và căn cứ duy nhất là lời lãi cụ thể, ngoài ra, người ta không băn khoăn tính toán xem việc làm của mình có thể tác động thế nào tới hướng đi của văn  học, rồi ra cái gì sẽ mất đi và cái gì sẽ thay thế, vậy nên đầu tư lâu dài ra sao. Tóm lại, mới chỉ có những người buôn vặt, mà chưa có những nhà kinh doanh có tầm nhìn và có chủ kiến như vẫn thường thấy ở những nước mà sự nghiệp xuất bản có nền nếp lâu đời.

*

Vào thuở kinh tế còn đang trong tình trạng tự cấp tự túc, văn chương thường chỉ được xem như một thứ phản ứng tự phát, các nghệ sĩ “ngứa cổ hát chơi”, được đến đâu hay đến đấy.

Một khi các ngành kinh tế văn hoá đã được xã hội hoá, văn chương cũng phải tồn tại khác đi. Nó luôn luôn cần được hỗ trợ, tức là thêm vào cho cái phần nỗ lực cá nhân của nhà văn những đóng góp bổ sung, để sáng tác của họ đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội. Các hoạt động hỗ trợ này gồm nhiều loại, trên đây chúng tôi chỉ mới nêu ra vài hoạt động tiêu biểu. ở các lĩnh vực này cũng đòi hỏi tài năng, đòi hỏi có sự hết lòng và tinh thần sáng tạo. Có thể trông vào các tài năng ấy để đoán ra một phần sinh hoạt văn chương trong thời gian tới.

Giấy thấm và đá cuội

(Bàn thêm về mối quan hệ giữa nhà văn và thực tế)

Đời sống văn chương dăm năm gần đây luôn luôn gợi ra những lo lắng. Những lo lắng này không ồn ào quyết liệt nhưng kéo dài dai dẳng và dường như không có cách gì rũ bỏ nổi. Than thở ngấm ngầm với nhau mãi cũng chán, rồi người ta cũng phải công khai giãi bày ý kiến của mình trên mặt báo. Chẳng hạn cuối năm 1998, trên tờ TT&VH của chúng ta, đã  có một cuộc trao đổi khá kỹ, nhằm trả lời cho câu hỏi Vì sao sách văn học ế ẩm? Còn đầu năm nay “với tư cách là một thành viên Ban giám khảo văn xuôi và là một kẻ được đọc sơ khảo cho cả cuộc thi tiểu thuyết” một nhà văn nói thẳng “chất lượng của tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung là đi xuống. Tóm lại không có quyển nào hay cả. Đọc hơn chục quyển tiểu thuyết dự thi, chỉ đề nghị in được một cuốn của một tác giả nghiệp dư – in thôi chứ không phải vào giải, còn lại loại hết” (Nguyễn Khắc Trường báo Nông thôn ngày nay 17/1/2000). Một nhà văn khác, nhân trình bày lại ý kiến phát biểu trong một cuộc hội thảo chuẩn bị cho Đại hội nhà văn lần thứ VI, cũng chỉ rõ “Năm năm qua, được đánh giá là năm năm văn học bình lặng, không có tác phẩm hay, xét trên bình diện các giải thưởng hàng năm của Hội”, “các tác phẩm được giải không gây được tiếng vang nào đáng kể” (Hà Phạm Phú – báo Tiền Phong, số ra 16/1/2000). Từ chỗ đứng bên trong của giới cầm bút để phát biểu, những ý kiến trên không loanh quanh, không màu mè, mà đã nói rõ một thực trạng và do vậy kêu gọi mọi người  cùng đấu đầu bàn bạc để đẩy đời sống văn học tiến tới.

*

Sau khi gọi bệnh, là kê đơn bốc thuốc.  Thông thường đồng thời với việc nêu ra những nhận xét về tình hình văn học đương thời, nhiều nhà văn sớm đề cập tới lý do theo họ đã khiến cho tình trạng thiếu đỉnh cao trong văn chương ngày một kéo dài.

Có người nói tới đời sống khó khăn của những người cầm bút.

Có người nói tới sự kém cỏi của phê bình.

Một số khác (số này khá đông) lưu ý tới sự xa cách giữa nhà văn với thực tế.

Kể ra, đây không phải là những phát hiện mới. Lâu nay trong việc bắt mạch kê đơn cho văn học đây vẫn là những ý kiến thường dược nhắc nhở, và phải công nhận mỗi cách lý giải đó đều có cái lý của nó. Song, cũng vì thế, lại cần bàn bạc kỹ hơn để cái có vẻ có lý ấy trở thành một hướng chữa trị chính xác.

Ngôn ngữ là một sự quy ước. Có nhiều cách nói mọi người quen sử dụng đến mức không để ý rằng chúng ta đã hiểu nó không hẳn đúng với nghĩa ban đầu của nó. Ví như nhiều người thản nhiên nhận xét: Sở dĩ văn học gần đây non yếu, vì nó còn đi bên rìa cuộc sống. Nhưng nghĩ cho kỹ thì thấy cuộc sống mênh mông vô tận, không biết đâu là đầu, đâu là cuối. Không có đâu là cuộc sống ở chính giữa, với cuộc sống ở bên rìa cả. Thì ra, ở đây người nói muốn dùng những tiêu chuẩn xã hội để phân chia “việc chính” việc có ý nghĩa lớn lao, tác động tới nhiều người, với “việc phụ”, việc chỉ có quan hệ tới các cá nhân riêng biệt. Ví dụ, giờ là lúc văn chương đáng lẽ phải đi vào nhữg đề tài mũi nhọn như xây dựng kinh tế, việc hình thành các khu chế xuất, việc mở trang trại… Trong khi đó,  các nhà văn lại chỉ loanh quanh miêu tả những cuộc đấu đá trong cơ quan, những lối sống học đòi, đi vào hưởng thụ, hoặc những mối tình bị phản bội. Người ta bảo đó là những chuyện bên rìa, chuyện vặt. Nhưng ngay cả khi đã hiểu mấy chữ “bên rìa”, “chính giữa” theo nghĩa như vậy thì cũng cần phải mở ngoặc nói thêm. Trong thế kỷ XX, Yasunari Kawabata là nhà văn thứ hai ở châu á, sau Tagor, được giải Nobel văn chương. Nhưng tác phẩm của Kawabata lại không nói gì trực tiếp tới cuộc chiến tranh thế giới thứ hai mà Nhật Bản góp phần khởi xướng và gieo tai hoạ cho nhân loại, không nói gì đến việc phục hưng đất nước sau chiến tranh mà chỉ trình bày những chiêm nghiệm có liên quan tới vẻ đẹp Nhật Bản. Vậy là không nên coi thường chuyện tâm linh con người, kể cả những biểu hiện có vẻ vặt vãnh của nó. Vả chăng dù việc đi vào các đề tài lớn là cần thiết, song ai đã cầm bút đều biết có một miếng gỗ quý chưa chắc đã tạo nên một bức tượng đẹp, tức là nếu thiếu tài năng, thiếu nhiệt tình nghề nghiệp trước mắt là không tâm huyết với đề tài đã lựa chọn, người ta lúc nào cũng có thể làm hỏng nó. Vậy nói nhà văn thiếu thực tế luôn luôn là một cách nói chưa đầy đủ. Theo thiển ý của chúng tôi, có lẽ đã đến lúc, nên hướng sự suy nghĩ về một hướng khác: Cái phần chủ quan của các nhà văn, khả năng của mỗi nguời trong việc tiếp nhận thực tế. Trước một đời sống đầy biến động, họ, những người đang nhận lấy sứ mệnh cao cả, là cầm cây bút trong tay, có phải là xếp giấy thấm tươi mới, thu hút ngay được muôn hình muôn vẻ thực tế chung quanh, hay chỉ là mấy tờ giấy thấm dùng đã quá lâu, nên mòn bẹt đi, không còn độ xốp, thậm chí trở thành một thứ đá cuội, không có một thứ chất liệu nào xuyên thấm nổi? Vâng, một khi đã chai lỳ, đã  suy giảm khả năng tiếp nhận, thì dù có xoay xoả lăn lộn đến đâu người ta cũng không thu góp phản ánh được cái gì cả, và khả năng “đứng giữa dòng nước mà vẫn chết khát” không phải là điều khó giải thích.

*

Có một câu chuyện nhiều người đã biết: Khoảng 1947-1948, Tô Hoài cũng như Nam Cao đều là phóng viên báo Cứu Quốc ở Việt Bắc: Tô Hoài thì hăng hái đi nhiều viết rộng và đã viết về nhưng nơi mình có mặt với tư cách một cán bộ phong trào. Đó là các tập Núi Cứu Quốc, Ngược Sông Thao, Xuống làng. Còn Nam Cao chỉ loanh quanh ở nhà (nơi toà soạn báo Cứu Quốc chọn làm địa điểm đóng quân), học tiếng Mán, trò chuyện với người dân địa phương, hầu như tất cả tâm trí dồn vào việc viết nhật ký, tự phân tích bản thân, và sau giai đoạn này, ông chỉ có tập ở rừng. Nhưng về mặt chất lượng mà nói, trong khi mấy đầu sách trên của Tô Hoài chìm đi khá rõ, thì ở rừng của Nam Cao còn được đọc mãi. Tại sao như vậy? Đương thời, các nhà văn Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu đã có bài phê bình Núi Cứu quốc , đại ý nói Tô Hoài sống giữa thực tế mà lạnh lùng xa lạ, riêng Tô Hoài cũng đã tự nhận là lúc viết “chữ nghĩa lạnh như đá”. Còn Nam Cao, lúc này phải nói ông có một sự thành khẩn kỳ lạ, nhờ thế nghe ông tự phân tích mà người đọc thấy có phần của mình ở trong. Nam Cao đã nói hộ tâm tình của nhiều con người có đời sống tinh thần gần giống như ông.

Một ví dụ khác. Khoảng 1970-1971, tức đang hồi chống Mỹ, nhà thơ Xuân Quỳnh khi đó đang công tác ở Hà Nội có mấy chuyến đi liền vào tuyến lửa Quảng Bình-Vĩnh Linh và sau đó, đã cho in tập thơ Gió Lào cát trắng. Điều đáng nói là những bài thơ in trong tập này không chỉ mang đậm dấu ấn những vui buồn riêng trong cuộc đời tác giả (có thể bảo là rất Xuân Quùnh) mà lại có nhiều chi tiết gợi được không khí sinh hoạt của Quảng Bình, Vĩnh Linh (tức là rất tuyến lửa). Một bạn làm thơ lúc ấy ở Quảng Bình sau khi đọc Gió Lào cát trắng đã buồn bã tự nhận: hoá ra, sống giữa thực tế mà mình quan liêu, không biết nhìn và càng không biết chắt lọc cái nét riêng của vùng cát, nên viết không bằng người từ xa tới.

Cả hai ví dụ trên gặp nhau ở một điểm: vấn đề không phải là sự tiếp xúc cơ giới giữa nhà văn và thực tế, mà là khả năng thâm nhập vào đời sống, nhìn thấy mình trong , nhìn thấy cái tinh thần của thực tế ấy ở trong mình, “đọc” thực tế đó theo cách riêng và biểu hiện nó bằng những thủ pháp riêng của mình. Còn như nếu thiếu đi cái phần năng động chủ quan ấy, chắc chắn không bao giờ nhà văn làm ra được những tác phẩm tạm gọi là chất lượng!

*

Chỉ cần đặt tay lên trán một em bé, cô y tá đã có thể biết ngay là em đang sốt. Nhưng muốn biết cho chính xác nhiệt độ của bệnh nhi, cô y tá nọ không quên đưa cho bà mẹ cái nhiệt kế, dặn cặp vào nách cho bé. Lát sau bà mẹ rút nhiệt kế ra trao trả. Cô y tá nhìn thấy nhiệt kế vẫn chỉ 37 độ C liền dịu dàng đay nghiến: “Đã bảo dặt đúng vào nách cơ mà!” Và tự cô làm lấy việc đó một lần nữa với tất cả vẻ nghiêm túc của một người tự trọng nghề nghiệp. Đúng thời gian cần thiết, lấy nhiệt kế ra. Nó vẫn chỉ 37 độ C.

Thì ra nhiệt kế… ọc ạch.

Câu chuyện về cái nhiệt kế nói ở đây phảng phất gợi nhớ đến vấn đề chúng ta đang nói, tức là tình trạng một số cây bút mất hết nhiệt huyết, tâm hồn trở nên trơ lỳ, cằn cỗi, hoang vắng, không tiếp nhận được thực tế. Có những nhiệt kế thoạt nhìn không vỡ không hỏng, đến xây xát cũng không nhưng thuỷ ngân bên trong đã hết độ dãn nở tự nhiên là nó không thể làm việc bình thường. Tương tự như vậy một số nhà văn vẫn viết luôn tay vẫn có tác phẩm in ra đều đều, nhưng độ bén nhạy của tình cảm không còn, khát vọng viết hay viết tốt không còn thì có viết giời viết bể gì nữa, cũng không đủ gây xúc động trong tâm trí người đọc! Nếu những nhà văn loại này, không có được sự tự điều chỉnh cần thiết, mọi điều gợi ý với họ (kể cả việc giúp họ xáp vô với cái thực tế sôi động nhất, tươi mới nhất) rồi cũng bằng thừa, và mọi lời trách móc “tại sao không có tác phẩm hay” dù có nhắc lại đến cả ngàn lần cũng là nước đổ lá khoai, vô tác dụng.

Khơi lại tình yêu đối với văn học cổ điển

Nguyễn Tuân và Xuân Diệu thường được  xem như hai gương mặt rạng rỡ bậc nhất trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Riêng ở góc độ nghề nghiệp mà xét, có thể bảo hai ông là những người lao động mẫu mực với nghĩa: ở mỗi người, ngoài những sáng tác cụ thể còn có quá trình vào sâu trong nghề, và trong chừng mực nhất định tìm ra những ngóc ngách làm nên cái hấp dẫn kỳ lạ của nghề cầm bút. Mà trong những phương cách để các ông đạt tới những ưu thế đó là sự tiếp xúc thường xuyên với các bậc thầy trong nước và thế giới.

Không phải ngẫu nhiên, có lần khoảng đầu 1940-41, mở đầu cho một bài tuỳ bút ngắn, Nguyễn Tuân tập Kiều: một thiên tuỳ bút lại càng não nhân (câu Kiều nguyên văn: Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân ). Có thể nói Kiều cũng như thơ Hồ Xuân Hương thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày của Nguyễn Tuân, trở thành một thứ “vang bóng một thời” mà càng ngày ông càng thấy đẹp, và giá có thì giờ ông sẽ ngồi viết về những bậc tiền bối rất hay, như ông từng viết gần 100 trang về nhà thơ non Côi sông Vị (Thời và thơ Tú Xương). Còn với Xuân Diệu, các nhà thơ cổ điển đã là niềm say mê của tác giả Thơ thơ khi còn đi học và cho đăng dần thơ trên mặt báo. Xuân Diệu từng diễn thuyết về Thanh niên với quốc văn từ 1944, tức là khi ông chưa đầy 30 tuổi. Và 14 năm sau, năm 1958, khi 42 tuổi, ông lại trở thành diễn giả tại buổi lễ kỷ niệm Nguyễn Du, tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Cũng từ đó Xuân Diệu bắt tay vào việc nghiên cứu gia tài văn học của cha ông xưa một cách có hệ thống. Có thể mạnh bạo mà nói rằng sự hiểu biết của con người thời nay về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương… sẽ nghèo đi một phần nếu thiếu đi những lời giảng cặn kẽ của Xuân Diệu về các nhà thơ cổ điển.

*

Không chỉ riêng có Nguyễn Tuân hay Xuân Diệu, mà nhiều nhà văn nhà thơ lớp trước cũng đã thường xuyên “thăm thú” trở lại gia tài văn học cổ theo cái cách riêng của mình. Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, quyển Nhật ký đọc Kiều của Lưu Trọng Lư được viết rải rác trong nhiều năm, và chỉ in ra khi ông qua đời. Nhưng ngoài Nguyễn Du, Lưu Trọng Lư còn sớm tìm thấy sự đồng cảm với Nguyễn Công Trứ, và từng có cách giải thích độc đáo về ông thày của thể ca trù này tên Tao Đàn, 1939. Chế Lan Viên thích tìm trong tác phẩm người xưa những câu những đoạn mang dáng vẻ hiện đại bất kể đó là dân ca Mèo Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm hay Lục Vân Tiên. Tế Hanh có sự biệt nhãn đối với Phạm Thái và Sơ Kinh Tân trang. Nguyễn Công Hoan từng tham gia hiệu đính thơ Tú Xương. Trong những lần kể chuyện mình đã vào nghề thế nào Nguyên Hồng thường trình bày lại cách hiểu dân gian ở ta đối với các pho truyện Tàu cổ, Chinh Đông, Chinh Tây, La Thông tảo bắc, còn Tô Hoài thì tìm thấy sự tương ứng giữa sáng tác của mình với những  Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Phạm Công Cúc Hoa v.v… Các nhà văn nhà thơ lớp trước ấy đã sống hết lòng với văn chương của các bậc tiền bối và thường xuyên lên tiếng về các giá trị cổ điển đến mức  chúng ta quen đi, tưởng rằng đã có dịp cầm bút thì ai cũng làm vậy; đến khi nhìn sang một hai lứa nhà văn gần đây người ta mới giật mình, hoá ra đấy là một thói quen nghề nghiệp không dễ mà có, và lâu nay, sự xao nhãng đã kéo dài mà tác hại thì không phải một lúc thấy hết được.

Đáng tiếc đấy lại là kết luận chúng tôi bắt buộc rút ra, khi nhìn vào một số đầu sách mới xuất bản. Nguyên là – như nhiều người đã nhận xét- đời sống phê bình lý luận mươi mười lăm năm gần đây có sinh động lên một phần vì những lời chuyện trò bàn bạc của những người trong cuộc. Nhiều cây bút vốn chuyên sáng tác thơ văn, nay đều đều có mặt trên lĩnh vực lý luận phê bình, và sau một thời gian, đã cho tập hợp các báo đó lại làm nên những tập sách dày. Nhưng nhìn kỹ thì thấy trong phần lớn trường hợp đó là những bài người cùng hội cùng thuyền viết lẫn cho nhau, anh A có thơ hay thì anh B đứng ra phân tích giảng giải để giúp bạn đọc cảm nhận thêm đầy đủ, hoặc anh X có những điều ấp ủ chưa viết thành lời thì anh Y nói hộ. Cũng đôi khi, người ta bỏ công ra làm cái việc bình giảng tương tự với tác phẩm của lớp người đi trước để tính chuyện học nghề, nhưng cũng chỉ loanh quanh ở các bậc thầy. Thơ mới như Thế Lữ, Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử, Bích Khê… là cùng, mà không mấy khi ngược mãi lên đến tận Nguyễn Du, Nguyễn Trãi. Vả văng, nhắc tới tên tuổi vài ba danh nhân để bài viết thêm vẻ sang trọng là một chuyện, mà đi sâu lý giải những hiện tượng văn học lớn lao như Xuân Diệu đã làm đối với tác giả Truyện Kiểu (xem Thi  hào dân tộc Nguyễn Du in ra lần đầu 1967) lại là một chuyện rất khác, làm sao lập lờ rồi đánh lộn sòng cho được?

*

Đặt trong cái mạch đi của lịch sử, thì thế kỷ XX ở Việt Nam là cả một bước rẽ ngoặt, bởi vậy, cũng là một điều dễ hiểu nếu  như con người hiện đại gặp phải nhiều thách thức đến thế khi muốn trở lại với các giá trị cổ điển. Cái khó thứ nhất xoay quanh câu chuyện ngôn ngữ: một bên sử dụng chữ Hán với nhiều tầng nghĩa và gắn liền với vống liếng văn hoá cổ; một bên là thứ văn nôm viết bằng quốc ngữ mạnh vì đi sát đời sống hàng ngày. Cái khó thứ hai nằm trong nguyên tắc thi pháp chỉ đạo việc xây dựng tác phẩm: một bên hiếu cổ, ước lệ, thích những vẻ đẹp hoa mỹ còn bên kia hướng sự xúc động vào ngay cuộc sống thế tục và lấy việc miêu tả thực tế trước mắt làm nguyên tắc chủ đạo. Cái khó thứ ba có liên quan đến sự thay đổi trong bản thân đời sống, những gì im lìm trầm mặc hôm qua đã biến mất để thay thế bằng một thế giới sôi động và luôn biến đổi. Có điều cần nhớ là những khó khăn này không chỉ đặt ra với thế hệ các nhà văn năm nay mới 30-40 mà còn là cái rào ngăn đối với nhiều thế hệ trước. Hồi Xuân Diệu còn sống, người viết bài này có lần đã hỏi tác giả Thơ thơ rằng hình như ông không biết chữ Hán vậy làm thế nào để hiểu những Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập rồi viết bình luận Thơ chữ Hán Nguyễn Du và đã được ông trả lời: Phải đọc thật kỹ các bản dịch, nếu phát hiện những chỗ nào có sự chênh lệch hoặc có thể hiểu sai, thì phải tìm hỏi những người biết hơn… Tinh thần cầu học ở Xuân Diệu là như vậy và nó được chuyển hoá thành những động tác nghề nghiệp thuần thục. Còn với một số người viết hôm nay thì sao? Khi cần phát biểu ý nghĩa của việc học tập văn học cổ điển, người ta đã nói rất hào hứng. Chỉ hiếm lúc gặp mấy cái khó nói trên thì dừng ngay lại rồi tìm ra đủ lý do để lảng tránh.

*

Đến đây, có thể có người thắc mắc:

– Cả một thế kỷ mới có được một vài người như Xuân Diệu hoặc Nguyễn Tuân. Nay anh buộc chúng tôi cũng phải có những người tài giỏi như các bậc thầy ấy thì e rằng phi lịch sử.

– Không, tôi không đòi hỏi ngay bây giờ phải có những công trình như Thời và thơ Tú Xương, như Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tôi chỉ lưu ý hình như là chúng ta chưa cùng lo nghiên cứu tìm hiểu thâm về di sản cổ điển. Khi cái nền chung đã nhợt nhạt thì những người khá nhất trong bọn cũng không mọc mũi sủi tăm lên được.

Một người khác:

– Nay là lúc xã hội có sự phân công cao độ, việc tiếp tục đào sâu vào các giá trị cổ điển là nghề của mấy ông ăn lương nghiên cứu, giới văn chương xông vào làm chi cho nhiễu sự.

– Với bản năng nhạy bén, đôi khi giới sáng tác sẽ khai phá ra những khu vực mới để rồi các nhà nghiên cứu từ đó đi vào sâu thêm. ở Nga hay ở Pháp ở Trung Hoa hay ấn Độ, bao giờ trong các uỷ ban di sản cũng có mặt các nhà văn. Và ở ta, kinh nghiệm thời gian vừa qua cũng không có gì khác.

*

Về hình thức mà xét, có thể thấy lớp nhà văn “tương đối trẻ” hiện nay (các thế hệ 60 trở xuống) thường có một trình độ văn hoá khá hơn so với các bậc đàn anh. Nhiều người trong họ đã qua đại học (“cử nhân”) hoặc mèng ra cũng đã hết phổ thông (“tú tài”) chứ đâu có chỉ học sơ học yếu lược với lại thành chung như hồi trước!

Thế thì tại sao lại có hiện tượng ngần ngại không muốn trở về với các tác giá trị cổ điển.

Có lẽ ở đây, ngoài những lý do thông thường (thói quen, việc khuyến khích dư luận, cách đào tạo v.v…) còn có vai trò của cái tạm gọi là nhữn lợi ích cụ thể. Một bên tin rằng gia tài cổ điển là một di sản luôn luôn sống động, và trở về với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi chính là một cách nâng cao tay nghề, và làm cho những trang sách mình viết ngày một có hồn. Còn bên kia, xem các thành tựu xưa là một cái gì đã định hình rồi, không cần phải bàn bạc thêm; tuy không nói ra, nhưng trong bụng nghĩ có học thì học ở đâu kia chứ ai mà bây giờ còn viết như hồi Kiều, Chinh phụ ngâm mới xuất hiện (?!). Tóm lại, mỗi bên đều lấy sự sáng tác của mình làm trọng. Một bên như giống cây lưu niên cứng cáp rễ khoẻ ăn sâu tìm thức ăn ở những nguồn dinh dưỡng có trong lịch sử xa xưa, còn bên kia rễ nông thân mảnh bám ngay vào lớp mùn trên mặt đất mà sống. Giữa hai bên, đâu là phương hướng có triển vọng hơn, kể cũng đã rõ.

Làm sao để vượt thoát khỏi sự tẻ nhạt?

(Tự thú của một người viết phê bình văn học)

I. Thân phận và cuộc đấu tranh chống lại thân phận: hướng tới một cách tồn tại độc lập

II. Không dừng lại ở những mối quan hệ cá nhân

III. Kinh nghiệm Thánh Thán hay là nhu cầu tự khẳng định

IV. Từ con người cổ điển tới con người hiện đại

V. Một ít trò chơi nho nhỏ

VI. Vẻ đẹp của hình thức

VII. Những niềm vui khác nhau

I

Có lẽ vì quá bực trước tình trạng kém cỏi nhợt nhạt của phê bình, có lần, một nhà văn ở ta đã hạ một câu kết án nặng nề những người làm việc ở khu vực này:

– Vẽ không vẽ, viết không viết, chỉ có mỗi phê bình mà cũng không xong, thế thì còn gọi là làm văn nghệ ở cái nỗi gì nữa?

Trong cuộc đời làm nghề tôi đã nghe bao nhiêu lời ruồng rẫy chê bai tương tự, đến mức cảm thấy đấy là một thứ thân phận của nghề mình- thân hèn, phận tủi. Hồi trẻ, tôi thấy đau khổ vì chuyện này lắm. Và tôi đã chán, đã mệt, đã thử cựa quậy để ra khỏi nghề, nhưng không ra nổi. Thế rồi, có phần thì sống mãi cũng quen, làm nghề gì mãi cũng tìm thấy nỗi vui của nó (như người ta bảo cơm nguội nhai mãi cũng thấy ngọt). Phần thì đây đó cũng thấy trong anh em sáng tác và bạn đọc có sự tôn trọng, sự tin cậy thực sự với những người phê bình biết làm nghề, những tác phẩm phê bình có giá trị. Nhất là có dịp đọc thêm, biết rằng trên đời này, muốn hay không muốn, cũng đã có nghề viết phê bình, và ở một nước như nước Pháp, nghề được trọng vọng lắm, bởi vì ở đó, người ta làm phê bình rất giỏi. Vậy thì tôi sẽ cố làm, để chứng minh một điều ngược lại, là phê bình cũng đáng cho người ta sống cả đời vì nó, phê bình cũng có ích cho xã hội. Ngoài công việc vẫn làm đều đều, tôi cố gắng nghĩ thêm về chính cái nghề mình đang sống, quan sát cách làm việc của các đồng nghiệp khác, xem xem cách nào dở, cách nào hay, nhất là lo tìm ra cái cách riêng, chừng nào đó, tạm gọi là “độc đáo”, nó thích hợp với sở trường của mình. Theo ý tôi, cái khó chịu nhất của phê bình hôm nay là sự tẻ nhạt. Nếu biết làm cho phê bình trở nên sinh động, hấp dẫn có giá trị văn học sâu sắc, thì bản thân mình tìm thấy niềm vui, mà thiên hạ cũng không có cách gì để vùi dập nghề của mình được.

Nói cho đầy đủ ra, khi tôi bước chân vào nghề chung quanh mối quan hệ giữa phê bình và sáng tác  có hai quan niệm sau đây đóng vai trò chủ đạo 1/Một số người đi trước có lối suy nghĩ khá kỳ quặc: họ tự coi mình là kẻ đứng trên, đứng cao hơn để phán xét sáng tác. Theo họ người làm thơ viết truyện mơ màng nên hay mắc lỗi, và chính vì vậy, họ có lý do tồn tại: họ sinh ra để uốn nắn, để lập lại trật tự! 2/ Một số khác coi quan niệm trên đây là dung tục, nhân đó bài bác luôn cả toàn bộ phê bình coi đó là một ngành ăn theo, vô tích sự, và sự có mặt của nó là không cần thiết, giá không có phê bình thì cũng chả thiệt gì cho văn học cả (!).

Cả hai quan niệm nói trên, đều là cực đoan quá đáng và không thể chấp nhận được. Tuy nhiên quan sát đời sống văn học khoảng ba chục năm, thấy có một thực tế là trong khi quan niệm thứ nhất đã bắt đầu trở nên “quá đát”, lạc lõng, chẳng ai muốn nghe và bất đắc dĩ mới phải làm theo, thì quan niệm thứ hai vẫn ngang nhiên lộng hành đến mức các nhà phê bình đâm ra chao đảo ngần ngại. Từ thời viết Thi nhân Việt Nam 1931-41, Hoài thanh thường đã tỏ ý không thích khi người ta gọi mình là nhà phê bình. Nỗi xấu hổ ngấm ngầm ấy giờ đây lây lan ra ở thế hệ sau, nhiều người có khi cả đời giảng dạy văn học và đã viết phê bình đều đều, mỗi khi nói tới phê bình, vẫn thường lắc đầu tỏ ý ngán ngẩm. Rồi đến lớp người nay đang còn trẻ cũng vậy. Giá kể họ chỉ than tiếc rằng nghề này khó, mình không có năng lực thì đi một nhẽ. Đằng này tự trong thâm tâm, họ coi công việc chẳng ra sao, nên ngay từ đầu đã làm việc cẩu thả, và dành cho mình quyền tuỳ tiện, mốn làm cách nào thì làm. Phê bình do thế mà càng hiện ra như một quang cảnh chợ chiều tẻ nhạt- tẻ trong từng bài viết, tẻ trong cách tồn tại của phê bình, tẻ vì giả bộ nghiêm trang, và tẻ luôn cả khi bên ngoài có vẻ ồn ào lộn xộn.

Cũng phải nói thêm rằng tuy đều gọi chung là phê bình, nhưng cách hiểu của mỗi người về nội dung và phương pháp làm việc có khác nhau, và ở những nền văn học khác nhau thì những quan niệm này càng có nhiều điều phân biệt rõ rệt. Nay là lúc có nhiều người thích nhấn mạnh tính cách khoa học của phê bình và thường mải mê đi tìm những lý thuyết mới, bởi cho rằng giá trị của phê bình là nằm trong việc áp dụng lý thuyết mới đó vào thực tiễn sáng tác (người ta đã gọi hàng loạt lý thuyết mới đó bằng những cái tên: Phê bình phân tâm, phê bình cấu trúc, phê bình ký hiệu học). Trong khi đó, với tư cách một người tự học, tự mò mẫm làm nghề, lại thường sống gần gũi với những người làm thơ viết truyện, tôi tự thấy mình thuộc một dạng phê bình cổ hơn, tức là phê bình dựa hẳn vào cảm nghĩ cá nhân, và đặt phê bình vào khu vực của văn chương trước tiên, sau mới là của khoa học. Cũng vì như vậy nên những biện pháp nhằm trốn thoát khỏi sự tẻ nhạt tôi nói sau đây có thể chỉ đúng với bản thân tôi, và những người như tôi, còn đối với những người khác, là chuyện vô bổ. Nhưng cũng chẳng sao. Một trong những đặc điểm của những cuốn truyện bài thơ hay là ở tính phổ biến của nó. Cả người học cao lẫn người ít học đều thích Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương dù rằng mỗi bên hiểu các tác giả lớn đó, theo một cách riêng. Tôi nghĩ rằng phê bình cũng có thể tác động rộng như vậy: nhiều lần, thấy một bác xích lô, một em đánh giầy có đọc bài của mình, bản thân cũng sung sướng như thỉnh thoảng có được các giáo sư, các tiến sĩ tỏ ý khen ngợi. Nếu còn xem phê bình thuộc về văn học thì nên tính tới cả hai loại đối tượng đó trong mọi việc, kể cả việc phấn đấu thoát khỏi tẻ nhạt.

II

Giá như phê bình chỉ bàn những chuyện chung chung của văn chương, thì tuy có cái khó riêng, nhưng nó vẫn đi một nhẽ. Cái “ác” của công việc phê bình, là nó thường phải đề cập đến những tác giả và tác phẩm cụ thể. Đầu mối của nhiều sự rắc rối bắt đầu từ đấy.

ở nhiều nước cũng vậy, mà ở ta cũng vậy, xưa nay vẫn có loại ký viết ngay về người thật việc thật. Xem ra thì phê bình có nhiều phần gần gũi với cái thể tài đặc biệt đó. Nếu một bài ký, viết về một nhân vật có thực, mà chỉ tạo được hiệu quả có liên quan đến chính đối tượng được nói tới, ngoài ra không khiến cho người đọc có một sự liên hệ nào đó (tức không làm cho tác phẩm có được sức khái quát cần thiết), thì những gì viết ra không bao giờ được xem là thuộc về văn chương, chẳng qua đó chỉ là một thứ ký sự báo chí loại xoàng. Đáng tiếc thay, cái lỗi không được phép tồn tại trong các bài ký, lại có vẻ như được khuyến khích trong thể văn mà chúng tôi đang làm việc. Điều mà người ta thường chờ đợi hơn cả khi đọc một bài phê bình chỉ là xem xem tác giả có nói đúng về quyển sách hoặc có gọi ra được “cái chất” của tác giả quyển sách đó không. Tôi không phản đối cái việc tưởng như sơ đẳng này (thậm chí không nên nói nó là sơ đẳng, bởi lẽ đó là việc khó, không phải cây bút phê bình nào cũng làm nổi!). Thế nhưng, đáng lẽ nên coi  đó chỉ là một yêu cầu tối thiểu, thì một số người lại xem đó là tất cả nhiệm vụ đặt ra đối với nghề nghiệp. Nhiều nhà phê bình viết bài xong, chỉ chăm chăm chờ xem người được mình nói tới sẽ phản ứng ra sao. Thông thường bài phê bình viết về anh A. chị B. thì chỉ anh A. chị B. quan tâm đến, ngoài ra, những người khác đọc chơi đọc bời cho vui chứ trong ý thức không mong tìm ra một ý nghĩa nào đó cho sự sáng tác của mình. Có thể nói, như vậy là giữa phê bình và sáng tác chỉ còn một mối quan hệ có tính chất cá nhân: Khi bài viết có vẻ nó đúng chỗ hay chỗ dở (nhất là xoáy vào chỗ hay) của tác phẩm thì cả hai đều hỉ hả. Nhưng một khi cơm chẳng lành anh chẳng ngọt thì thôi, nhà sáng tác dễ sửng cồ lên với người phê bình: Chẳng qua nhờ có sáng tác của tôi, anh mới có lý do để viết nên bài. Thế chẳng phải các anh là một thứ dây leo là gì? Đã chẳng có người gọi các anh là một thứ quan hoạn đấy sao? Trong đời phê bình của mình, tôi đã gặp cái vạ này từ rất sớm. Hồi bắt đầu chống Mỹ, tôi với anh B. được xem như một đôi bạn thân, đi đâu cũng có nhau. Lý do: B. vừa viết được một tập truyện ngắn hay; còn tôi, cảm phục vì tài năng của bạn, đã viết một bài tán tụng quyển sách. Quả thực là lúc đó, với tôi, trong sự non dại của tôi, B. là đồng nghĩa với văn học. Qua đi vài năm, tới cái lần B. viết ra một cuốn tiểu thuyết kém cỏi, tôi có bài chê, gửi tới một tờ tạp chí. Biết chuyện, B. đến tận nơi, vận động ông tổng biên tập tạp chí nọ rút bài của tôi không đăng. Chẳng những thế, anh còn đến chỗ tôi ở, mắng tôi sa sả:

– Quyển sách hay hay dở thì mặc mẹ tôi, can chi anh phải dúng mồm vào! Bài viết vô duyên của anh xuất hiện chẳng khác cái việc hôm nọ vợ tôi đang đi ở đường bị một thằng dở hơi xô ra sừng sộ, quát nạt.

Cũng may, hôm ấy tôi không bị anh hớp hồn. Tôi đủ bình tĩnh để nói cứng:

– Nếu anh viết sách để đấy, hoặc cho vài người bạn thân đọc chơi, thì không nói làm gì. Đằng này anh cho in ra hàng vạn bản, để người ta mua, tức là một công việc có ý nghĩa xã hội rồi. Tôi cũng là người trong xã hội, tôi phải lên tiếng.

Cuộc cái lộn dừng lại ở đó, nhưng nó cho tôi một bài học. Nếu chỉ đặt bài phê bình trong mối quan hệ cá nhân cụ thể thì trước sau, nhất định có sự rạn nứt. Vì trên đời này, làm gì có hai người lúc nào cũng nghĩ giống nhau. Vả chăng, người ta lấy tư cách gì để in ra những bài viết chỉ nhằm đáp ứng cho những đòi hỏi tiêng tư của một ai đó? Trước khi tính chuyện công bố bài phê bình của mình, một ngòi bút tự trọng nhất thiết phải đặt cho mình những câu hỏi đại loại: Một nhà văn không phải đối tượng nói tới sẽ rút ra được điều gì có ích khi đọc bài viết của mình? Liệu anh ta có tìm thấy một số nhận xét liên quan đến nghề? Cả các bạn đọc bình thường không có dây dưa gì đến chuyện viết lách nữa, khi đọc bài phê bình, ngoài việc dựa vào đó tìm sách, họ còn có thể phải suy nghĩ thêm về văn chương và về việc đời ra sao? Tính được điều đó, thì bài phê bình sẽ ở vào cái thế thông thoáng rộng rãi hơn, và không sợ bị kêu là đánh đấm nhau hoặc bốc thơm nhau- cả hai đều là những thứ mục đích tầm thường không xứng đáng để ta bỏ cả cuộc đời theo đuổi.

III

Kim Thánh Thán (1590-1648) là một nhà văn Trung Quốc nổi tiếng ở Việt Nam với tư cách nhà phê bình chẳng khác gì những đồng hương của ông như Thi Nại Am, La Quán Trung nổi tiến trên lĩnh vực tiểu thuyết. Tương truyền rằng, khi về già, muốn bảo ban về nghề cho bậc đàn em, Xuân Diệu đã cho gọi Phạm Tiến Duật tới. Trà nước xong, ông bảo Duật ngồi chờ một tí, rồi lên gác, lát sau mới trân trọng mang xuống một quyển sách. Giở ra, thì là cả quyển Mái Tây của Vương Thực Phủ, qua bàn tay xử lý và phê bình của Thánh Thán, và do Nhượng Tống dịch. Xuân Diệu dặn thêm:

– Toàn bộ công việc phê bình mà anh đã làm là do được hướng dẫn từ quyển sách này. Em hãy xem nó như một của gia bảo!

ấy vậy, mà ở Việt Nam, tài liệu nghiên cứu giới thiệu về Kim Thánh Thán đâu chỉ có ba bốn bài gì đấy, và số người có ngẫm nghĩ kỹ về nghề nghiệp phê bình ở Kim Thánh Thán, số đó càng ít. Có lần, tôi đã tự hỏi: Thánh Thán nghĩ về nghề phê bình của mình như thế nào? và giở cuốn Mái Tây để tìm. May thay, ở lời tựa tôi đọc được một đoạn như sau:

“Tôi ngày nay sở dĩ phê bình Mái Tây, thật là vì người sau họ nghĩ tới tôi, tôi không có gì làm quà cho họ, nên bất đắc dĩ mà làm việc đó. Tôi thật không rõ sơ tâm người viết vở Mái Tây có quả như thế hay không? Nếu quả cũng như thế thì ta có thể nói rằng nay mới bắt đầu thấy vở Mái Tây. Bằng không như thế nữa thì ta có thể nói là trước đây vẫn thấy vở Mái Tây, nhưng nay lại thấy có riêng vở Mái Tây của Thánh Thán cũng được… Tóm lại, chính ý tôi là muốn làm duyên với người sau đôi chút, chứ có hoài sức đâu mà chật vật vì người đời xưa”

Cần nói rõ một chút về đoạn tự bạch này. Cách làm việc của Thánh Thán như sau: gọi là phê bình nhưng ông không chỉ dừng lại ở việc viết một bài ngắn hoặc cả quyển sách luận bàn về đối tượng, mà ông xông thẳng vào tác phẩm, rà xoát từng câu từng chữ trong đó. Như trường hợp cuốn Mái Tây mà chúng tôi đang có trong tay: rất nhiều trang sách in được chia ra rạch ròi, phần trên là văn bản của Vương Thực Phủ, phần dưới là lời bình chú của ông. Mà gọi là bình chú còn quá chung chung, thật ra ở đó ông xông vào cuộc, lúc đứng ở địa vị tác giả giảng giải cho người đọc, lúc đứng ở địa vị người đọc hỏi han chất vấn tác giả, lại có lúc, ông cảm thán mà thốt lên những xúc động vừa nảy sinh trong lòng khi đọc sách. Cuối mỗi chương, đã có lời bình luận về cả chương, tới cuối cuốn sách lại có “phép đọc vở Mái Tây“, gồm có 81 điều. Tóm lại là không có nhà phê bình nào vào sâu trong tác phẩm được phê bình đến như vậy. Ông lần theo từng huyết mạch của nó, ông nhắc lên đặt xuống, vầy vò đủ kiểu, khiến cho trước mắt chúng ta, không phải là vở Mái Tây nói chung nữa, mà đúng là “một vở Mái Tây của Thánh Thánh” như ông đã nói.

Nhưng tôi cho rằng điều quan trọng nhất trong đoạn dẫn nói trên là ở chỗ Thánh Thán đã trình bày rõ mục đích của công việc phê bình. Ông khổ công làm việc với Mái Tây như vậy để làm gì? Để giúp cho độc giả hiểu thêm tác phẩm? Để làm nổi rõ một kiệt tác cổ điển? Những cái đó có, nhưng không phải là cơ bản. Như Thánh Thán đã chân thành thú nhận, chính ra ông không vì ai hết, mà muốn vì chính mình, muốn làm duyên với người đời sau, buộc người đời sau phải nhớ tới tên tuổi của mình.

Tôi coi đó là tuyên ngôn cho một cách làm phê bình.

ở đâu kia, nguời ta có thể cười chê khi nghe một người nhấn mạnh tới tính chất cá nhân của công việc, nhưng trong lĩnh vực sáng tạo văn chương, người nghiêm khắc đến đâu cũng phải nhận rằng chính nhờ có sự tự trọng tự ái cá nhân, mà các nhà văn tìm thấy một sức mạnh kỳ lạ để miệt mài trong sáng tạo. Ngược lại tôi ngờ một trong những lý do khiến cho nhiều cây bút phê bình hiện nay không viết hay được, chẳng qua chỉ vì anh ta hay chị ta hiền quá, không dám là mình, hoặc nông cạn non nớt quá, không có gì để bộc lộ trên trang viết. Anh ta tự bằng lòng với vai trò của một thứ công cụ đo đạc. Không biết chăm lo cho những xúc động , những suy nghĩ nó nảy sinh trong tâm trí khi tiếp xúc với đối tượng, anh đã tự làm nghèo mình đi rất nhiều. Lâu dần cái con người tự nhiên trong anh cùn mòn đi. Và anh cam tâm làm một thứ dây leo bên cạnh tác phẩm- để bài viết của anh ta đứng độc lập, nó chẳng có ý nghĩa gì nữa.

Điều oái oăm là ở chỗ trong các nhà trường, hoặc trong câu chuyện giữa người lâu năm với người mới bước vào nghề, người ta thường hồn nhiên coi tính “khách quan” theo nghĩa vô cảm là một đặc tính bắt buộc của phê bình.

Trong khi đó, thực tế sự tồn tại của phê bình lại cho chúng ta một bài học khác: Phê bình có thể và nên chủ quan. Cố nhiên chủ quan ở đây đồng nghĩa tinh thần trách nhiệm của người viết phê bình, với sự giàu có trong ý kiến, giầu có trong cách xúc cảm suy nghĩ để vào sâu tác phẩm, đối thoại với tác giả và thức tỉnh những cách đọc cách hiểu khác (chứ không phải “chủ quan” với nghĩa tuỳ tiện hoặc mang ân oán cá nhân vào trong thẩm định đánh giá).

Đến đây, có thể có người thắc mắc: Thế thì còn gì gọi là chuẩn mực nữa? Tôi đọc phê bình cốt là để có sự hướng dẫn và đánh giá được chính xác tác giả, tác phẩm. Nếu như nhà phê bình mang vào đó kinh nghiệm chủ quan, thì làm sao có thể đưa ra những kết luận chính xác?

Để trả lời câu hỏi này, nên lần lại một ít quan niệm có tính chất đầu mối, chi phối mối quan hệ nhà phê bình và bạn đọc:

a/ Nên coi chân lý mà nghiên cứu phê bình đi tới là một thứ chân lý còn mở ngỏ. Có thể nói ở đây không có tiếng nói nào đánh giá tác giả tác phẩm được xem như tiếng nói cuối cùng.

b/ Vả chăng, vai trò hướng dẫn dư luận của phê bình cũng nên được hiểu một cách tự nhiên tránh gò bó.

Tôi nhớ một cách nói người ta từng nói về sự sáng tác: để hiểu về một con quạ, văn chương cần đưa ra 11 hình ảnh khác nhau, và bạn đọc sẽ từ đó mà hình dung ra hình ảnh thứ 12, đó là con quạ của họ. áp dụng vào phê bình văn học, thì ở đây, người viết phải luôn luôn có được sự độc đáo trong cảm nhận để từ đó, khơi gợi cho một cách nghĩ rộng rãi về tác phẩm. Còn sự đánh giá chính xác ư? Cái này mỗi bạn đọc tự tìm lấy cho họ, chứ làm gì có kiểu áp đặt, theo cách một sự giáo huấn, dành cho học sinh tiểu học.

Dostoievski là một văn hoá lớn của nước Nga thế kỷ XIX, thường được đặt ngang hàng với L. Tolstoi. Cố nhiên là từ trước tới nay, công trình phê bình nghiên  cứu về ông Đốt có rất nhiều, song chỉ có một người được xem như tạo ra một bước chuyển mới trong nghiên cứu Dostoievski, người đó là M. M. Bakhtin (1895-1975). Có người nghe vậy, tìm đọc Những vấn đề thi pháp Dostoievski của Bakhtin rồi tỏ ý thất vọng, hình như cuốn sách được đề cao kia, không đúng với Dostoievski mà mọi người vẫn nghĩ. Một nhà nghiên cứu Liên Xô cũ đã lý giải chuyện này như sau: Không nên cho rằng tác phẩm Bakhtin là “sự phản ánh chính xác” hình ảnh của Dostoievski. Mà đây chỉ là một cách đọc Dostoievski. Có điều là cách đọc này mới mẻ, hấp dẫn, đầy khả năng thách thức. Và điều quan trọng là tự nó, tác phẩm của Bakhtin là một cấu trúc hợp lý, trọn vẹn, và trong khi nói về ông Đốt, Bakhtin có được tư tưởng riêng của mình về đời sống. Nói cách khác, có một thế giới Dostoievski mà một thế giới Bakhtin, hai thế giới đó, ánh xạ vào nhau, có nhiều chỗ gặp nhau, lồng vào nhau, nhưng không hoàn toàn trùng khít với nhau. Thành thử công trình nghiên cứu của Bakhtin không bao giờ bị coi như một điểm kết thúc mà chỉ kích thích tìm tòi của những người khác, và đó là cả một vinh dự.

IV

– Chỉ có con người mới là đối tượng độc nhất xứng đáng với sự say mê của chúng ta (A. Malraux)

– Một nhà văn tưởng có thể nói được nhiều điều, nhưng cái ông ta để lại được, nếu gặp may, chỉ là một hình ảnh của chính mình (M. Yourcéna)

– Một nhà văn tự định  cho mình nhiệm vụ vẽ lại thế giới. Suốt nhiều năm ròng ông ta chất đầy không gian những hình ảnh phố phường xứ sở nhà cửa vật dụng và nhất là những con người. ít lâu trước khi chết ông khám phá ra cái mê cung của các đường nét đó, cuối cùng chỉ vạch nên một hình ảnh, đó là gương mặt của chính mình (H. L Borges)

– …

Những nhận xét tương tự như mấy câu nói trên đối với tôi thường mang tính cách những chỗ dựa về mặt nghề nghiệp.

Bởi cũng  gọi chung là phê bình văn học, nhưng ở đây, mỗi người có cách làm riêng của mình. Có người chuyên tìm ra những sai sót của người viết văn để tranh cãi, bàn bạc, đính chính. Họ thích đóng vai các ngự sử trên văn đàn. Lại có những người chỉ thích tìm câu văn hay, chữ dùng tài tình của người khác để bình, “tán”, nói chung là muốn trình bày và lý giải những vẻ đẹp trong văn chương để thiên hạ cùng có dịp thưởng thức. Ngay một tài năng về phê bình giới thiệu thơ – cả thơ cổ lẫn thơ kim – như Xuân Diệu, thực tế cũng viết theo lối này.

Gần đây một số nhà nghiên cứu phê bình nước ngoài lại quan niệm rằng cái mà nhà phê bình nên tập trung nghiên cứu là văn bản. Họ chê cách làm việc bám vào tiểu sử nhà văn, kiểu như G. Lanson ngày xưa, là cổ lỗ: nó dễ dẫn đến suy diễn do đó làm mất ý nghĩa khách quan của việc nghiên cứu. Trong khi đó, tác phẩm là một cái gì chứa đầy bí ẩn, và nhà phê bình phải tìm cách giải mã nó, thông qua các công cụ hiện đại.

Tôi công nhận những cách viết nói trên là hay, là có giá trị, nhưng tôi không thể làm theo. Sự từng trải, quá trình tích luỹ kiến thức, và cả ý thích cá nhân của tôi, xui tôi đi theo một nẻo lối khác. Với tôi, đối tượng đầu tiên và cuối cùng mà nhà phê bình phải suy nghĩ là tác giả. Viết phê bình, không gì khác, là đọc ra một tính cách, phác hoạ ra một cá nhân cụ thể ẩn hiện qua các dòng chữ, để giúp bạn đọc có thể hình dung ra một con người, với những vấn đề mà mọi chúng ta cùng quan tâm, với số phận, tính cách, nhu cầu tự khẳng định, sự thích ứng… nó là tấm gương để soi vào đấy ta nhận ra mình và hiểu chung về xã hội. Trong trường hợp lý tưởng, một tác phẩm phê bình có thể giúp người đọc làm quen với một nhà văn như Nguyễn Du cho người ta sống với những Đạm Tiên, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh; Nam Cao buộc người ta phải nghĩ đến Chí Phèo; và Vũ Trọng Phụng ám ảnh đầu óc người ta bằng những bà Phó Đoan, hoặc anh Xuân Tóc Đỏ.

Để viết kỹ viết hay về các tác giả, theo tôi, cần có ít nhất hai điều kiện:

Một là, sự lịch lãm về đời sống, tức là cái vốn chung về người đời, các kiểu mẫu, các “điển hình”.

Hai là, một quan niệm vững chắc về con người, nó bắt nguồn từ sự hiểu biết việc đời nhưng lại được chưng cất kết tinh lại trong lý luận và rồi sẽ trở thành kim chỉ nam giúp người ta tiếp tục sống.

Trong hai điều kiện vừa nêu, thì điều thứ nhất quá rõ ràng, ai cũng biết và lại quá rộng, nên xin không bàn tiếp; riêng có điều kiện thứ hai, tôi cho rằng cũng rất thiết yếu, cần được nói kỹ.

Từ các công trình nghiên cứu phê bình cũ, cũng như từ một số bức tranh, một số tiểu thuyết tiêu biểu ra đời trong các thế kỷ trước, người ta thường thấy toát lên một quan niệm có phần đơn giản, tĩnh tại về con người: đại khái, con người là sản phẩm của hoàn cảnh. Các yếu tố khách quan đã quy định bộ mặt tinh thần của mỗi cá nhân, và ở đây có một cái gì tất yếu không ai cưỡng lại nổi. Về mặt cấu trúc, con người là những thực thể định hình rành mạch, chẳng hạn trong tranh, nhân vật thường hiện ra với những đường viền rõ rệt. Với sự nhấn mạnh quá đáng vai trò của lý trí, con người lúc ấy tưởng rằng bản thân có thể làm chủ được mình và cho rằng giữa điều thường mong muốn với hình ảnh mà mình trình bày ra ngoài có sự trùng khít đến mức tối đa. Được hướng dẫn bởi một quan niệm như thế, các nhà phê bình thường lấy tiểu sử tác giả để giải thích tác phẩm (ví dị cho rằng Nguyễn Du viết Kiều vì tâm trạng nhớ tiếc nhà Lê; hoặc khi nghiên cứu văn học hiện đại, thường khẳng định rằng nhà thơ nào có tinh thần công dân cao thì thơ ắt phải hay). Những dự định những lời tuyên bố mà tác giả thổ lộ đây đó, được coi như chìa khoá mở cửa thế giới của sự sáng tạo. Mỗi tác phẩm cũng như mỗi con người là một thực thể thống nhất trọn vẹn. Sau quan niệm khô cứng về đối tượng, đến lượt chính cách suy nghĩ của nhà phê bình về công việc của mình cũng giản đơn, khô cứng: họ tin chắc như đinh đóng cột rằng đã đưa ra được những kết luận cuối cùng về đối tượng vừa được nghiên cứu.

Trong khi ấy, từ các tác phẩm của các nhà văn hoạ sĩ mang tinh thần hiện đại, có thể đọc ra một quan niệm về con người có nhiều phần khác, và chắc chắn là thực tế hơn, gần với sự phát triển của xã hội hôm nay hơn. Trong khi công nhận rằng suy cho cùng, đặc tính mỗi cá thể là do hoàn cảnh quy định, đồng thời người ta nhấn mạnh, khi đã hình thành, mỗi cá thể là một đơn vị hoàn chỉnh, một thế giới có quy luật riêng. Với hoàn cảnh mà từ đó nó nảy sinh, nó không chỉ có chấp nhận, thích ứng, mà còn có xu hướng chống lại, để tự khẳng định. Nay là lúc con người không phải là một thực thể quá cứng, có độ ổn định cao như người ta vẫn tưởng. Mà ngược lại, nhiều khi nó hiện ra lung linh kỳ ảo, lúc thế này và lúc thế khác, rất khó nắm bắt. Trong con nguời hầu như bao giờ cũng chứa chất những tiềm năng không bao giờ được hiện thực hoá đầy đủ. Giữa con người mà ta mong muốn trình diễn với chung quanh và con người mà ta trở thành, luôn luôn có một khoảng cách. Sở dĩ như vậy, một phần là vì không phải trong ta chỉ có con người ý thức, mà còn có vô thức, chính nó xui khiến, làm cho chúng ta ăn nói hoạt động tới mức bản thân ta cũng bỡ ngỡ tưởng là ai khác.

Chắc nhiều nguời đã biết rằng những quan niệm này nảy sinh từ sự gợi ý của các ngành khoa học như sinh học hiện đại, vật lý lượng tử, hoặc từ quá trình nghiên  cứu của những nhà khoa học nhân văn như S. Freud, M.Bakhtin. Có thể nói đồng thời với việc các nhà khoa học công bố các phát minh nói trên, nhiều nhà văn lớn của thế kỷ XX như M. Proust, F. Kafka, W. Faulkner, E. Hemingway… đã thể nghiệm và trình bày trong tác phẩm những quan niệm mới mẻ tương tự về con người và rồi trước sau nó đã tác động tới giới nghiên cứu và phê bình văn học. Phải thú thực là tiếp xúc với các tư tưởng ấy tôi thấy chúng rất hấp dẫn. Mà điều hấp dẫn nhất, là chúng đúng với thực tế đời sống, đúng với những con người mà hàng ngày tôi vẫn gặp. Trong phạm vi hạn hẹp của tài năng và sức lực vốn có, tôi cố gắng áp dụng một phần những quan niệm ấy vào công việc. Bởi tin rằng một nhà văn không bao giờ được khơi cạn, tôi thường vẫn suy nghĩ về những tác giả đã từng được nghiên cứu nhiều (loại như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, hoặc lùi về trước, Hồ Xuân Hương, Tú Xương) những mong tìm ra những khía cạnh mà chưa ai nói tới. Riêng đối với các tác giả đương đại, những Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh v,v… thì một nguyên tắc chủ đạo chi phối tôi khi nghiên cứu và viết, đấy là chỉ ra rằng con người họ không hoàn toàn như họ muốn, mà khi hiện ra trong tác phẩm, nó có nhiều khía cạnh khác có thể chính họ cũng không ngờ tới. Có lần Nguyễn Huy Thiệp than thở rằng công việc viết văn phức tạp nhọc nhằn, lại buồn tẻ nữa, tôi đã nói ngay rằng anh nhầm, nếu không nghiệm thấy sung suớng, thì làm sao viết được như vậy? Hoặc nghe Trần Đăng Khoa tỏ ý khiêm tốn và nhắc đi nhắc lại rằng mình chỉ là một gã vô tích sự, bao giờ tôi cũng khâm phục là sao anh có thể đóng kịch tài đến vậy, trong khi xoa đầu không thiếu một ai trong văn giới? Có người bảo tôi trong trường hợp này là lật tẩy đồng nghiệp, tôi không dám chối, chỉ nghĩ, trong mỗi cá nhân thường vẫn có những con người khác nhau cùng tồn tại và việc chỉ ra những con người ấy ở mỗi tác giả là cần thiết, là đúng tinh thần của văn học và khoa học, miễn công việc được làm một cách thận trọng. Do đặc điểm riêng trong việc hành nghề (không phải công tác ở một đơn vị nghiên cứu mà thực ra là một người lao động tự do), tôi viết có phần hơi lan man về đủ các loại nhà văn khác nhau, song vẫn tin rằng chẳng những trong bút pháp và giọng điệu, mà cả trong quan niệm về con người, ở tôi vẫn có một sự nhất trí. Còn đối với bạn  đọc, những gì tôi viết ra chỉ là một sự gợi ý: từ các trang viết của tôi, bạn đọc sẽ đi tiếp tới những suy nghĩ mới.

V

Trong tiếng Việt, chữ chơi thường mang một ý nghĩa không được hay lắm. Người ta lấy chơi để đối lập với sự chăm chỉ (làm chơi ăn thật), sự đứng đắn (nói chơi) và cho rằng hoạt động của con người ở đây chẳng có nguyên tắc, thậm chí cũng chẳng cần đến sự cố gắng nào cả (dễ như chơi). Hình như chỉ có một lần, người xưa nói rằng chơi là cả một nỗ lực có định hướng – nghề chơi cũng lắm công phu – Nguyễn Du. Trong khi ấy, thì trong các ngôn ngữ phương Tây, và trong cách hiểu của họ, chơi thường được xem như một công việc nghiêm túc. Trẻ con chơi là một cách để học sống, học suy nghĩ. Đến khi trở thành người lớn rồi, thì “đám trẻ con” hôm qua mãi mãi vẫn còn trong họ. Trong việc nhìn đời, trong việc ứng xử, họ luôn luôn tìm cách khẳng định tự do của mình, sự có mặt của mình, và muốn thoát ra khỏi mọi lề thói quen thuộc. đã có cả một lý thuyết, mang tên lý thuyết trò chơi ra đời, trong đó quan niệm chơi là tìm ra những quyết định mới trong môi trường của những điều kiện đã quy định; trò chơi ở đây không đối lập với sự nghiêm túc, mà chỉ đối lập với những đầu óc đơn giản, khô cứng. Một điều chắc chắn nữa: các cuộc chơi thường không tẻ nhạt, mà bao giờ cũng hứa hẹn một sự thú vị, khiến cho người trong cuộc tìm thấy ở đây một sự thúc đẩy lớn nhiều khi giúp họ vượt hẳn lên so với sức lực vốn có. Có lẽ vì chơi có nhiều ý nghĩa đến vậy, nên chẳng những ở phương Tây mà ngay ở phương Đông, không phải chỉ con người hiện đại, mà cả con người thời xưa cũng không xa lạ với nó. Trong Tuỳ viên thi thoại Viên Mai từng viết: “hễ làm người thì quý thẳng mà làm thơ văn thì quý cong” là với ý này. Thánh Thán còn nói rõ hơn: Trước khi rao to lên rằng bình luận Mái Tây chỉ vì “muốn làm duyên với người đời sau”, ông cũng để một đoạn trong lời tựa nói về sự hấp dẫn của trò chơi. Ông bảo, sở dĩ cho in vở Mái Tây chẳng qua là để đỡ buồn” trong lúc không có cách gì chơi”, đành thử “tuỳ ý tự tìm cách chơi thế mà thôi” Ông hoàn toàn có ý thức về những phóng túng trong hành động can thiệp quá sâu vào tác phẩm. “Không phải tôi soạn ra, tôi ngâm chơi. Không phải tôi ngâm lên, tôi nghe chơi. Không phải tôi nghe xong, tôi khoa chân nhảy chơi, giang tay múa chơi”. Khi cái việc gọi bằng trò chơi ở đây bao gồm cả sự đau đớn, cả nước mắt (“Nào có phải tôi tha thiết khóc người xưa, đó lại là một cách chơi của tôi”), liệu ai còn dám nói Thánh Thán đã dễ dãi trong hành động của mình? Không, ông đã đặt vào đây tất cả tâm huyết làm người, cũng như tài năng và bản lĩnh của một nghệ sĩ lớn!

Về phần mình, không phải ngay từ đầu tôi đã có biết tới các lý thuyết và những lời ca ngợi có liên quan đến trò chơi nói trên, quả thực trong tôi lúc ấy chỉ có một nhu cầu tha thiết là cố làm cho những trang viết của mình thoát khỏi sự tẻ nhạt. Và rồi những tìm tòi nho nhỏ cứ đến một cách tự phát. Chẳng hạn một lần, tôi chợt nghĩ ra một cách viết vui vui là tiến hành những cuộc phỏng vấn tưởng tượng đối với Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Đà, Xuân Diệu, Nam Cao v.v… để qua bài viết, hình ảnh họ có dịp hiện lên một cách sinh động; sau mới nghĩ rằng đó chẳng qua cũng là một trò ngẫu hứng, tuỳ sức mà có thể tiến hành trong một phạm vi thích hợp. Từ những thể nghiệm về viết đối thoại, tôi nhận ra một điều: các bài viết phê bình thường có một giọng đều đều từ đầu đến cuối, nhất là nhiều khi lại là giọng giáo huấn, nên dễ tẻ. Đồng thời với việc cố tránh để không ra vẻ dạy đời (điều này nằm trong quan niệm sâu xa sẵn có ở con người mình, chứ không phải giả vờ mà được), tôi cũng thích thú tìm cách tạo ra trong bài phê bình những giọng khác nhau, có khi vừa trình bày điều đã nghĩ, vừa thử đứng tách ra bác lại những suy nghĩ ấy. Về mặt hình thức, tôi ao ước các bài viết và nhất là các quyển sách trở nên một thứ nhạc nhiều bè, có đoạn dùng con số thống kê, có đoạn lý luận chặt chẽ, có đoạn tự cho phép mình lui tới một chút, để ngả sang giọng trữ tình (chắc chắn là phải rất hạn chế, vì dễ trở thành bi luỵ theo kiểu cải lương!) Tôi thành thực tin rằng, nếu trong muôn một, người viết phê bình trong công trình của mình lại tạo ra được một cảm giác hội hè, thì đó là cả một điều thú vị, không những cho bạn đọc, mà  còn cho chính tác giả nữa. Trên nguyên tắc, khi nói rằng phê bình nên thuộc về văn học trước khi thuộc về khoa học, chúng ta đã giả định một sự thông thoáng, nhẹ nhõm dễ hấp thụ của các bài viết. Huống chi là với bạn đọc nước ta, mà trong thưởng thức thường ngại những sự tự biện và sẵn sàng tránh xa các lối nói nặng nề, thì mọi cố gắng làm cho bài phê bình hoạt hơn vui hơn bao giờ cũng nên khuyến khích.

Chẳng những tìm cách viết từng bài cho hay mà trong cách tồn tại trong nghề nói chung, người ta cũng nên tìm cách thoát ra khỏi những lối mòn, và ở đây, ý thức về trò chơi cũng có thể đúng vai trò hướng dẫn. Mặc dù còn đang non yếu song công tác phê bình ở ta, nhiều lúc đã có tình trạng cát cứ, ai nghiên cứu tìm hiểu khu vực nào thì, nhân danh chuyên sâu, tìm cách biến lĩnh vực mình quản lý thành một thứ độc quyền. Không phải là tôi phản đối chuyên sâu, song có một việc tôi rất thích và nếu ai đó có làm cũng ngấm ngầm ủng hộ, ấy là chen ngang vào đề tài của người khác, đưa vào đó những ý kiến mới, cách nhìn mới. Nếu đã chuẩn bị cẩn thận, tôi dám làm thế mà nghĩ là nên làm thế, bởi trong sáng tạo, những yếu tố lạ nhiều khi lại có vai trò kích thích rất đáng kể. Hoặc trong phê bình, nhiều người thường chọn tác phẩm hay, hoặc tác giả sắc sảo để viết. Tôi chưa thể nghiệm bao nhiêu, song dự đoán thực ra việc viết về những quyển sách dở, những đời văn nhợt nhạt cũng rất thú vị, miễn là ở đó, bằng kinh nghiệm riêng, mình chỉ ra được cả những biểu hiện phong phú, lẫn sức bền, sức bám trụ kỳ lạ của cái nhạt trong một người viết bình thường. Đã gọi là trò chơi, thì những sáng kiến lặt vặt thường khi rất cần, cốt sao ta biết mang lại cho chúng một chút ý nghĩa cần thiết. Và hiệu quả của trò chơi thì lại phụ thuộc phần lớn vào nội lực của người trong cuộc.

VI

Một khu vực nữa luôn luôn đòi hỏi người viết phê bình đầu tư công sức vì chẳng những nó làm cho anh có được sự tự trọng cần thiết của một ngòi bút mà còn là một phương tiện hữu hiệu để chống lại sự tẻ nhạt- ấy là việc cấu tứ các ý tưởng trong bài, cùng là xử lý ngôn ngữ (sử dụng câu chữ).

Có một đặc điểm thường thấy ở những người có tư duy khô cứng trong khi nhận xét, đánh giá, hoặc thích lên lớp mọi người  – ấy là văn chương ở họ thường đơn điệu, cằn cỗi, thiếu sức sống. Nếu viết phê bình về một tác phẩm, họ thường kể lại một cách vụng về nội dung câu chuyện, lần lượt phân tích nhân vật, cuối cùng nói thêm một vài nhận xét có tính chất “vuốt đuôi” có liên quan đến nghệ thuật. Nếu viết về tác giả thì đến đoạn cuối thường thấy họ tỏ ý hy vọng rằng người được họ đề cập tới sẽ có những bước tiến mới trong thời gian tới! Thật khó lòng tìm thấy trong các bài viết loại này vẻ đột ngột của một ý tưởng tự nhiên, cũng như cái co duỗi bất ngờ của một cấu tứ sinh động. Có vẻ như tác giả không có thì giờ để suy nghĩ về hiệu quả của bài viết khi đến với bạn đọc, hoặc đơn giản hơn, không đếm xỉa đến bạn đọc, vì thế cả bài chỉ còn là một lời nói đều đều và thẳng đuột.

Ngôn ngữ trong một bài viết hoặc một cuốn sách phê bình cố nhiên không thể giống như trong tiểu thuyết hoặc tuỳ bút. ít ra nó không thể quá nhiều: hình dung từ và những chữ nghĩa mang nặng tính biểu cảm- đó là điều hẳn ai cũng biết. Thế nhưng, không thể lấy cớ vậy, rồi viết thế nào cũng được. Viết hay, viết chuẩn xác mà văn bản vẫn lắng đọng và đa nghĩa, là điều có thể làm được, ngay trong những luận văn thiên về trí tuệ. Hầu hết các trí thức chứ không phải chỉ có các nhà văn – nếu họ là những trí thức thực thụ- thường sử dụng ngôn ngữ thành thục và văn bản của họ dễ có được vẻ đẹp riêng, dù cái đẹp ở đây không hoàn toàn giống như cái đẹp trong văn chương. Về phía các nhà phê bình, chúng ta không quên khi đạt đến một trình độ nào đó một số người làm nghề này liền được coi như ngưòi viết văn chuyên nghiệp (ở Việt Nam là được kết nạp vào Hội Nhà văn). Nếu không có được những tư tưởng mà bản thân người viết cảm thấy tâm huyết và muốn chia sẻ với chung quanh, cũng như nếu không có được một ngôn ngữ riêng của mình, thì làm sao có thể nói là họ xứng đáng với cái danh hiệu mà họ thường hãnh diện đó?

Như ở đoạn đầu đã nói, nhiều khi bản thân tôi thấy như bị… sởn gai ốc, khi nghe một số nhà văn chê bai hạ nhục giới phê bình. Tuy nhiên, bình tĩnh nhìn lại, thì những lời chê ấy không phải hoàn toàn vô lý: nào lối khen chê nhập nhằng; nào cái gu thẩm định không chắc chắn; nào vẻ nhợt nhạt của nhân cách tác giả, đấy là căn bệnh không phải là không phổ biến. Và có một điều, nhiều nhà văn không nói ra, vì với họ đó là điều đương nhiên: các nhà phê bình viết không hấp dẫn, ngôn ngữ không có nhung có tuyết, không ra cái giọng của từng người. Đối với riêng tôi, những bất lực trên phương diện ngôn ngữ của một số đồng nghiệp và bạn bè, và cả những bất lực của chính mình nữa, là điều không thể chối cãi. Tôi nhớ lại văn phong của một vài cây bút phê bình đương đại: Ông A. viết theo kiểu xã hội học dung tục, hơi tí giở giọng “chỉnh”, quy kết người khác; vốn là một người rất ít rung động với vẻ đẹp văn chương, ông làm sao viết hay được? Ông B. thì văn lại phải cái tội không có mùi vị gì hết bao nhiêu khôn ngoan hóm hỉnh bộc lộ ra trong sự giao thiệp rồi, đến khi cầm bút thì câu chữ lểnh loảng, bài viết hiện ra như một thứ bãi lầy, bằng phẳng, đơn điệu, không biết đâu là đầu đâu là cuối, ai cũng chỉ sợ đọc vào không thoát ra nổi. Rồi anh C. viết đặc giọng văn Nga, nơi anh theo học nhiều năm, văn anh khúc chiết nhưng xa lạ với sự cảm nhận của người Việt. Đến văn anh D. thì lại ngả sang giọng chợ búa, thích dùng những cách nói hoa mỹ, thích thêm thắt mấy từ mới học được từ sách báo Sài Gòn trước 1975 cho nó có vẻ mùi mẫn, rút cục chỉ để lại ấn tượng về sự làm dáng mà vẫn không thoát khỏi vẻ đơn diệu. Những người này đối với tôi là một thứ thày phản diện: biết rằng mình cũng có lúc viết tương tự, tôi trông vào bài họ viết, để tìm cách thoát ra khỏi các cố tật. Trước khi đặt bút tôi cố tìm ra một cách cấu tư riêng, vừa phù hợp với nội dung phải trình bày, vừa giản dị tự nhiên. Đưa thêm nhiều chữ nghĩa của đời sống bình thường vào bài, tôi muốn làm cho văn bản bớt vẻ trừu tượng, tuy vẫn lo bảo đảm tính chính xác của ý tưởng. Riêng với các kiểu câu, tôi luôn luôn kiểm ta để tránh lặp đi lặp lại. Chắc chắn là tôi chưa làm được như ý mong muốn, nhưng hy vọng rằng sau những sự cố ý gượng gạo ban đầu, mọi việc sẽ mỗi ngày mỗi khá hơn một chút.

Có thể kể ra nhiều nhân tố khiến cho văn chương ở một số tác giả phê bình chưa thực hay (thiếu mới mẻ trong tư duy, thiếu vốn sống v.v…) nhưng có một yếu tố hàng đầu không nên bỏ qua, ấy là quan niệm của mỗi người về vẻ đẹp. Thật là ngược đời khi bảo một người viết phê bình tức là chuyên thẩm định cái hay cái đẹp trong những tác phẩm văn chương, mà trong mỹ cảm lại “có vấn đề”, song đây là chuyện có thực. Khi nhìn vào công việc của người làm phê bình có phải bao giờ chúng ta cũng xem đó là một lỗi lầm không thể tha thứ? Rộng hơn mà xét, thường chúng ta chỉ lặng lẽ bàn bạc nhận xét rồi ngầm hiểu với nhau, mà chưa bao giờ cũng thảo luận kỹ xem xu hướng phát triển của mỹ cảm nói chung hiện nay là gì, nó đang ảnh hưởng đến từng cá nhân ra sao. Tôi lấy một ví dụ: Nay là thời nhiều nguời thích nói tới sự giản dị, và sẵn sàng coi vẻ đẹp chỉ có một biểu hiện độc nhất là sự giản dị; đặt vào câu văn mà xét, chỉ nên viết những câu ngắn gọn một hai mệnh đề, ngoài ra, câu có nhiều mệnh đề chồng chéo, câu có nhiều chỗ rẽ ngang rẽ dọc, thường bị coi là phức tạp, không nên theo. Có biết đâu, trong thời hiện đại, cái đẹp có muôn vàn cách biểu hiện, giản dị là đẹp, nhưng có nhiều khi phải phức tạp mới đẹp, phức tạp ở đây tức là nhiều tầng nhiều lớp trong suy nghĩ, nó đồng nghĩa với sự giàu có, và mặc dù phức tạp, song không thể nói là không trong sáng. Tôi muốn lưu ý đến một số chi tiết có vẻ vụn vặt này bởi lẽ, dạng câu phức tạp thường xuất hiện với mật độ cao trong các bài phê bình và số người có nhu cầu sử dụng nó đông hơn hẳn, so với bên sáng tác.

VII

Giở nhiều cuốn tạp chí chuyên về văn học in ra ở nhiều nước Tây Âu khoảng vài chục năm gần đây, người ta thấy phê bình được dành cho một phần đất rộng rãi: trong khi thơ chỉ vẻn vẹn vài ba trang, văn xuôi hơn chục trang thì phê bình đủ loại chiếm tới trên trăm trang. Các tạp chí như vậy, đua nhau ra đời. Không chỉ dừng lại trên mặt báo, mà phê bình được in ra thành sách, và đây là một sự thực khó tin: Trong một tài liệu nghiên cứu về xuất bản ở Tây Đức trước đây, tôi đọc thấy người ta ghi nhận rằng cuốn sách có nội dung phê bình tác phẩm nào đó, lại có số in lớn hơn cả số in của cuốn sách gốc (!)

ở Việt Nam, tuy tình hình chưa đến mức độ ấy, song không khí phê bình đã khá sôi động theo cái nghĩa: nhiều người nhập cuộc. Các nhà văn coi viết phê bình là một nghề tay trái lúc nào tiện thì làm. Các nhà báo không chịu dừng lại ở công việc thông tin mà chuyển hẳn sang thẩm định. Có thể nói nay là lúc phê bình đã đạt  tới tình trạng gần như thơ, tức là không còn ranh giới giữa chuyên nghiệp và nghiệp dư, giữa người để cả đời làm với nguời tạt ngang tạt ngửa, rỗi rãi nên thử viết cho vui. Và người còn đang ngấp nghé vào nghề mà yếu bóng vía, thật khó có đủ can đảm để tính chuyện làm nghề một cách lâu dài: việc gì mà ai cũng làm được, thì làm cho xuất sắc, gây ấn tượng, cho nổi nênh lên được, lại thật là việc nhọc nhằn khốn khó.

Nhưng tôi cho rằng chính đây lại là một thức thách thức thú vị mà một số người muốn chấp nhận vì tìm thấy ở đó những sự hấp dẫn.

Các nhà nghiên cứu lịch sử hội hoạ thường kể một mẩu chuyện nhỏ có liên quan đến P. Picasso: ông không chỉ là người biết làm ra cái đẹp, mà còn là người có con mắt tinh đời, nhìn ra cái đáng quý trong cái tầm thường, và làm được một việc hơn người là mang lại vẻ đẹp, mang lại sức sống cho những cái mà người khác cho là xấu xí cổ lỗ, và bỏ qua không để ý. Nhờ có ông mà làng gốm Vallauris trở thành một địa điểm nổi tiếng: ông đã đưa gốm Valllauris vào đời sống mỹ thuật hiện đại!

Có thể bảo đây là một sự liên hệ hơi gượng gạo, nhưng quả thật tôi thường tìm thấy ở câu chuyện này một lời khích lệ: Phải biết tìm ra những điều thú vị ở những cái tưởng như nhàm chán. Và dù phê bình là một công việc khó nổi lên được, song không có nghĩa là ở đây cá mè một lứa ai cũng như ai. Trong sự hỗn độn, nhiễu, pha tạp, một số nhà văn và bạn đọc vẫn nhận ra được những tiếng nói đáng tin cậy. Sự công bằng càng khó tìm, thì khi được xác lập một cách vững chắc, nó lại càng đáng quý.

ở trên, tôi đã thử kể lại việc áp dụng – chắc chắn là còn thô thiển- quan niệm trò chơi vào công việc hành nghề. Được tháo tung một tác phẩm văn chương ra, rồi sắp xếp lại theo ý mình, chẳng thú vị lắm sao? Tôi như đứa trẻ sắp hình, từ những nguyên liệu sẵn có của người khác, sắp ra cái hình của mình, kể đã vui rồi. Huống chi ở đây còn có chuyện nhận thức đời sống. Tôi nhận ra cái phần ẩn giấu trong những người quen. Nếu biết làm việc, tôi có dịp hiểu rõ đến tận chân tơ kẽ tóc một hành động, một quá trình sáng tạo. Nhà văn Mỹ sang thăm Việt Nam 8-2000 là R. Butler có nói tới những rủi ro khi đi vào tâm hồn con người. Quả là có rủi ro thật, nhiều khi đang chờ đợi điều này, ta lại nhận ra một điều khác, chẳng ăn nhập với tưởng tượng của mình. Nhưng rủi ro nào mà chẳng bao hàm trong nó một ít thú vị, và nếu sợ rủi ro, ta chẳng bao giờ đạt tới sự khám phá bất ngờ. Từ hơn một thế kỷ trước, nhà văn Pháp A. France đã viết: “Phê bình cũng như triết học và sử học, là một loại tiểu thuyết đối với những đầu óc sáng suốt và muốn tìm hiểu thế giới chung quanh. Một nhà phê bình hấp dẫn là  người kể lại những cuộc phiêu lưu của tâm hồn mình qua tác phẩm”.

ấy là không kể, khi đã coi phê bình là một hoạt động văn học, và có sự nhạy cảm riêng với câu chữ, với hình thức tồn tại của tác phẩm, thì người viết phê bình cũng có niềm vui giống như mọi người cầm bút khác: niềm vui sáng tạo, niềm vui đã tạo ra một vật phẩm, mà trong trường hợp lý tưởng  “trước khi nó xuất hiện thì không ai hình dung ra, nhưng khi đã biết nó rồi thì không ai lại có thể từ chối nổi.”

Cuối cùng, tôi muốn nói tới một niềm vui mà riêng những người viết phê bình mới có. Thuở mới làm nghề, tức là hơn ba chục năm trước, tôi đã nhớ như chôn vào ruột những câu nói chẳng hay ho gì về nghề của mình. Một nhà văn Pháp, hình như là Flaubert thì phải: “Khi không sáng tác được nữa thì người ta quay ra làm phê bình, như khi không làm chiến sĩ được nữa thì đi làm gián điệp”. Nhà thơ Chế Lan Viên ở Việt Nam: “Nhà sáng tác học ba tháng đủ thành nhà phê bình, còn nhà phê bình học ba mươi năm cũng không thể sáng tác nổi.” Mới đây thôi, tình cờ giở một quyển sách, tôi lại tìm thấy câu này của M. Twain: “Phê bình, đó là cái nghề hèn hạ nhất trong các nghề”. Vâng, tôi biết mấy tác giả nói trên đều là những nhà văn lớn, nhưng trong trường hợp này tôi và những người cùng ý tưởng với tôi vẫn mơ tới ngày có thể chứng minh là họ nhầm. Khi ấy, một niềm vui nhỏ đã chờ đợi sẵn – niềm vui trút bỏ được một nỗi buồn từ lâu vốn ủ kín trong tâm trí.


Bình luận

  • NTNga  On Tháng Tư 26, 2017 at 8:14 sáng

    Bài viết của bác rất hay và sâu sắc, phản ánh được thực tế Văn học Việt Nam hiện nay. Đúng là lớp nhà văn già thì “dửng dưng” với nhà văn trẻ. Còn nhà văn trẻ thì ham mê nổi tiếng, ham mê danh vọng và tiền bạc. Họ mong làm sao viết được nhiều, bán được nhiều, bạn đọc biết đến nhiều….
    Tôi có viết một truyện dài và gửi đến hai nhà văn lớn tuổi, nhờ họ đọc và góp ý giúp tôi. Mới đầu họ hào hứng nói tôi gửi truyện để họ đọc và góp ý cho. Nhưng sau khi nghe tôi nói câu chuyện 200 trang, họ nhắn lại: “Gửi một chương thôi. Chỉ cần đọc một chương cũng biết em viết tốt hay không?”.
    Thời gian tôi gửi bản thảo truyện dài ấy đến NXB(10 NXB) thì 9 NXB từ chối(bao gồm gửi email và im lặng). Duy có 1 NXB nhận in truyện dài của tôi và biên tập còn điện thoại dặn tôi đừng gửi đi chỗ khác. Nhưng tôi chờ mãi đến 1 năm vẫn không thấy họ liên lạc lại, tôi điện thoại lại hỏi thì nhận được câu trả lời: “Giám đốc NXB mới nghỉ hưu, hiện Giám đốc mới lên thay, em hãy gửi lại bản thảo để Giám đốc mới thẩm định lại từ đầu”. Đây chính là câu chuyện viết văn và gửi NXB thật của một người viết trẻ như tôi. Và hiện tại, truyện dài của tôi vẫn nằm im lìm trong máy tình cá nhân của tôi.

  • Trịnh Đình Thắng  On Tháng Một 6, 2017 at 10:15 sáng

    Đọc câu cuối của bác, tôi rất chia sẻ. Tôi làm nghề giáo, đương nhiên được xem là nghề cao quý, nhưng vẫn không hết ám ảnh rằng không làm được gì nên mới làm nghề giáo. Nhưng cũng giống bác, tôi tin người thầy có thể không thể làm được, nhưng lại là người nhìn thấy và chỉ cho người ta cách làm… Cũng cần phải có ai đó làm việc cái việc chỉ trích việc người khác đang làm. Khó nhưng nếu khéo thì chắc sẽ làm được! Ủng hộ bác.

  • Tran Na  On Tháng Bảy 1, 2014 at 11:36 sáng

    Mình rất thích cách nhìn nhận vấn đề của bạn

  • Ẩn danh  On Tháng Tư 4, 2013 at 9:50 sáng

    Quá hay có khác

  • Tây Nguyên Xanh  On Tháng Sáu 9, 2012 at 3:10 sáng

    Bài viết hay và sâu sắc!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: