Ngoài trời lại có trời (phần 2)

PHẦN II

Tìm lại lòng yêu đời vô tư

trong văn học cổ điển

Sự  thân tình đã  giữ cuốn  sách

ở lại với  người đọc

Con đường đi tới tự do

Một điệu ru sâu lắng

Nhà văn của rất nhiều bạn đọc

Thích ứng với thế giới hiện đại

Tìm li lòng yêu đời vô tư

trong văn hc c đin

Tính đến cuối 2002 thì có dễ đến hơn hai năm  , một người Nga tôi quen , chị Tatiana Filimonova  , mới  có dịp đến Hà Nội công tác . Với  một người nước ngoài từng nhiều năm  nghiên cứu về  văn học Việt Nam , những chuyến đi như thế này là mải miết lắm , có bao nhiêu việc phải làm , nào đọc thêm những tác phẩm mới in  mà ở bên Moskva không thể tìm , nào gặp gỡ những người quen cũ ( chị  rất mê Nguyễn Huy Thiệp và thường coi việc  trò chuyện với tác giả Tướng v hưu là một niềm vui  riêng chỉ Hà Nội mới có ) . Vậy mà có lần khi tôi ngẫu nhiên hỏi Filimonova  mấy hôm nay đọc gì , thì  chị thành thật cho hay  :

–Tối  tối ,  tôi đọc lại bản tiếng Nga cuốn Kiêu hãnh và định kiến .

Nhìn nét mặt tôi — có lẽ lúc đó  không giấu được cái vẻ ngớ ra không hiểu của mình–  Filimonova  nói thêm ;

—  Đấy là một tiểu thuyết Anh thế kỷ XIX , tác giả là Jane Austeen .

Quay trở về , tôi cứ vương vấn mãi về câu chuyện một người Nga , khi một mình làm việc trên mảnh đất  xa xôi tận  mãi Hà Nội , lại cảm thấy những vui buồn của mình được cảm thông qua một tiểu thuyết Anh viết từ gần hai thế kỷ trước .

Lâu nay thường  chúng  tôi  chỉ  lo đọc những gì có liên quan trực tiếp đến  đời sống  và công việc trước mắt của mình , chẳng hạn đến Nga thì lo đọc sách viết về Nga , sang Trung quốc  thì sục tìm các tài liệu có liên quan đến Trung quốc  . May lắm có thời gian rỗi thì  bảo nhau tìm những tác giả đang ăn khách đang được đồn thổi trong lớp bạn đọc nhạy cảm  , cốt để đừng có lạc lõng với thế giới đương đại .

Có thể tạm xem đó là hai đặc điểm trong  cách  thưởng thức văn chương của nhiều người , nó cũng là một bộ phận trong cái tạm gọi là phong cách sống của thời đại  .

Đọc cũng như ăn  , ta cốt  thiết thực , chỉ tiêu hoá được nhứng gì “tươi sống “  có liên quan ngay  tới nhu cầu trực tiếp  của mình  .

Được  hình thành từ một  cuộc sống chật vật khó khăn , cái sự thiết thực đó  vốn có  cái  lý riêng của nó  .

Song lâu dần nó  được đẩy lên  thành cách  sống cách nghĩ duy nhất và  đồng nghĩa với sự vụ lợi  . Nó làm nghèo chúng ta đi . Chúng ta dễ dàng  bỏ qua cả một gia tài văn chương quá khứ  mà mỗi người  biết rất ít . Cũng như hàng ngày  chúng ta  bỏ qua  những  vui buồn  hồn nhiên  pha chút hư vô toát lên từ  cái nhịp sống vốn có từ muôn đời của cả nhân loại .

Nhân việc đọc sách của một  người  Nga  tôi rút ra cho mình một vài suy nghĩ như vậy và  hôm nay  muốn chia sẻ  với bạn đọc . Tôi  nghĩ rằng dầu bận bịu  thế nào nữa , thỉnh thoảng chúng ta phải trở lại với văn học cổ điển của VN và thế giới. Trở lại với người xưa ( kể cả những người vốn xa lạ với ta trong không gian sinh sống )  ,  nhiều khi lại là một con đường  ngắn nhất để đi vào  bản chất con người  nói chung , cho tới  bao người đang sống ngay bên cạnh ta hôm nay nói riêng  . Có thể nói  ,với văn học cổ điển , ta sẽ hiểu  và yêu thêm cuộc đời này . Ta sẽ biết  vượt lên trên cái ồn ào náo động đầy giả tạo chung  quanh để sống thanh thản hơn tự nhiên hơn  .

Trong  bài viết in tiếp sau đây , dịch giả cuốn sách  sẽ  giới thiệu  đầy đủ những điều cần biết  về cuốn sách các bạn sẽ đọc. Tôi chỉ lưu ý thêm là có lẽ lâu nay vì sợ văn học Anh ít quen biết ở VN , nhiều tài liệu có tính chất cẩm nang , ví dụ  cuốn Nhng tác phm ln ca văn chương thế gii không  có bản tóm tắt Kiêu hãnh và định kiến . Chứ  theo chỗ tôi thử đối chiếu , trong các bản gốc tiếng Anh mà Nhng tác phm ln ca văn chương thế gii dựa vào để biên soạn  , cuốn tiểu thuyết của Jane Austeen vẫn được nhắc nhở tới , có thể nói là đặt ngang hàng với  các  kiệt tác  cỡ như Đỏđen, Bà Bovary , Bá tước Monte Cristo , Chiến tranh và hoà bình v..v.. Và gần đây nhất một tờ báo đưa tin trong cuộc bình chọn về các tiểu  thuyết hay nhất viết bằng tiếng Anh  do các tác giả  nữ viết , Kiêu hãnh và định kiến được  xếp đầu tiên  , tức là vượt trên cả  các tác phẩm cổ  điển như Jane Eyre của Charlotte Bronte , Đỉnh gió hú của Emily Bronte , lẫn  tập truyện viết về cậu bé phù thuỷ  Harry Potterr  của nhà văn đương đại rất  ăn khách J.K. Rowling  ( báo Th thao và văn hoá 16-5-2003 ) .

S thân tình đã  gi cun  sách

li vi  người đọc

( Thử tìm hiểu sự hấp dẫn lâu dài

của  BUỒN ƠI CHÀO NHÉ )  

Câu chuyện trong Bun ơi chào nhé xoay quanh một ít bi kịch nho nhỏ trong tâm lý của một cô gái ở tuổi mới lớn  . Thường xuyên nghĩ về mình cũng có nghĩa  là thường xuyên cô phải đối mặt với đời để ít nhiều  tìm cách trả lời cho những câu hỏi muôn đời : đời là gì , là buông trôi đến đâu thì đến , hay là đi theo những khuôn khổ đã được xã hội quy định ?  Mình có quyền gì và mình nên sống như thế nào ?

Nếu như trong một số tác phẩm cổ điển , những vấn đề đó thường được đặt vào khung cảnh rộng lớn ,  khi con người phải đối mặt với những tình thế quyết liệt ( như đọc văn học Nga ,văn học Pháp chúng ta vẫn gặp ) thì ở đây trong Bun ơi chào nhé , nó được đặt vào một khung cảnh chật hẹp hơn nhiều : ít ngày  nghỉ hè của hai cha con nhà nọ . Rồi tấn bi kịch xoàng xĩnh , bi kịch của một mối tình tay ba  , cùng là trò chơi của sự trả thù ngẫu hứng …

Có điều  qua đây , con người hiện đại vẫn hiện ra với đủ chiều cạnh của nó . Cuộc sống  ở một nước như nước Pháp thế kỷ XX đảm bảo cho các nhân vật  một cuộc sống khá trưởng giả . Nhưng mỗi người vẫn  bộc lộ những vụng dại trong  trình độ làm người của mình . Không phải ngẫu nhiên trong con mắt của cô con gái Cecil , ông bố Raymond chỉ  được  gọi là một đứa trẻ lớn xác . Sự thư thái bình tâm trong đời sống  của ông chẳng qua là một trò lẩn tránh . Còn  cô gái , luôn luôn cô cảm thấy mình lẽ ra phải sống khác mà không sao khác nổi . “Tôi hút thuốc nhiều ,tôi thấy mình suy đồi  và điều này làm tôi thích thú . Nhưng cái trò chơi ấy không đủ dể lừa phỉnh tôi : Tôi vẫn buồn bã lúng túng .” . Cuộc sống trôi qua dang dở , không biết tại sao ,và rồi sẽ đi đến đâu — như xưa nay nó vốn vậy .

Phải nhận Bun ơi chào nhé của Francois Sagan là  một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử văn học : Ngay sau khi ra đời , tác phẩm được một giải thưởng lớn của Pháp ,và cũng từ đây , tác giả trở thành một nhà văn chuyên nghiệp . Nên  lưu ý thêm là  về sau F.Sagan  còn cho in nhiều cuốn tiểu thuyết khác và kịch của bà cũng thường được dựng ở nhiều nhà hát , song trong sự nghiệp của  bà , cuốn truyện đầu tay vẫn là một cái gì không thể thay thế được .Trong khi các nhà nghiên cứu văn học  chỉ viết về bà một cách sơ sài , thì họ lại quên không nổi Bun ơi chào nhé . Chẳng hạn hãy  nhìn vào  Lch s văn hc Pháp của Xavier Darcos , một cuốn sách mang tính cách phác hoạ toàn cảnh với khá nhiều bản thống kê . Khi xem xét các tiêu đim chính tr văn hc thế kỷ XX  theo từng năm một , nhà nghiên cứu đề ra nguyên tắc là  chỉ lựa ra mỗi năm một hai cuốn sách .Ví dụ năm 1948 kể Văn chương là gì của Satre ,  năm 1952 kể Trong khi ch Godo của Beckett , năm 1959 Elsa của Aragon. Vậy mà năm 1954 tác phẩm  được kể chính là cuốn sách mỏng mảnh  của Sagan .

Tại sao Bun ơi chào nhé may mắn  như vậy ? Trước tiên có vẻ như  nó rất “vừa miệng “ đối với đông đảo bạn đọc . Vẻ ngoài ngắn gọn đơn sơ , song  nó đạt tới cái thanh nhã  tinh tế của hình thức .Cốt truyện chặt chẽ . Các lớp lang nối tiếp một cách tự nhiên , không có phân đoạn nào thừa .  Rất nhiều tìm tòi của văn xuôi thế kỷ XX đã được  tiêu hoá  để sử dụng đến mức thuần thục .Và trong khi  để lộ vẻ duyên dáng trong bút pháp , tác giả không làm cho người ta cảm thấy phải nỗ lực quá sức .

Theo nghĩa này , có thể nói rằng trong phạm vi một ít chữ nghĩa hạn hẹp, F.Sagan thực đã làm được cái việc khó khăn là biết khéo léo thu hút  cái phần tinh hoa trong  những tìm tòi đương thời trên phương diện tinh thần ; ở đây những tư tưởng của Sartre và Camus , những tư tưởng hiện sinh hấp dẫn một thời , có dịp hiện ra trong cái dáng vẻ gần gũi với mọi người . Các nhân vật trong sách đã sống những tư tưởng ấy như là bản năng tự nhiên  . Và bởi khi đứng giữa một bên là cái rắc rối khô khan của tư tưởng thuần tuý và bên kia là  vẻ lờ mờ cuốn hút của tiểu thuyết , những người bình thường bao giờ cũng nghiêng về cái thứ hai , cho nên những cuốn sách xinh xắn như Bun ơI chào nhé mới có lý do để tồn tại  .

Lý do trên đây còn có thể dùng để cắt nghĩa sự phổ biến của tác phẩm  ở một xã hội xa xôi  với tác giả như xã hội Việt Nam . Một tài liệu thống kê  cho thấy   ngay từ tháng 4-1958, một tạp chí lớn ở Sài Gòn , tạp chí Bách Khoa đã có một  bài giới thiệu  mang tên S mnh văn chương ca Francoise Sagan . Tiếp đó , nhiều tác phẩm của nhà văn được giới thiệu , trong đó nổi lên hàng đầu  là Bun ơi chào nhé . Có tới mấy bản dịch khác nhau cùng ra đời  và không chỉ một lần tác phẩm được in làm nhiều kỳ trên các tờ báo chuyên về văn học . Người ta đua nhau đọc . Chẳng những thế ,  người ta tìm thấy liên hệ giữa nhà văn Pháp với những cây bút nổi lên ở Sài gòn lúc đó  . Và T đin văn hc – một phát ngôn chính thức của giới nghiên cứu văn học Hà Nội – in ra năm 1984  có dành ít dòng để viết về Sagan . Mặc dầu  lúc ấy ,  tác phẩm  được dẫn ra như một hiện tượng  đáng phê phán  ( rằng nó chống lại truyền thống , nó nói quá nhiều về sự chán chường buông thả … ) song có điều lý thú là bản thân việc các nhà soạn T đin phải nói tới Sagan đã  là một sự khẳng định  . Các bản dịch vẫn được truyền tay, ngoài ra  người ta còn tìm đọc  qua nguyên bản tiếng Pháp , hoặc  bản dịch  tiếng Nga  . Và đến giờ đây , những năm đầu của thế kỷ XXI ,  cuốn truyện này  vẫn có cái duyên riêng của nó  : trong khi  các tác phẩm có tính chất kinh điển của các nhà văn bậc thày như Bun nôn , Người xa l ….hoặc cả Đi tìm thi gian đã mt dẫn người ta vào một thế giới mơ mộng , cả Chuyến đi đến tn cùng đêm ti đầy những tư tưởng độc ác , khinh bạc ,  chỉ được tiếp nhận  một cách dè dặt  —  thì Bun ơi chào nhé vẫn nổi lên ở sự gần gũi , dễ hiểu  với số đông bạn đọc ở các đô thị  ,  kể cả lớp già vừa qua khỏi chiến tranh lẫn lớp trẻ đằm mình trong mơ ước làm bạn với cả thế giới .

chương IV , phần hai , mà sau đây bạn đọc sẽ đọc , có cảnh  nhân vật quệt mãi không được một que diêm. Không cần suy diễn gì nhiều chúng ta đã thấy tác giả như muốn nói  con người nhiều khi rất yếu ớt và cuộc đời này thực ra là trĩu nặng thế nào đối với họ là như thế nào  ! Và nhân vật trong sách tự nhiên thành ra gần gũi với bất cứ ai : chúng ta yếu đuối , chúng ta  dễ phạm phải lỗi lầm  hơn rất nhiều  so với chúng ta vẫn tưởng . Sự thân tình vốn là yếu tố khiến nhiều thế hệ bạn đọc có thể nối tiếp nhau đến với một  tác phẩm . Sự thân tình ấy làm cho Bun ơi chào nhé gần như không bao giờ cũ .

Cái tên sách Bun ơi chào nhé nghe đều đều , rời rã  , như một sự chấp nhận  . Đây không phải lời chào tạm biệt mà là chào nhau nhận có quen biết nhau , và chắc rằng từ nay còn đi lại gặp gỡ nhau . Có thể xem những  tháng nghỉ hè của hai cha con nhà Cecil  là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đời mà nhiều độc giả đang trải nghiệm  : Kiếp nhân sinh với họ rút cuộc vẫn là một cái gì không hiểu nổi . Nó vừa thú vị vừa nhàm chán và dù đã bước sang thời của văn minh hiện đại , người ta vẫn không thể  làm chủ được nó . Nhưng chính vì thế chúng ta luôn cần đến  sự có mặt của đồng loại . Cần đến văn chương, cần đến thơ ca ,  tiểu thuyết – cả những kiệt tác đầy những tư tưởng sâu sắc , phải nghiền ngẫm hàng tuần hàng tháng , lẫn những cuốn truyện có thể đọc trong một buổi trưa ,  như Bun ơi chào nhé .

Nhà văn ca rt nhiu bn đọc (*)

Trong một cuốn sách nửa tự truyện, nửa kinh nghiệm sáng tác mang tên Tng kết, viết năm đã 64 tuổi (1938),  Somerset Maugham kể:  Thoạt đầu, khi mới bước vào nghề văn, ông cũng viết truyện ngắn, tập sách thứ ba của ông là một tập truyện ngắn, nhưng do quá kém, nên ông phải bỏ một dạo, quay sang viết kịch. Chỉ sau khi thành đạt trong sân khấu, ông mới quay trở lại với thể tài này. May thay, ông không phải từ giã mà đi nữa. Truyện ông viết in đều trên báo, rồi lại tập hợp thành sách, đâu đến chục tập. Sau hết, ông tự chọn ra những truyện xuất sắc hơn cả, làm thành ba tập và cho in đi in lại nhiều lần. Một người bạn gọi đùa ông là Maupassant của Anh. Lâu dần, cách gọi ấy được công nhận và lưu lại trong các sách lịch sử văn học.

Đứng về mặt nghệ thuật viết truyện, Maugham không phải là người mang lại một cách viết mới như Edgar Poe, E. Hoffmann với các loại truyện kỳ dị, huyền ảo, hoặc Tchékhov với loại truyện tâm lý mà chúng ta đã biết. Như Maugham tự nhận , ông chỉ làm cái việc mà bao thế hệ đã làm là kể chuyện , ông không thể quan niệm truyện ngắn lại thiếu cốt truyện. “Nếu hoạ sĩ suy nghĩ bằng đường nét và màu sắc, thì nhà văn suy nghĩ bằng cốt truyện”. “Cốt truyện là phương tiện hướng dẫn sự suy nghĩ của người đọc. Và chỉ làm chủ được sự suy nghĩ của người đọc, tác giả mới dẫn được họ từ trang này tới trang khác, và gợi nên trong họ những tâm trạng cùng những ấn tượng cần thiết:” – ông bảo vậy. Thời ông sống là thời mà văn học châu Âu  khá bận rộn với những tìm tòi trong ngôn ngữ văn xuôi. Ở văn học Anh, đó là V. Woolf , J. Joyce ; nếu kể cả văn học Pháp mà Maugham rất thạo, thì còn phải nói đến M. Proust với cuốn tiểu thuyết nhiều tập Đi tìm thi gian đã mt. Nhưng những bận rộn ấy không lây được đến Maugham. Cách viết của ông bao giờ cũng khuôn thước, cổ điển, mà lại tự nhiên “không bày tỏ một dấu hiệu nào của sự cố gắng”. Người đạt đến một lối hành văn lý tưởng, theo ông là nhà văn Pháp Colette với lối diễn tả “dễ dàng đến nỗi bạn không thể ép mình tin rằng bà đã bị một chút khó khăn bối rối nào về nó”. Có điều, cũng như Colette – người thường mất cả buổi sáng để viết một trang – sự trong sáng “có vẻ như một sự tình cờ nhờ may mắn mà có” ở văn Maugham thật ra cũng là sự trong sáng mà ông phải nỗ lực rất nhiều mới đạt tới. Có lẽ không có gì quá lời trong một nhận xét mà một đồng nghiệp đã dành cho Maugham: “Ông tính toán đến từng từ. Trong truyện của ông, các tính cách, các hoàn cảnh, thậm chí một cảnh nhỏ thôi, đều ở đúng chỗ của mình”.

Là những sáng tác ra đời đầu thế kỷ XX , cố nhiên, truyện ngắn của Maugham mang trong nó những dấu vết của thời đại bấy giờ. Kỹ thuật truyền thanh lúc ấy mới phôi thai, điện ảnh còn đang thể nghiệm, và truyền hình thì chưa ai có ý niệm gì cả. Tác phẩm văn xuôi thường nặng chất tả, kể, thông tin. Nhất là trong trường hợp Maugham, ông hay viết về những vùng ở xa nước Anh, phía Nam châu Âu, hoặc các đảo ở Thái Bình Dương và xa mãi tận bên Mỹ. Cho nên, màu sắc du ký ở những thiên truyện như Mt người có lương tâm, Chàng đỏ… rất rõ. Nói chung, nhịp điệu của đời sống trong truyện Maugham – nhịp nghĩ của con người, tốc độ biến chuyển của câu chuyện – thường chậm, nhiều chỗ tác giả dừng lại quá tỉ mỉ, từ đó, một kết quả tự nhiên phải có là các truyện hơi dài, không có cái đột ngột bất ngờ đôi khi như là vô lý ở truyện ngắn hiện đại (ví dụ như ở Moravia hoặc các tác giả truyện ngắn Mỹ). Tuy nhiên do đạt tới trình độ chín muồi trong nghệ thuật viết truyện (đặc biệt là nghệ thuật tả, kể và đối thoại), nhiều truyện ngắn Maugham hiện nay vẫn được coi là những mẫu mực hoàn chỉnh mà bất cứ ai muốn đạt tới những thành tựu mới trong thể tài này phải để mắt tới; ngày nay chúng ta có thể viết khác, khác nhiều, nhưng viết hay hơn thế, quả thật là chuyện rất khó.

(*) Somerset Maugham ( 18 74 – 1965 )

*

Trong lịch sử văn học Anh, phần viết về cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tên tuổi Maugham thường được đặt bên cạnh G. B. Shaw, J.Galsworthy, H.G. Wells, E.M. Forster tức những tác giả cự phách trong dòng hiện thực phê phán. Bản thân Maugham lại rất khâm phục Balzac, Tolstoi, Dostoievski… và từng viết riêng một cuốn sách về các bậc thầy này. Một chút ảnh hưởng nào đó của các quan điểm hiện đại chủ nghĩa có vào tác phẩm của ông, nhưng không thể thay đổi các đường hướng chính mà ông chủ trương. Giữa những điều Maugham muốn nói và cách viết của ông, như ở phần trên chúng tôi vừa thử phác qua, có một sự nhất quán đáng kể. Âu cũng là thêm một ví dụ về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, mà chúng ta vẫn nói.

Để hiểu tư tưởng của Maugham, thường thường người ta dẫn ra cuốn tiểu thuyết giàu chất tự truyện Kiếp người (dịch sát hơn: Gánh nng ca dc vng con người, 1915). Đó là câu chuyện của một thanh niên bước vào đời, với tất cả những lầm lẫn nghiệp chướng tự mình gây ra cho mình, cùng không biết bao nhiêu đau khổ dằn vặt do hoàn cảnh áp đặt,  tóm lại là một lối vào đời không dễ dàng chút nào. Có điều Kiếp người – đây đó đã có người coi như một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất của văn học thế giới đầu thế kỷ XX  — không mang tư tưởng bi quan. Nó nói nhiều đến những cái tầm thường nhỏ mọn của con người, nhưng vẫn bao hàm một sự thông cảm và một lời kêu gọi: hãy sống cho lương thiện, rồi cuộc đời sẽ công bằng hơn rất nhiều so với điều chúng ta vẫn tưởng.

Đấy cũng là tư tưởng quán xuyến trong sáng tác của Maugham, mà một số truyện tiêu biểu được chọn in trong bản dịch tiếng Việt hôm nay.

Trong phần mở đầu thiên truyện có tính cách luận đề mang tên Mt người có lương tâm, tác giả từng nói rõ quan niệm của mình: “Người ta không bao giờ biết hết mọi thứ cần biết về bản chất của con người. Người ta chỉ dám chắc là nó, cái bản chất ấy, sẽ không bao giờ thôi dành cho người khác một sự bất ngờ”.  Ý tưởng quả thật không mới, song điều thú vị là những trường hợp Maugham lấy ra minh hoạ đều rất hay, chứng tỏ ông đã sống với những ý tưởng ấy rất sâu sắc, y như chính ông đã phát hiện ra chúng. Đằng sau của chuyện vui vui của một người đàn bà mấy lần lấy chồng như Jane, tác giả dường như muốn bảo chúng ta: mọi lối nhìn một chiều về con người đều dễ bị thực tế bẻ gãy. Sở dĩ cuộc đời này thú vị vì nó hàm chứa nhiều khả năng tiềm ẩn mà chỉ trong những hoàn cảnh nhất định, mới có dịp bộc lộ. Cũng cùng ý nghĩa như JaneNgười coi giáo đường, câu chuyện về một cuộc đời bất ngờ, ngẫu nhiên mà cũng rất hợp lý ở xã hội tư bản. Có lẽ chính vì chứa đựng một ý tưởng lành mạnh như trên, nên Mt người có lương tâm – thiên truyện cắt nghĩa tâm lý ngoắt ngoéo dẫn đến tội ác trong một vụ án hình sự khá nặng, cụ thể là tội giết vợ – – vẫn có cái vẻ hợp lý của nó. Trong khi lưu ý chúng ta là nhiều hành động ta làm hàng ngày thoạt nhìn rất vô nghĩa và phải gợi mở tỉ mỉ mới lý giải nổi , cụ thể hơn, trong khi nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn soát xét lại mọi ý nghĩ, hành động của mình, tác phẩm vẫn mở ra một viễn cảnh cảm động, khiến chúng ta vững tin ở lương tri con người, ở cuộc sống.

Một điều dễ nhận là trong truyện ngắn Maugham thường có những diễn biến bất ngờ, tuy nhiên kết cục đau xót như mọi chuyện đã đến với nhân vật trong K hưởng lc thật không ai dự đoán được trước. Hoá ra, khôn ngoan tính toán đến mấy, người ta cũng không thoát khỏi sự phán xử khắc nghiệt của đời sống – ấy là nói với những kẻ dùng sự tính toán để trốn đời, lười lĩnh. (Đây có lẽ là một trong những truyện bộc lộ rõ cách viết của Maugham mà có người đã nhận xét là đủ vị “lạnh lùng, giễu cợt , cay đắng, bồn chồn”). Kết luận rút ra: phải nhập thế, phải sống cho hết mình, còn sống ngày nào là còn phải chịu trách nhiệm về mình ngày ấy. Nhưng có một điều nữa theo Maugham, cũng cần phải nhớ, là hãy sống sao cho thoải mái, đừng có gì cay cú quá đáng: có nhiều sự việc, lúc nó xảy ra, ta tưởng có thể sướng vui đau khổ đến chết đi được; nhưng lùi ra xa một chút, đặt nó trong cả cuộc đời muôn ngàn phức tạp, lại thấy chả có ý nghĩa gì (Chàng Đỏ). Hơn thế nữa, đằng sau mấy chữ nim vui, hnh phúc, thật ra có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, cách sống của lớp người này đôi khi lại không thể chấp nhận với lớp người khác. (S sa ngã ca Eduard Banas ). Vì thiếu độ lượng, – thực chất là đạo đức giả – nên nhân vật chính trong Mưa quay cuồng trong một hành động vô nghĩa, cuối cùng sa vào một tình thế vừa hài hước, vừa bi thảm, và không còn mặt mũi nào sống trên đời này nữa. Trong số những lý do khiến cho Mưa trở thành một trong những tác tác phẩm hay nhất của Maugham (mười lần chuyển lên sân khấu, tám lần chuyển thành phim) có phần đóng góp của cái ý ngầm rất sâu sắc sau đây: khi thiển cận và mù quáng, lòng nhân từ (nhất là lòng nhân từ kiểu tôn giáo) có thể sinh ra đủ thứ độc đáo cay nghiệt ; bấy giờ nhân danh nhân từ, người ta có thể sa vào tội ác bất cứ lúc nào. Rồi sự trừng phạt sẽ tới theo những nẻo lối mà không một ai ngờ trước!

*

Sở dĩ ngòi bút của Maugham đến được với nhiều ý tưởng sâu sắc như trên, bởi lẽ ông là người từng trải, lịch lãm, đi nhiều biết rộng, và có phần chắc là ông đã rút đúc chúng từ chính cuộc đời mình, một cuộc đời cần mẫn lao tâm khổ tứ, và không thiếu chuyện ngang trái. Vốn gốc người Anh, nhưng cậu bé William  lại sinh ở Paris (Pháp). Tám tuổi, mẹ mất, mười tuổi bố mất, cậu phải quay về London, sống với người cậu và theo học ở một trường trung học nổi tiếng là hà khắc, để rồi khổ sở vì kém tiếng Anh và tật nói lắp. Mười ba tuổi, cậu bé vẫn hoàn toàn nhút nhát, lại thêm bệnh tật đi kèm: chớm lao và thiểu lực. Rồi Maugham ghi tên vào một trường Đại học ở Đức và về thực tập ở bệnh viện thánh Thomas nằm giữa khu vực nghèo nhất ở London. Ghi chép lại một ít kinh nghiệm bản thân tác giả đã sống những năm này, cuốn tiểu thuyết Liza vùng Lambert (1997) có thể được ghi nhận như thành công đầu tiên, khiến cho người y sĩ này không bao giờ theo đuổi y học mà chuyển hẳn sang nghề viết văn.

Trong lịch sử văn học không thiếu những trường hợp nhờ có một chút ảo tuởng nào đó, — tất nhiên bên cạnh đó cũng  có một chút  năng khiếu — , một nhà văn đã thành công; và cái ảo tưởng này như một cái bóng, suốt đời đi bên cạnh nhà văn ; chỉ vì có một tác dụng kích thích, nên nó, cái ảo tưởng ấy, mới có lý do tồn tại! Trường hợp của Maugham thì hoàn toàn trái ngược: luôn luôn ông tỉnh táo và nghiêm khắc nhìn nhận chính mình. Ông thích nói rõ cho mọi người biết rằng ở ông, phần tài hoa thiên bẩm không bao nhiêu, tất cả là do dụng công chăm chỉ mà có. “Tôi không sinh ra đã là nhà văn, tôi chỉ trở thành người làm nghề đó”. “Những gì bay bướm thú vị và một óc tưởng tượng phong phú mãnh liệt đều nằm ngoài khả năng của tôi”. Ông tự đánh giá mình: “Tôi ở vào hàng đầu của những nhà văn thuộc loại trung bình”. Có lẽ chỉ nhờ tỉnh táo, ông mới đủ sức bất chấp sự xô đẩy của thời thượng, để kiên trì một lối viết không một chút hoa mỹ mà ông tin là hợp với mình hơn cả. Lại cũng nhờ tỉnh táo, ông đã cả quyết từ bỏ lĩnh vực kịch (nơi mang lại cho ông tiền tài và danh vọng khiến bao người ghen tỵ) để chuyển sang lĩnh vực của tiểu thuyết và truyện ngắn (nơi ông có những tác phẩm ở lại với lịch sử văn học). Sau khi đã trở thành nhà văn già nhất và giàu nhất trong thời của mình, Maugham mất năm 1965, thọ 91 tuổi. Trường hợp của ông là một ví dụ, chứng tỏ người ta có thể viết văn, và viết hay nữa, mặc dù không phải thiên tài. Điều kiện thành công ở đây là có bản lĩnh, sáng suốt, nhạy cảm, cần mẫn chịu học, chịu viết.

12-1983.

Thích ng vi thế gii hin đại

(Moravia và các tập truyện ngắn)

Nhà văn ca đời thường.

Ngay từ nhỏ cậu bé Alberto (*) đã mắc chứng lao xương, phải nằm liệt một chỗ. Từ 9 đến 16 tuổi, cậu sống giữa một dưỡng đường trên núi cao. Bị cách ly khỏi hoàn cảnh bình thường, cậu chỉ còn cách làm bạn với sách vở. Tình thế  cô lập trong thế giới tật bệnh khiến Moravia sớm quen với cuộc sống trầm tư và lâu dần thói quen này trở nên những sở thích không dễ gì thay đổi.

Thời gian Moravia lớn lên là thời gian chế độ phát xít ở Ý nảy nở và hoành hành khá mạnh. Cũng như nhiều trí thức chân chính khác, Moravia nhìn thấy đấy là một chế độ áp bức con người và công khai biểu thị thái độ phản đối. Ông bị phiền hà rất nhiều về chuyện này. Sách ông bị cấm, nhiều lần ông phải viết dưới những tên hiệu giả. Thậm chí trong những năm cuối của cuộc Đại chiến thứ hai, ông phải lẩn trốn vào một vùng rừng núi “sống trong một chòi lợp tranh y như người thượng cổ. Rất cơ cực, nhưng thời kỳ này đã giúp ích không nhỏ cho sự phát triển bên trong của tôi”. Sau này, Moravia bảo vậy.

Đấy cũng là một phần những tư tưởng mà Moravia trình bày trong các sáng tác của mình.

Năm 1929, Nhng k th ơ, tiểu thuyết đầu tay của Moravia ra đời. Đằng sau câu chuyện lộn xộn trong một gia đình trưởng giả, nhà văn sớm vạch ra một căn bệnh chính của xã hội hiện đại : nó giả dối, nó che đậy rất nhiều ung nhọt bên trong. Những thói tật ấy len vào mọi mối quan hệ giữa người và người, làm hỏng cả những liên lạc mật thiết trong mỗi gia đình.

Từ năm 1930 đến 1945, Moravia tiếp tục cho in nhiều tiểu thuyết khác, trong đó có cuốn Hi hoá trang (1941) kể chuyện một nhà độc tài ở xứ Mehico. Nhưng vì sự ám chỉ nhà cầm quyền phát xít quá rõ, nên sách bị cấm, bị đốt và tác giả phải bỏ xứ đi lưu vong. Sau chiến tranh, danh tiếng của  Moravia càng nổi bật, với sự xuất hiện các cuốn Người đàn bà thành Rome (1947), S khinh b (1951) v.v..

Nhân vật chính trong Người đàn bà thành Rome là một gái điếm, tên gọi Adriana. Số phận của Adriana sở dĩ bi thảm, do chỗ mặc dù đã tìm ra mọi cách thoả hiệp, nhưng ngưòi đàn bà này – cũng như nhiều con người có lương tri khác – vẫn không sao tìm được chỗ đứng trong xã hội. Và càng đầu hàng , càng hoà mình vào , người ta càng cảm thấy xa lạ.

Đến truờng hợp S khinh b thì đây lại là câu chuyện cay đắng của một người thất bại, đã thất bại trong ý đồ giữ cho nghề nghiệp một sự trong sạch tối thiểu, lại thất bại cả trong ý hướng vươn tới hạnh phúc gia đình. Cũng như nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn khác của Moravia, tác phẩm dùng hình thức  tự thú, và có nhiều trang trữ tình, nhưng điều đó không làm giảm tính quyết liệt của câu chuyện.

“ Tôi muốn nói lên rằng trong xã hội tư bản, tiền bạc chi phối không những công việc làm ăn mà còn chi phối luôn cả những liên lạc tình cảm nữa, tiền bạc đầu độc mọi sự” . Những dự định đó của Moravia được thực hiện khá trọn vẹn trong  S khinh b. Vả chăng, đó không phải chỉ là một ý tưởng ngẫu nhiên nảy sinh mà là một quan niệm quán xuyến trong Moravia. Người ta từng có những lời lẽ vẻ như muốn phán quyết ông “Các tiểu thuyết của ông đưa ra một hình ảnh rất ác độc chua chát về cuộc thế”, “Các nhân vật của ông không bao giờ được hưởng lấy một giây hạnh phúc”. Đáp lại, Moravia bảo: “Tôi không có ý trưng ra hạnh phúc. Cái gì ở người khác chỉ là trong khoảnh khắc thì ở nhân vật tiểu thuyết, là cả cuộc đời họ”.

Ở trên, chúng ta có nói rằng, hồi trước 1945, để tránh sự lùng bắt của bọn phát xít, Moravia có thời gian trốn về một vùng rừng núi. Những kinh nghiệm mà ông thu thập trong thời gian này được ông đưa vào  một cuốn tiểu thuyết khác, khởi thảo ngay từ trong chến tranh và mãi 1957 mới hoàn thành, đó là cuốn Ciociara. Qua việc miêu tả quãng đời trôi nổi của hai mẹ con một người phụ nữ là Sedira (nhân vật dẫn truyện), Moravia muốn gợi lại cả những đau đớn giày vò mà nhân dân ý phải chịu trong những năm chiến tranh: một đời sống khốn khó, cơ cực, mọi người làm khổ nhau, hành hạ nhau, và những tâm hồn méo mó, bệnh hoạn, kết quả của những cơn lộng hành do các thế lực xã hội đen tối gây nên. Nhìn sự vật đúng như nó tồn tại, giữ lấy một cái nhìn tỉnh táo về đời sống, tiểu thuyết Ciociara đi rất gần với xu hướng tư tưởng của nhóm “tân hiện thực”, dù Moravia không ngả hẳn theo trào lưu đó.

Từ 1960 trở đi, Moravia còn viết một số tiểu thuyết khác: Bun chán (1960), S chú ý (1965), Tôi và hn ta (1971), Cuc sng bên trong (1978)… Thường thường đối tượng được nói tới trong tác phẩm của Moravia luân phiên đắp đổi nhau, cứ sau một cuốn sách viết về giới trí thức, lại một cuốn viết về các tầng lớp bình dân (viên chức, tiểu chủ, người buôn bán nhỏ…). Giới trí thức là tầng lớp xuất thân của Moravia (bố ông là một kiến trúc sư). Ông tìm thấy ở đấy những nhân vật của hoài nghi, những con người bị giằng giật giữa lương tâm và lý trí sáng suốt. Dù viết về tầng lớp nào, Moravia thường cũng nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh mà nó hình thành, cái hoàn cảnh luôn luôn khơi dậy ở nó ý muốn phản kháng, nhưng lại đã trở thành định mệnh khiến suốt đời, dù vùng vẫy mấy, con người đó vẫn không ra khỏi những tù túng mà hoàn cảnh áp đặt cho nó. Có lẽ vì lý do này mà người ta kêu Moravia là bi quan quá. Thực ra một Moravia bi quan luôn luôn bị một Moravia khác, nhân đạo và hiện thực chống đối lại. Vì ông tin ở con người, ông mới trở nên kiên trì và tỉnh táo như thế trong việc phản ánh cái thực tế đang bẻ quẹo con nguời. Còn một điểm nữa, người ta cũng hay trách Moravia là trong tác phẩm của ông, các nhân vật thường bị chi phối nhiều về tính dục (nhà thờ công giáo ở Ý đã xếp nhiều tiểu thuyết của ông vào loại cấm đọc), nhưng ông thì cho rằng “nguyên cớ chính là trong thế giới ngày nay, không còn mấy những giá trị chắc chắn, vững chãi”, nên “phải dựa vào các “sexy” như là một giá trị”. Gạt bỏ những hạn chế đó (đúng hơn, những cố tật gắn liền với xã hội  hiện đại ), có thể nói tác phẩm của Moravia đạt tới sự chân thực đáng kể. Sức mạnh của người nghệ sĩ ở Moravia trước hết là sức mạnh của sự khẳng định một lẽ sống vượt ra ngoài những gò bó máy móc, những khuôn thước giả dối. Tiểu thuyết của Moravia lại không chìm sâu vào những tìm tòi hình thức quá đáng, mà thường trong sáng trong cách miêu tả, kể chuyện và rất tinh tế trong các sắc thái tâm lý.

Người để vào  th truyn ngn nhiu tâm huyết .

Trong cả cuộc đời dài dặc của một ngòi bút văn xuôi, hiện tượng một nhà văn bên cạnh tiểu thuyết, thỉnh thoảng có “lỡ chân” tạt sang khu vực truyện ngắn, viết vài truyện đăng báo – hiện tượng ấy không hiếm trong các nhà văn thế kỷ XX. Lại cũng không hiếm là trường hợp có một thời gian nào đó, một nhà văn tự nhiên mê truyện ngắn, viết liên tiếp một loạt truyện làm thành một hai tập có giá trị, góp phần xứng đáng vào văn nghiệp của mình. Nhưng gắn bó với truyện ngắn một cách hết lòng như Moravia quả thật ít thấy. Ông kể: Có thời gian, trên một tờ báo lớn ở ý, tờ Corriere Della Sera, ông liên tiếp có truyện in, và cứ mở ra là người ta tìm ngay trang 3, để xem truyện ngắn của ông. Ngay từ trước chiến tranh ông đã cho in các tập Nhng mng tưởng ca anh lười (1940), Người tình bt hnh (1943), Epidemia (1944) sau chiến tranh các tập truyện lại kế tục ra mắt đều đặn hơn: Nhng mu chuyn thành Rôme (1957), Chđồ vt (1967), Mt cuc sng khác (1971), Thiên đường (1974)… Trong số các sáng tác này, Nhng mu chuyn thành Rome quả thực là một bước ngoặt. Sau khi được tặng một giải thuởng văn học (1954), nó được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau ở châu Âu. Từ đây, trong các Bách khoa toàn thư lớn, khi nói về Moravia, bên cạnh mấy chữ nhà văn, nhà báo, người ta không quên chua mấy chữ người viết truyện ngắn nổi tiếng.

Qua truyện ngắn của Moravia, người ta có thể bắt gặp mọi suy nghĩ của tác giả về cuộc đời của chính ông và mỗi người chúng ta đang sống. Ông viết đều đều về đủ chuyện, chung quanh những con người thành Rome mà ông hết sức quen thuộc. Phần lớn những truyện ngắn in trong Nhng mu chuyn thành Rome là câu chuyện do một người dân nào đó trong thành phố tự kể. Người thợ cắt tóc, anh hầu bàn, chàng lái xe, một nghệ sĩ nhiếp ảnh hạng ba hạng tư với chiếc máy ảnh cà tàng…, mỗi người đó một nghề mỗi cuộc đời một sắc thái, nhưng giữa họ vẫn có một nét chung: Thân phận họ là thân phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội. Cuộc đời không ưu đãi gì họ, sự kiếm sống không dễ dàng, cuộc vật lộn để có miếng ăn dường như đã thu hút toàn bộ tinh lực, khiến cho những vui buồn ở mỗi người đôi khi tầm thường thảm hại. Đây đúng là những con người bé nhỏ về mọi mặt.

Đứng về một số phương diện, truyện ngắn Moravia trong giai đoạn này là sự tiếp nối đúng đắn những truyền thống hiện thực và nhân đạo tốt đẹp, từ Bocacio, qua Manzoni, Verga… Trong việc đi vào mô tả những con người nhỏ bé, thông cảm với họ, người ta cũng bắt gặp sự gần gũi giữa Moravia  với một số nhà văn khác như Pratolini, hoặc các đạo diễn phim như De Sica, Viscolti, Fellinni…

Nhưng rồi cùng với sự phát triển của xã hội, từ những năm 60 trở đi, sau chủ đề “con người nhỏ bé”, một chủ đề khác ngày càng nổi rõ, và tìm thấy những biểu hiện độc đáo, đầy đặn trong các tập truyện ngắn của Moravia. Đó là chủ đề về sự tha hoá của con người trong xã hội tư bản, khả năng họ bị xã hội hoá đến mức biến thành những đồ vật. Như các nhà nghiên cứu xã hội tư bản hiện đại nhận xét: “Ách nô lệ có thể định nghĩa không phải bằng phục tùng, không phải bằng mức độ nặng nhẹ của công việc, mà chính là bằng các quy chế, công cụ, và nhất là bằng việc hạ thấp con người xuống tình trạng đồ vật – chính đấy mới là hình thức thuần tuý của nô dịch”.

Có thể nói, đó cũng là cái tinh thần tố cáo thấm sâu vào nhiều truyện ngắn của Moravia đã viết. Xã hội được nhất thể hoá tới mức, càng tỏ ra độc đáo, người ta càng rơi vào tình trạng lệ thuộc, tự mình lặp lại mọi cử chỉ, mọi hành động của kẻ khác (D d ương ương). Trong mỗi con người dường  như có sự phân rã thành nhiều con người khác nhau, không sao hàn gắn nổi (Gương ba mt). Bề ngoài, người ta phải đóng vai một người có hạnh phúc, nhưng bên trong có bao điều cay đắng (Trong gia đình). Trong một mối quan hệ cơ bản, như quan hệ vợ chồng, nguời ta cũng phải đóng kịch với nhau, và nhiều khi người nọ như trở thành nhà tù của người kia (Người máy, Sùng bái gia đình, Hoàng hu Ai cp...). Nhiều khi với mục đích biểu lộ tình yêu ta lại hạ thấp đối tượng của ta mà ta không hay, và chỉ chuốc lấy một sự trả thù thẳng thừng (Đồ vt). Để phù hợp với tâm lý bạn đọc phương Tây, trong một số truyện viết về đời sống gia đình và quan hệ nam nữ, Moravia không ngại đi vào những “ca” rất sượng. Nhưng cả ở những truyện có phần tự nhiên chủ nghĩa đó lẫn các truyện khác, nhuần nhị, trong sáng, đều thấy toát ra một ý tưởng chung. Bởi có chống lại cũng vô ích, cứ cố thoát ra khỏi một tình trạng bế tắc này, người ta lại rơi vào trường hợp bế tắc khác, mà ví dụ tiêu biểu là tấn bi kịch của người nữ diễn viên nọ, đang chán chường người chồng chỉ biết làm phim câu khách, chạy đến với đạo diễn khác, thì đấy cũng là một đạo diễn dung tục tầm thường không kém (Tm thân siêu phàm). Ý định thay đổi luôn luôn là những ý định vô vọng, mà lý do không phải đâu xa, lý do ở ngay xã hội tư sản với sự hoàn thiện về mặt kỹ thuật của nó. Sự hoàn thiện này, xét trên một phương diện nào đó, là phi nhân bản, vì lẽ đặt bên cạnh nó, con người thấp hèn đi. “Chúng ta đã sáng tạo được một nền văn minh tuyệt vời đến mức còn đẹp hơn chính con người nữa” (Đẹp hơn em).

Sự thống nhất trong thế giới truyện ngắn của Moravia trước tiên là ở cách nhìn cuộc đời. Trong muôn vàn truyện của đời sống nước Ý hiện đại, có những hiện tượng giống nhau, cứ đều đều rơi vào ống kính Moravia, mỗi lần cho ta một cận cảnh gọn và rõ. Khoảng những năm 50, đó là cuộc sống của những người lao động thành Rome với những vui buồn theo kiểu bình dân độc đáo của nó. Đến những năm 60, đấy thường là cuộc sống của những người trung lưu, vật chất không còn quá nheo nhóc, nhưng về mặt tinh thần lại bị thu hút vào một guồng máy xã hội đã bị tha hoá, khiến mất hết cả tự do, đời sống bảo là sung túc đầy đủ cũng được, mà bảo là vớ vẩn tẻ nhạt cũng được. Bởi tính phổ biến của nó, những bi hài kịch này thường chỉ được Moravia phác ra trong mấy nét nhưng rất dễ thông cảm. Người đọc nhận ra ngay những chuyện kể ở đây không chỉ liên quan đến mấy người trong truyện, mà ít nhiều liên quan đến chính cuộc sống của mình, cái cuộc sống thực sự hàng ngày ai cũng phải đối mặt. Nhưng điều quan trọng hơn là những kết luận  Moravia muốn ta hướng tới. Dường như tác giả muốn nói: cuộc sống con người trong lòng xã hội  thật kỳ quái, nhưng lại cũng thật tẻ nhạt vô kể (Đừng nghĩ ngi gì, Người tha hành). Với mỗi chúng ta cuộc đời hiện ra một cách khác, nhưng thông thường, mỗi người nếm trải đủ vị, sung sướng đấy mà đau khổ đấy (Đẹp hơn em). Ở chỗ ta tưởng chỉ có nghiêm chỉnh vẫn hàm chứa bao nhiêu chuyện buồn cười, y như chuyện đùa (Chuyn đùa ngày hè), nhưng ở chỗ ta tưởng chỉ có nhạt nhẽo, vớ vẩn lại có bao nhiêu điều khiến ta cảm động đến rơi nước mắt (điếm mt mi). Cuộc đời không vừa với một khuôn khổ nào có sẵn, mỗi con người đều lung linh kỳ lạ , cả cái khôn lẫn cái dại, cả sự ngờ nghệch  lẫn sự hiểu biết của họ cũng mở ra hết mức, đó vẫn là ý nghĩa thực của đời sống xưa nay, và thứ văn học nào bắt ngay vào cái nguồn vô tận này, cũng sẽ không bao giờ vơi cạn, như chính đời sống vậy.

Ở một thiên truyện như Người đàn bà ham thích hi hè, bước đầu ông đã tiếp cận với những vấn đề triết lý quan trọng: những kích thước khác nhau về đời sống; tầm quan trọng của văn hoá; quan hệ giữa những giá trị văn hoá lâu đời và đời sống hiện đại. Đó chính là cơ sở cho mọi sự thông cảm mà ở trên chúng ta vừa nói.

Đọc ông, đôi lúc ta có cảm tưởng đằng sau những thoáng lạnh lùng, thậm chí hơi ác, hơi tàn nhẫn nữa, là một thiện ý vừa muốn mua vui, lại vừa muốn giúp thêm cho mọi người nhận thức đời sống một cách tỉnh táo. Trong cái “hội hoá trang” điên cuồng của xã hội hiện đại , người ta rất cần tới những an ủi nho nhỏ như thế.

Trong hồi ức Con người, năm tháng, cuc đời, nhà văn Nga Ehrenbourg kể: Nét mặt Moravia thường rất buồn, nói vấn đề gì ông cũng trả lời như cái máy: “Tôi biết… tôi biết…”. Nhưng đôi khi nét mặt Moravia bừng sáng. Theo Ehrenbourg, đó là sự bừng sáng của một bản tính dịu dàng thường xuyên bị đè nén.

Nghệ thuật truyện ngắn

Người ta thường nói đến tính nguyên bản của một sáng tác, ngay cách viết đôi khi cũng có tính nguyên bản, nghĩa là nó chỉ đến với anh một lần, nó là trường hợp đơn nhất, lần ấy anh có thể thành công, lần khác viết theo cách đó, rất dễ hỏng. Dung dị, thanh thoát, có vẻ như là gặp đâu viết đấy, cách viết của Moravia có một đặc tính ngược lại, từ tác phẩm này sáng tác phẩm khác vẫn chỉ là nó mà người ta không thấy chán và có thể đọc mãi được. Nó có vẻ rất hợp với một ngòi bút viết nhiều, viết khoẻ, dẻo dai trong nghề nghiệp. Vâng, viết thật liên tục, thật đều đặn, và tạo cho bạn đọc cảm thấy mình có thể viết mãi trong truyện ngắn, đấy là một trong những bí mật làm nên tài năng Moravia, nó cũng là một phần lý do khiến ở ý cũng như ở nhiều nước khác, ở Pháp, ở Mỹ, ở Nga, ông được bạn đọc và cả giới nhà văn chuyên nghiệp say mê không dứt được.

Đâu là những khía cạnh làm nên đặc sắc riêng của truyện ngắn Moravia? Về mặt hình thức, đó là những truyện đạt tới sự ngắn gọn cổ điển. Nhờ chỉ tập trung vào một điểm nào đó trong tình thế hoặc trong nhân vật, mỗi truyện tựa chắc trên một cái trục để tồn tại, và sự súc tích hiện ra như là một cái gì hồn nhiên, thoải mái. “Theo ý tôi, truyện ngắn là một thứ văn khó viết, nó có những quy luật hẳn hoi, như loại thơ sonne vậy. Người viết phải trình bày thật nhiều tình tiết trong một đoạn văn càng ngắn càng hay”.

Đặc sắc cơ bản làm nên sự hấp dẫn của truyện ngắn Moravia là vẻ tự nhiên của nó . Thu hẹp trong phạm vi vài nghìn chữ, mỗi truyện như lời kể của một người nào đó về người thân của mình, bè bạn của mình, tác giả vừa nghe xong và giờ kể lại trên mặt giấy. Thủ pháp nhân vật xưng tôi vốn đã rất cũ, nay được tác giả sử dụng lại, và cứ thế mà kéo, không cần phải màu mè đắp đổi gì hết. Dường như phải qua lối xưng tôi như vậy, ông mới có cớ để thu góp tất cả sự phức tạp của đời sống vào một mối, tha hồ dẫn dắt người đọc theo những tư tưởng có sẵn và mang lại cho nó một vẻ dễ hiểu: “ , tôi nghĩ thế đấy”. Với ai kia, nghệ thuật truyện ngắn ăn ở những tìm tòi cầu kỳ về cách tả cách kể. Moravia không cần làm thế. Ông cứ kể như người ta thuận mồm thì trò chuyện cho vui. Thậm chí phong cảnh thiên nhiên cũng gần như vắng mặt trên các trang sách. Đã gọi là chuyn, với ông, chỉ có đời sống con người, những mối quan hệ đa dạng của con người với con người. Gọn gàng nhưng không gò bó, chặt chẽ ngay trong sự dông dài của mình, mỗi truyện ở đây giống như một phác thảo tâm lý nho nhỏ nhưng lại hóm hỉnh, tinh tế, và nhiều khi chua xót nữa.

Nói về thói quen làm việc của mình, trong một dịp trả lời phỏng vấn. Moravia kể: Sáng sáng, ông ngồi vào bàn, và đã ngồi là có tác phẩm. Trong khi đặc biệt nhạy cảm với xu hướng tha hoá con người, biến con người thành một thứ máy — cái xu hướng vốn gắn liền với sự phát triển của nền văn minh tư bản chủ nghĩa — bản thân Moravia lại là một tấm gương về lao động nghệ thuật và khả năng  không bị sự đỏng đảnh của cảm hứng chi phối. “Viết để đầy một số trang, vui lắm!”, ông bảo vậy. Trong việc viết cho đúng hẹn đã định, cũng như trong việc tự giới hạn tác phẩm của mình trong một số chữ nhất định, ông cũng cảm thấy niềm vui. “Tự do” ở đây là một thứ tự do trong khuôn khổ, tự do nương theo những ràng buộc có sẵn mà không hề cảm thấy bị những ràng buộc đó làm phiền. Không biết tự lúc nào, một bản tính thứ hai đã hình thành ở ông, trong những qui định ngặt nghèo của trang báo, ông cảm thấy viết đến đấy là vừa đủ, không cần có sự gò ép, tước bỏ, cắt xén gì cả. Đằng sau các trang sách, có lúc ta cảm thấy một tác giả con mắt nháy nháy tinh nghịch như thầm bảo : ”Đấy anh xem, chỉ cần có ít chữ vậy thôi, tôi cũng đã nói được bao nhiêu điều cần thiết”

Với những truyện ngắn được viết liên tục, hoàn toàn có thể nói Moravia là một nhà văn có một căn bản nghề nghiệp vững chãi . Và sự thành thục của  ngòi bút (điều mà ông chăm lo rèn luyện) đã trở thành thành tựu, do đó thành một niềm tự hào chính đáng ở ông. Trong không ít trường hợp, Moravia đã phát biểu rất hay về công việc viết văn và tâm lý người viết. Chẳng hạn có lần ông bảo “ Viết là tuân theo một nhạc điệu. Là cảm thấy một thiện cảm và tiến về phía thiện cảm ấy. Người ta viết bằng tai”. Tôi tưởng nhiều người trong chúng ta cảm thấy mình hoàn toàn có thể chia sẻ một nhận xét như vậy.

Viết, đối với Moravia, là một nghề nghiệp, nhưng trong cái nghề nghiệp đó, chất chứa bao nhiêu sự đời và có thể gửi gắm bao nhiêu suy nghiệm về nhân tình thế thái.

Trong khi không quan trọng hoá công việc – một điều mà chúng ta biết, rất gần với Tchékhov – thực ra Moravia vẫn hết mình với nghề . Luôn luôn ông cho chúng ta thấy việc làm nghề  nếu không phải  thiêng liêng, thì cũng là một sự quyến rũ lớn lao. Cũng y như, sau những trang viết có vẻ lạnh lùng của ông, người ta vẫn cảm nhận rõ một khuyến khích đầy thiện ý: “Dù bao nhiêu chuyện ngang trái đi nữa, song cuộc sống vẫn còn bao nhiêu điều tốt đẹp, khiến cho người ta cần sống và có thể tìm được ý nghĩa cho cuộc sống”.

Con đường đi ti t do(*)

Theo một con số thống kê năm 1976, trong số hơn hai trăm triệu dân Mỹ hiện nay, tổng số người da đen ở rải rác trong nhiều thành phố cả nước vào khoảng hai mươi ba triệu. Vốn được chuyển từ châu Phi sang, trong các thế kỷ trước đến thế kỷ này, cuộc sống của họ vẫn không thể gọi bằng cách nào khác ngoài hai chữ: nô lệ. Làm thuê trong các đồn điền, các cửa hàng tư nhân, đảm nhận chân giúp việc trong các gia đình, đổ rác, phục vụ công  cộng  v.v… Việc gì họ cũng làm và công xá bao giờ cũng rẻ mạt hơn hẳn, so với những người da trắng. Nạn phân biệt chủng tộc kéo dài trên cả hai phương diện. Một là người da đen không được học hành, chữa bệnh, thưởng thức nghệ thuật… chung với người da trắng. Hai là, ngay giữa các thành phố lớn, nhiều khu biệt lập với những nhà ổ chuột được hình thành, tại đó, người da đen bị tách hẳn ra, thành một cộng đồng riêng rẽ. Cuộc sống cùng khổ hết chỗ nói. Ở giữa lòng nước Mỹ, tình trạng phân biệt chủng tộc ấy càng trở nên một cảnh tượng quái gở, đập ngay vào mắt mọi người, và có sức ám ảnh bất cứ tâm trí ai còn chút lương tri. Có người  bảo đó là một vết nhục đối với nước Mỹ, một vết nhục chưa biết bao giờ có cơ gột sạch. Đến đầu những năm bẩy mươi của thế kỷ XX, nhận xét này còn được tờ Thi báo New York nhắc lại như một lời chì chiết cay đắng.

Mặc dù vậy, khi nhìn vào các hoạt động văn hoá – xã hội ở Mỹ người ta vẫn không thể ghi nhận một sự thật là người da đen vẫn có những đóng góp đáng kể. Nhiều trí thức Mỹ nổi tiếng  là người da đen. Nhiều đấu thủ thể dục thể thao da đen nối tiếp mang lại vinh dự cho màu cờ sắc áo nước Mỹ. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ da đen như L. Amstrong, W. S. Handy (người sáng tác bản Saint Louis Blues ) và đặc biệt Paul Roberson, được cả thế giới biết tiếng. Riêng trong lĩnh vực văn học, cũng có thể nói tới một cuộc “chạy tiếp sức liên tục”. Ngay từ thế kỷ XIX, đã thấy những tác phẩm do những người nô lệ ở các tỉnh miền Nam chạy lên miền Bắc viết ra. Vào đầu thế kỷ này, những tác phẩm chính luận như Tâm hn người da đen của W.Dubois là một cái mốc đáng ghi nhớ. Tới những năm 20-30, nguời ta còn nói tới “sự phục hưng da đen”, sự phục hưng Harlem, với thơ Lanston  Hughes. Chính trên cơ sở này, R. Wright hình thành văn nghiệp của mình, trở thành nhân vật đóng vai chìa khoá để hiểu văn học da đen trong thế kỷ XX. Từ R. Wright về sau, tác phẩm của R. Ellison (sinh 1917) L. Hensburi (1930-1965), và đặc biệt, các tác phẩm chính luận và tiểu thuyết của Baldwin còn luôn luôn làm nên những “vụ nổ”  trong văn học, trở thành sách bán chạy, thành những cái đinh trong sáng tác văn học ở Mỹ nói chung. Cũng chính Thi báo New York vào đầu những năm bảy mươi  đã viết.

“Trong vài năm gần đây, nhiều trí thức, kể cả những người chuyên môn trong lĩnh vực văn chương ngạc nhiên nhận ra rằng nền văn học Mỹ da đen đã tồn tại hơn hai thế kỷ nay, và nó cung cấp cho người ta nhiều tác phẩm nghệ thuật sáng chói, do những bậc thày trong nghệ thuật ngôn từ như Claude Mckay , L. Hughes , R. Wright, R. Ellison viết ra.  Đấy cũng là những tác phẩm đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng nước ngoài, và thường được bạn đọc nước ngoài quan tâm hơn hơn, so với sự quan tâm mà những tác phẩm này nhận được ở chính ngay nước Mỹ (**)

Tại sao có hiện tuợng vậy? Nếu chỉ thuần tuý làm công việc bênh vực nhiệt tình cho người da đen, phẫn nộ một cách nông nổi, hoặc chửi rủa lèm nhèm, kiểu một kẻ lắm lời cố nói lấy được thì chắc văn học da đen không được đánh giá cao đến thế. Trong những trường

(*) Lời giới thiệu viết cho tiểu thuyết Chú nhóc đen của Richard Wrigt

( **)Dẫn theo B.A. Guilenson Các nhà văn M da đen,  tiếng Nga, NXB Kiến thc.

hợp thành công của nó, văn học Mỹ da đen, đạt tới những đỉnh cao, mà không cần một chút nhân nhượng, chiếu cố nào hết, bởi lẽ, trong khi đi sâu vào những đau khổ của dân tộc mình, các tác giả da đen đồng thời xới lật ra những vấn đề chung của cả nước Mỹ, hơn nữa, những vấn đề có ý nghĩa nhân bản mà những ai quan tâm tới số phận của nhân loại, cũng như của mỗi kiếp người không thể bỏ qua: Liệu con người có thể thay đổi thói quen, thay đổi thành kiến? Khả năng vượt qua những ràng buộc của từng người đến đâu, và  ở từng cộng đồng, có thể đến đâu? Đâu là tự do, đâu là tất yếu?

Như trên đã nói trong số những nhà văn đưa văn học da đen vào các quỹ dạo nói trên tên tuổi R. Wright chiếm một vị trí đặc biệt. Margaret Wolker, một nhà văn Mỹ da đen khác từng bảo: “Trong lịch sử văn học Mỹ da đen, tồn tại một cái mốc: trước và sau R. Wright . Cũng như các nhà văn Nga vẫn nói rằng họ ra đời từ chiếc áo khoác của Gogol, chúng tôi cũng xác định phần lớn nhà văn chúng tôi tách ra từ đôi cánh của R. Wright” (*) Khi giới thiệu tuyển tập của R. Wright dịch ra tiếng Nga ở nhà xuất bản Tiến b Moskva 1978 (trong đó có đưa vào cả Chú nhóc đen), một nhà phê bình xô viết nói rõ: “Con đường R. Wright đã đi trong văn học chỉ gói gọn trong khoảng hai chục năm, nhưng thời gian ngắn ngủi này thường được xem như một bước chuyển biến quan trọng. Đối với người da đen trên đất Mỹ, đó là cả một thời đại, hơn nữa, một thời đại quan trọng bậc nhất, sau ba trăm năm tồn tại của họ” (*) . Nói cách khác, trên một số phương diện, R. Wright đã trở thành một tác giả cổ điển của nền văn học da đen trong thế kỷ XX ; qua  Wright, người ta thấy rõ cả những mặt mạnh lẫn mặt yếu của nền văn học đó.

Vào khoảng đầu những năm ba mươi, tạp chí Đại chúng mi (New Masses) là nơi mà  những trí thức tiến bộ Mỹ lúc ấy thường vẫn có bài đăng  và  các nhà văn trẻ thì cảm thấy vinh dự nếu những sáng tác  đầu tay của mình được giới thiệu . Chính vào thời điểm đó, nhà văn Joseph Nort (sinh 1964), phụ trách biên tập Đại chúng mi có dịp tiếp một thanh niên da đen đến đưa bài. Thoạt vào, người ta đã nhận xét người thanh niên đó đang cố nén xúc động , và trong con mắt  nhìn, ánh lên không biết bao nhiêu là lo âu và hy vọng. Thơ anh thô nhám, xù xì, rõ ra sáng tác của một người chưa có kinh nghiệm. Nhưng J. Nort vẫn cho đăng và không bao giờ phải hối hận về điều ấy: trong thơ của R. Wright lúc đó đã có dấu hiệu làm nên khuôn mặt “thơ da đen” mà sau này, người ta phát hiện qua các tuyển tập. Bên cạnh thơ, Nort đặc biệt khuyên người thanh niên kia viết văn xuôi. Thế là ít năm sau, R.Wright đưa tới tập truyện ngắn Nhng đứa con nhà bác Tom (1938). Rất nhanh, R. Wright trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, từng có lúc được bầu là Phó chủ tịch Hiệp hội các nhà văn Mỹ. Về mặt nghề nghiệp, tiếng tăm lừng lẫy đã đến với R. Wright, khi viết cuốn Đứa con ca x s (1940). Vừa ra đời, các tác phẩm lập tức được xếp vào loại sách bán chạy. Tiểu thuyết được một nhân vật sau này rất nổi tiếng là Orson Welles đưa lên sân khấu, diễn ngay ở Brodwey, khu văn hoá lớn ở trung tâm New York, rồi lại được dựng thành phim. Người ta so sánh R. Wright với T. Dreiser, người ta gọi ông là Dostoievski của nước Mỹ. Tại sao Đứa con ca x s được đánh giá cao như vậy? Vào những năm ấy,  người da đen chưa bao giờ trở thành một nhân vật trung tâm trong tác phẩm văn học, và một quyết định như thế, phải là một quyết định rất thông minh  , hơn nữa, một quyết định dũng cảm. Chẳng những thế, tác phẩm của  R. Wright lại có một sức khái quát lớn lao, một khả năng phát hiện mà các tác phẩm lớn nhất thiết  phải có. Đằng sau câu chuyện về một người da đen, người ta thấy hiện lên một nước Mỹ bấy lâu không ai biết, đó là nước Mỹ của những âm mưu thủ đoạn, những ám hại hèn hạ, những vụ giết người khủng khiếp, sản phẩm của tình trạng phân biệt chủng tộc đã ăn vào tiềm thức con người. Nhà phê bình văn học nối tiếng người Mỹ  M.Cowley bảo rằng Đứa con ca x s để lại trong ông một ấn tượng sâu sắc, có phần còn đậm mạnh hơn cả Chùm nho ni gin của Steinbeck. Dường như tác giả muốn nói: “Nhứng người da trắng hãy nghe đây. Tôi muốn kể với các người về những người da đen trên đất Mỹ. Tôi muốn kể xem họ sống ra sao, họ cảm thấy những gì. Tôi muốn để các người thay đổi thái độ với họ. Tôi không chỉ nói nhân danh người da đen, tôi muốn nói nhân danh cả nước Mỹ (*)”

Tiếp sau Đứa con ca x s , R. Wright còn cho xuất bản nhiều tiểu thuyết khác, bao giờ cũng nặng chĩu nỗi ám ảnh về thân phận làm người của những người như mình, bao giờ cũng những khắc khoải vô vọng về tương lai, kể cả khi ông quay về nhìn lại tuổi thơ, chia xẻ với mọi người hồi ức về con đường mình đã đi qua. Đó chính là trường hợp của Chú nhóc đen (1945), một cuốn tự thuật cảm động, quyết liệt và đầy đau xót.

Đâu là những nét độc đáo làm nên giá trị của Chú nhóc đen khiến cho nó được coi là một trường hợp cổ điển trong thể tự truyện, và có được ảnh hưởng lớn, chẳng hạn được coi là cuốn sách quan trọng nhất trong tất cả các cuốn sách dịch in ở Pháp năm 1947 ?

Nói đến tự thuật, thông thường người ta nghĩ ngay đến những trang sách trong sáng thơ mộng, ở đó, tuổi thơ được thi vị hoá, tuổi thơ được xem như những ngày tháng vui vẻ nhất trong một đời người. Nhớ lại tuổi thơ là một cách để đối lập nó với hoàn cảnh khắc nghiệt chung quanh. Trong khi miêu tả tuổi thơ, người ta tìm được cách tốt nhất để biểu  hiện những ao ước về  một cuộc sống khác vốn không bao giờ nguôi quên, tuy không bao giờ thực hiện được.

Cuốn sách của R. Wright được viết với một tinh thần khác hẳn. Tuổi trẻ của cậu bé da đen được miêu tả ở đây là một tuổi trẻ lầm than, khốn khổ. Những thành kiến hủ lậu ăn sâu vào tận nếp sống gia đình. Những ràng buộc về chủng tộc có mặt ở khắp nơi và luôn luôn buộc người ta phải điều chỉnh lại cái nhìn của mình về đời sống, dù cho sự điều chỉnh đó có phi lý, phi tự nhiên đến đâu, thì cũng phải chịu. Lịch sử hình thành tính cách “chú nhóc đen” Richard là lịch sử cậu bé cố thích nghi với hoàn cảnh nhưng không nổi. Trong khi cậu bé cố tìm cách để hiểu xã hội chung quanh thì xã hội đó nhất quyết cự tuyệt không chịu hiểu cậu. Ăn cắp, hư hỏng, dối trá, hèn hạ, bấy nhiêu thói xấu được ấp ủ và khuyến khích bấy nhiêu, thì sống tự trọng, đứng đắn, sống như chính mình vốn có và chính mình mong muốn, lại khốn khó bấy nhiêu, ấy là không kể cái đói hành hạ thường xuyên, cái đói dai dẳng đã khiến cho việc vượt qua nó trở thành một nhân tố chủ yếu làm nên bản lĩnh một con người, với khả năng sống, tồn tại của con người đó. Ngay trong gia đình của bà ngoại mình, cậu bé Richard đã sớm nhận ra rằng kiếm được đồng tiền có nghĩa là có nhân phẩm, được mọi người tôn trọng. Cả quyết khẳng định nhân cách của mình, trước tiên, cậu lăn xả vào đời sống, làm việc để sống như mọi người trong khi vẫn không thôi suy nghĩ về bản chất của đời sống đó, kiểm tra, khẳng định quan niệm của mình, niềm tin của mình, dù có cực nhọc bao nhiêu, đơn độc bao nhiêu trong những suy nghĩ ấy, thì cũng chấp nhận. Đấy chính là nhân tố chủ yếu làm nên giá trị nhân bản của tác phẩm.

Nếu có một khía cạnh nào nổi bật trong “chú nhóc đen” Richard, được nhà văn R. Wright chú ý tô đậm hơn cả – mà đó cũng là nhân tố chủ yếu khiến cuốn tự truyện này khác hẳn so với nhiều cuốn tự truyện chúng ta đã đọc – thì phải nói tới cái phần tự ý thức trong nhân vật, tự ý thức với tư cách một yếu tố bản ngã quan trọng. Không có nó, không thể hình thành nhân cách thực sự. Thông qua cái tự ý thức đó, từ công việc hết sức phàm tục mà cũng hết sức thiêng liêng là việc kiếm ăn, cho đến mối quan hệ tinh phức tạp giữa cá nhân này với cá nhân khác, mối quan hệ giữa đời sống cụ thể hôm nay, với đời sống siêu hình là ý thức tôn giáo… tất cả, tất cả các khía cạnh đó được xem xét, thể nghiệm lại. Đứng về mặt thuần tuý kỹ thuật mà xét thì những biện pháp được vận dụng trong văn xuôi R. Wright trong Chú nhóc đen chính là thủ pháp độc thoại nội tâm, và dòng ý thức (một dòng chảy đứt đoạn mà lại liên tục, sự liên tục của những cái đứt doạn, một phát hiện của văn xuôi thế kỷ XX ). Là con đẻ của văn học phương Tây trong thế kỷ này, tác giả Chú nhóc đen đã tận dụng mọi biện pháp nghề nghiệp mà chung quanh tạo ra cho mình, nhưng biết mang lại cho nó một ý nghĩa mới, khiến cho nó mềm mại, nhuần nhuyễn tới mức có thể chấp nhận được. Sự cắt rời của mỗi con người ngay trong chính mình, sự đồng nhất giữa cấu trúc tâm lý con người và thế giới, những vấn đề tâm lý mong manh nhất mà cũng khó lý giải nhất, đến Chú nhóc đen, khi được chứng minh một cách cụ thể, tự nhiên, để rồi góp phần phanh phui toàn bộ đời sống ý thức của con người trong thế kỷ này. Bởi đó không phải là những chuyện phù phiếm, vẩn vơ thường vẫn thấy ở các nhân vật trưởng giả rỗi rãi không có việc gì làm, mà ở trường hợp “một chú nhóc đen” với những vật lộn kiếm sống của mình, những vấn đề tâm lý – ý thức đó càng thêm có sức thuyết phục: đó là những vấn đề có thực.

Tuy nhiên, bên cạnh giá trị tự thân, ý nghĩa tố cáo của một cuốn tự truyện kiểu Chú nhóc đen còn hiện ra ở một khía cạnh bi thảm sau đây.

Về căn bản, chủ đề chủ yếu của Chú nhóc đen là gì nếu không phải là chủ đề mà chúng ta vẫn thấy trong các tác phẩm lớn: cuộc xung đột giữa tự do và tất yếu. Thế giới bao quanh R. Wright từ nhỏ dày đặc bóng tối; không chịu thi vị hoá nó, mà nhìn thẳng vào nó, miêu tả cái bức bối khi người ta phải sống trong đó, đây chỉ là một việc. Rồi miêu tả sự vật lộn để vượt thoát ra khỏi bóng tối đó, miêu tả sự trốn chạy đến đứt hơi, tức thở khỏi những thành kiến ràng buộc của hoàn cảnh, đây lại là một việc khác. Nhưng chỗ lớn lao của nhà văn R. Wright mà cũng là chỗ khiến ông gần gũi với mọi người là ở cái nhìn thấu đáo: theo như cách ông trình bày, ngay cả khi chạy thoát khỏi  hoàn cảnh (ở đây là cái miềm Nam tàn bạo của nước Mỹ) , chú bé da den ở đây vẫn đau đớn khôn nguôi, vì thấy thực ra mình không bao giờ bỏ nổi được nó, nó đã trở thành một phần con người của mình. Trong khi miêu tả rất tài năng nỗi khát khao cháy bỏng là khao khát tự do của con người , R. Wright cho người ta thấy, để đến được tự do ấy, người ta trải qua những khốn khó biết là ngần nào, mà điều đáng sợ nhất là có khi đến được với cái tự do đó rồi, thì chính mình không còn là mình nữa! Những tố cáo đại loại “Cách tôi sống trong miền Nam đã không cho phép tôi tự biết chính mình. Bóp nghẹt, dồn nén bởi điều kiện hiện sinh trong miền Nam, đời tôi đã không là cái gì đáng ra nó phải thế. Tôi chưa bao giờ thực là chính mình”, những lời tố cáo đó rải rác khắp các trang sách, tạo thành một thứ không khí bi đát bám vào tác phẩm và nếu theo dõi từ Đứa con ca x s đến những tác phẩm cuối đời của R. Wright thì thấy nó quán xuyến hầu khắp cuộc đời tác giả. Hình như ở đây có phần nặng nề quá, cái nhìn của nhà văn về chính mình và các vấn đề chủng tộc mình là đen tối quá ? Nói trong một phạm vi hẹp: sự giải thoát chưa tới, ngay cả khi nhà văn đã làm chủ được số phận của mình, có được một ngọn bút văn xuôi đầy tài năng trong tay, và một hoạt động xã hội rộng rãi đảm bảo. Như thế có phải là bi quan quá, sao lại có chuyện đó được? Hoá ra, chỗ lớn lao nhất, lại cũng là chỗ yếu đuối, chưa được của nhà văn R. Wright chăng? Và như vậy,  vấn đề do nhà văn Mỹ này đặt ra chưa được giải quyết đến cùng, mà luôn  luôn cần được chúng ta xem xét lại, đặt lại và giải quyết tốt hơn?

Nếu tất cả những gợi ý trên còn là phỏng đoán, thì cuộc đời Richard Wright đã là một câu trả lời thực sự, nó xác nhận sự tiên cảm của nhà văn về chính mình là hết sức chính xác.

Dù có vượt thoát để sống, thì suốt đời, trong R. Wright còn nguyên những vết thương từ nhỏ, khiến suốt đời, ông mất thăng bằng . Nếu phần cảm thấy cn phi sng khác khá quyết liệt ở ông, thì câu trả lời sng khác như thế nào chưa tìm thấy rõ ràng minh bạch. Không ngừng khắc khoải vì số phận đen của mình, có lúc ông đẩy vấn đề tới chỗ siêu hình, coi đó là thân phận chung của con người, và sẵn sàng bắt tay với các quan niệm hiện sinh , rất phổ biến ở phương Tây sau chiến tranh. Suốt đời đi tìm, hoá suốt đời hoài nghi, ông vào Đảng Cộng sản rồi lại xa Đảng, để đi tìm “tự do tuyệt vời”. Do rất nhiều bê bối, từ sau 1945, R. Wright bỏ nước Mỹ sang sống ở Paris. Nhưng cái không khí của một thủ đô văn hoá nhiều màu sắc quá, cả những cuộc trò chuyện với Sartre, Camus… không giúp ông tìm thấy niềm tin thực sự, bằng chứng là những tác phẩm ông viết sau chiến tranh như Mt trái, Quyn lc đen v.v… phần lớn là những tác phẩm không có sức thuyết phục. Trước thất bại của công việc R. Wright đau đớn coi như đánh mất bản mệnh, và luôn luôn nhìn lại thời trẻ của mình, nhìn lại những tác phẩm trong sáng, những truyện ngắn in trong Nhng đứa con ca bác Tom với nỗi nuối tiếc khôn nguôi. Chỉ  với hai tác phẩm Người th tám, Gic mng dài mọi chuyện mới được ông nhìn nhận trên cái nền xã hội cụ thể của nó. Nhưng đó chính là những tác phẩm cuối cùng của R.Wright. Sinh ngày 4-9-1908 ở Natsé Misissipi, cuối cùng R.Wright mất ngày 29-11-1960 tại Paris với bao ngổn ngang tâm sự, bao dày vò kinh khủng, tưởng như không ai san sẻ nổi. Bên cạnh những tác phẩm rất có giá trị như Đứa con ca x s , Chú nhóc đen – những tác phẩm được coi là đóng góp của R. Wright vào nền văn học hiện thực tiến bộ của nước Mỹ và đến nay còn được dịch, in lại ở  nhiều nước khác – thì bản thân cuộc đời R. Wright cũng chính là một bản cáo trạng bi thảm tố cáo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tố cáo sự rối ren và bế tắc của những con người có lương tri trong lòng xã hội  hiện đại.

Một điệu ru sâu lắng(*)

Trong văn học Mỹ từ sau đại chiến thế giới thứ hai đến nay, James Baldwin  là một tên tuổi sớm chiếm được vị trí đặc biệt. Khi nói đến cuộc đấu tranh của người da đen chống tệ phân biệt chủng tộc, người ta nhắc nhở đến ông. Khi điểm qua những tiếng nói tố cáo mọi đau khổ dằn vặt, mọi tai ương ngang trái của kiếp người trong lòng  xã hội hiện đại , người ta nhắc nhở đến ông. Và, bên cạnh nhiều tác giả lớn khác, người ta cũng nhắc đến J.Baldwin khi muốn nói tới thứ văn xuôi thô nhám khắc nghiệt khá tiêu biểu cho văn chương Mỹ thế kỷ XX .

J.Baldwin sinh ngày 2 tháng 8 năm 1924 tại New York. Ở cái khu Harlem vốn nổi tiếng là nghèo khổ bẩn thỉu này, người con trai đầu lòng trong một gia đình da đen có chín anh em mà được đi học như ông, quả thực là chuyện hiếm. Nhưng càng hiếm hơn: sau khi học xong trung học, bị buộc phải đi làm, ông vẫn tự học và bắt đầu tập viết văn viết báo. Năm 1948, nhân một giải thưởng văn học, nhận được một số tiền ít ỏi, ông dồn tất cả để maa một chiếc vé sang Paris. ở đây, ông tiếp tục vừa làm vừa học, mở rộng khả năng về văn học. Chính ở đây, năm 1953, J.Baldwin viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, một tác phẩm giàu chất tự truyện, và được nhiều người khen ngợi. Năm 1956, cuốn tiểu thuyết thứ hai Căn phòng ca Giovanni ra đời. Trước đó, năm 1955, Ghi chép ca mt người con nước M được xuất bản khiến ông trở thành một tác giả có uy tín trong thể tuỳ bút chính luận. Một tờ báo ở Mỹ, tờ Người hướng dn khoa hc Cơ đốc giáo viết: “Người da đen ở nước Mỹ sống thế nào? Chưa bao giờ chúng ta nghe được một câu trả lời rõ thế, như tác phẩm này của J.Baldwin”.

Từ đó trở di, sáng tác của J.Baldwin đều đều ra mắt, ở mọi thể loại: cả tiểu thuyết cả tuỳ bút, cả kịch. Năm 1961, một trong những cuốn sách cảm động nhất của ông ra đời: Không ai biết tên tôi. Qua hai năm sau, lại một cuốn sách khác được dư luận chú ý, trở thành sách bán rất chạy ở Mỹ – cuốn Ln sau: đám cháy. Kịch của J.Baldwin được dựng ở New York và nhiều thành phố khác. Trong các tác phẩm ấy, bao giờ nhân vật chính cũng là một phần nhân loại đặc biệt: cộng đồng những người da đen trong lòng nước Mỹ hiện đại. Sống, làm việc, yêu đương, đau khổ vì bị người da trắng khinh miệt, lại cũng đau khổ vì những tập tục lạc hậu cũ kỹ, đã ăn vào thành mặc cảm, khiến người ta khó lòng vượt thoát ra nổi, đấy là những khía cạnh làm nên cuộc sống của người da đen được miêu tả trong nhiều tác phẩm của các nhà văn tiến bộ, trong đó có J.Baldwin. Nhưng đặc biệt, ở các nhân vật da đen của ông và bản thân ông bao giờ cũng thấy cháy lên một khát vọng mãnh liệt là làm sao giải phóng người da đen khỏi những thành kiến hiện nay. Đó cũng chính là cái thần

thái chủ yếu làm nên “cơn giận dữ ghê gớm” mà người ta đọc được trong văn J.Baldwin. Ông đã gắn bó với cộng đồng những người cùng màu da với mình một cách toàn tâm toàn ý, tới mức người ta bảo rằng nếu không có cái cộng đồng đó, ông sẽ chết cả với tư cách con người lẫn tư cách nhà văn.

——-

(*)  Lời giới thiệu viết cho bản dịch tiểu thuyết Nếu ph Bill biết nói H.1981

Có một dạo, bộ máy tuyên truyền  ở Mỹ đua nhau tán tụng các chính sách mị dân do một số kẻ cầm quyền “khôn ngoan” khởi xướng, nhằm xoa dịu cuộc đấu tranh của người da đen. Một huyền thoại được bịa đặt: huyền thoại về sự trở về của các nghệ sĩ, các danh thủ thể thao người da den trong lòng nước Mỹ “cởi mở”. Nhưng J.Baldwin không bị lừa. Bản thân cuộc đời bi thảm của ông đã là một bằng chứng bác bỏ huyền thoại nói trên: mặc dù rất tha thiết với Tổ quốc, ông không thể là người con của nước Mỹ mà suốt đời chỉ mang danh “một tên da đen đặc biệt” , như báo chí tư sản vẫn gọi; mặc được cả thế  giới biết tiếng, do đó, trở thành một niềm tự hào của văn học Mỹ hiện đại, ông vẫn không trở về quê hương, vì biết rằng ở đó, bất cứ lúc nào, tính mạng của mình cũng bị đe doạ. Sống lưu vong ở châu Âu, chỉ còn tâm hồn, ngòi bút của Baldwin là ràng rịt chặt chẽ với cuộc đấu tranh của những người cùng màu da. Baldwin chú tâm viết nhiều phóng sự đề cập tới vấn đề của người da đen, đăng tải trên nhiều báo chí ở Pháp. Công việc được ông tiến hành tích cực đến mức một tờ báo lớn ở Mỹ, tờ Thi báo New York đã có lúc đặt câu hỏi: Phải chăng nhà hoạt động xã hội Baldwin đã lấn chiếm toàn bộ thời gian và nghị lực của nhà văn Baldwin? Nhưng họ nhầm. Càng gắn bó với phong trào đấu tranh của người da đen, ngòi bút của Baldwin càng trở nên sắc sảo. Sau hai tập chính luận Không thy tên anh trên đường phMt ln, khi tôi lc vào bóng ti (đều in 1972), qua năm 1974, cuốn sách thứ mười ba của ông Nếu ph Bill biết nói ra đời. Ý kiến trao đổi rất nhiều. Nhưng cuối cùng, gần như dư luận cùng nhất trí coi đây là một thành công của Baldwin. Nữ văn sĩ Joyce Carol Oates, một nhà văn  bắt đầu viết vào đầu những năm 60 , đã cả quyết đây là một sự kiện quan trọng trong văn học Mỹ hiện đại (Theo báo Văn hc Liên Xô, số 18-12-1974). Thời gian đã cho thấy cách đánh giá của nhà văn  này với Baldwin khá chính xác.

Có lần James Baldwin đã nói về khu Harlem: “Tôi biết về nó cặn kẽ như người ta thuộc những đường gân trên bàn tay mình”. Lần này, Harlem lại trở thành bối cảnh để triển khai câu chuyện giữa Pheny và Tis, đúng hơn, trở thành bối cảnh cho tấn bi kịch đau đớn mà đôi trai gái này trải qua, khi vừa bước vào lứa tuổi hai mươi tươi đẹp. Là một thanh niên da đen tài hoa, tự trọng, Pheny chỉ có một “lầm lỗi” nho nhỏ, anh luôn cảm thấy mình là một con người bình thường như mọi người khác. Anh muốn sống một cuộc sống đàng hoàng tự lập. Đầu mối mọi tai hoạ từ đó mà ra. Do sự bày đặt trắng trợn của bọn cảnh sát da trắng, Pheny bị vu cáo và bị bắt giữ. Đúng lúc ấy, Tis bụng mang dạ chửa và cần tới sự săn sóc của anh hơn bao giờ hết. Cả hai gia đình chạy nháo lên,  tìm mọi cách cho có tiền để lôi bằng được Pheny ra khỏi tù. Cho đến cuối truyện, mọi việc vẫn treo đấy, lơ lửng. Phải tốn kém nhiều nữa, may ra anh mới chứng minh được sự vô tội của mình! Trong lúc ấy, đứa con đầu lòng của đôi vợ chồng trẻ đã ra đời. Cuộc sống cứ sinh sôi, mặc dù không có dấu hiệu gì là tương lai sẽ được bảo đảm. Tác giả đã miêu tả một cách tự nhiên dung dị và rất logic sự trưởng thành về chính trị của Pheny trong tù, thông qua sự  vận động nội tâm nhân vật.

So với các tập chính luận, tiếng nói tố cáo xã hội Mỹ của Baldwin lần này bình thản hơn, nhưng không phải vì thế mà kém phần quyết liệt. Trong phạm vi một cuốn truyện vừa, hơn hai trăm trang, cuộc sống đã đủ hiện lên, bức bối, ngột ngạt đến nghẹt thở. “Những gia đình da đen không có hoà thuận, không có bình yên, cả đến một chút hy vọng nho nhỏ rằng một lúc nào đó, sẽ có thay đổi, cũng không có nốt” – cái cộng đồng da đen mà có lần Baldwin nhắc tới trong một cuốn tự truyện, nay vẫn thế. Đối với những ai chưa quen, cách miêu tả của tác giả ở đây có phần thô bạo, tự nhiên chủ nghĩa, khiến cho người ta ngại ngùng nếu không muốn nói là, đôi khi, ghê sợ. Nhưng đối với Baldwin cũng như với các nhân vật của ông, cộng đồng ấy  vẫn gần gũi, ruột thịt; chỉ có nó là chấp nhận họ. Đằng sau nó, là cái thế giới da trắng văn minh lịch sự  nhưng lại giả dối và đầy tai biến. Với một người như Tis chẳng hạn, từ khi còn nhỏ, thành phố quê hương đã hết sức xa lạ. Trong cảnh tai ương – người yêu bị bắt giữa lúc bụng mang dạ chửa – đáng nhẽ cần niềm tin nhất, cô lại chỉ tin như đanh đóng cột “Còn thành phố, bây giờ tôi chắc như vậy,tôi  biết thành phố không yêu chúng tôi”.  Hơn thế nữa, với cô, cũng như đối với nhiều người, đây là một “đất nước mất trí” giữa một “thời buổi mất trí”. Thấy một người tốt, người ta ngỡ ngàng không tin. Thấy một người xấu đánh vào mặt mình, người ta bình tĩnh tự bảo: thì tất nhiên là như vậy rồi, có muốn sống thì ráng chịu. Thất vọng chồng đống, cái nọ nối tiếp cái kia. Tuy vậy, ai nấy vẫn lo việc của mình: Pheny hôm qua lo đi kiếm căn gác ở riêng, lo làm thêm để lấy vợ và khi ở tù,  vẫn băn khoăn nhắc người ở ngoài  chớ quên mình. Tis vừa lắng nghe đứa con trong bụng, thông cảm với đòi hỏi của nó, biết rằng “mình là của nó, hơn là nó là của mình”, vừa chuẩn bị khả năng có thể làm bất cứ việc gì phải làm, miễn có thể sống, nuôi con khôn lớn. Trong khi hai người chị gái Pheny có lúc còn nhởn nhơ, thì người chị của Tis hiện ra như một người đầy bản lĩnh, thu xếp mọi việc đâu vào đấy. Tuy nhiên trong cái thế giới của những người phụ nữ hết sức năng động này, người kỳ lạ nhất có lẽ vẫn là bà mẹ của Tis. Vì con gái, vì con rể, bà dám làm một việc trước đó chưa bao giờ làm, là đáp máy bay sang Puerto Rico, gặp gỡ những người chưa quen, cốt van xin người ta minh oan cho người con rể tương lai của mình. Đằng sau vẻ “ù lì” thụ động thì lòng ham sống  chính là vẻ đẹp rất khoẻ, thấy ở các nhân vật của Baldwin trong cách biểu lộ tình cảm, cách nói năng, cư xử của họ có một cái gì hết sức gần gũi chúng ta. Chính tính nhân bản đậm đà đã là lý do khiến cho văn xuôi của J. Baldwin vượt qua những giới hạn cụ thể của đối tượng miêu tả mà vượt lên, trở thành những trang sách được bạn đọc ở nhiều nước khác nhau  yêu mến.

Có một nhân vật không xuất hiện nhưng lại làm nên sức mạnh thúc đẩy sự vận động hối hả mà tuyệt vọng của tất cả các nhân vật trong tác phẩm, đó là đứa con trong bụng Tis . Hoàn cảnh đã làm méo mó con người đi không biết bao nhiêu mà kể, nhưng khi dòng giống còn sinh sôi, thì con người ta vẫn còn lý do để sống – cả tác giả lẫn các nhân vật cùng muốn nói với chúng ta một điều giản dị như vậy. Trong một bài viết giới thiệu Nếu ph Bill biết nói với bạn đọc Xô viết, một nhà phê bình Liên Xô cho rằng đoạn cuối tác phẩm cố tình cách tượng trưng. Trong khi ông già Frank, bố của Pheny tự tử, thì đứa con của anh ra đời, với tiếng khóc lặp đi lặp lại như lời đay nghiến cái thế giới bất công này. Tình thế thật bi thảm. Tuy nhiên, trong cái được, có cái mt, trong cái vui có cái bun, trong vô vng có hy vng, cái luật đời thông thường đó như đã thấp thoáng hiện ra trong đoạn kết này. Chỉ những ngòi bút cao tay, mà cũng rất tin  — tin ở bạn đọc mà cũng tin ở chính mình — mới dám bỏ lửng ở một đoạn kết như vậy.

Nhớ lại thời gian vào nghề của mình, có lần James Baldwin kể, ông từng có lời nguyền : “Mặc kệ cả Chúa trời, cả quỷ Satan, mặc kệ sông Missisipi và cái màu da đen đủi, nhất định tôi phải trở thành nhà văn”.

Câu nói ghi nhận khá rõ cái phần ý chí cùng những ham muốn của một người quyết tâm lập nghiệp. Nhưng trong việc hình thành một tài năng như J. Baldwin, còn có một phía khác nữa, đấy là tâm hồn nghệ sĩ. Những nhạy bén với đời sống và nhạy bén với mọi biểu hiện của con người cũng rất độc đáo và sắc nét ở ông. Dù là đọc qua các bản dịch, người ta không thể không cảm thấy “khuôn mặt riêng” của văn xuôi Baldwin, thứ văn thu gồm trong mình những yếu tố hết sức trái ngược nhau: cái dữ dội của đời sống, được nói lên một cách ngắn gọn nhất, gần như là tiết kiệm lời lẽ, mà vẫn có sức  khắc hoạ ghê gớm ; ngay bên cạnh cái thô lỗ đến độ, là những đoạn trữ tình điềm đạm, cái  trữ tình toát ra không phải từ câu từ chữ, mà từ cảnh từ người khiến người nghe nếu suy nghĩ kỹ, muốn ứa nước mắt. Những chuyện phức tạp nhất được nói lên một cách bình dị nhất – cái truyền thống đó của văn học Mỹ, bao trùm trong văn Hemingway, Faulkner, Capote… nay lại hiện ra với vẻ riêng ở J. Baldwin. Sau hết, là cái giọng chung của tác phẩm, một thứ giọng trầm buồn, nặng nề, mang dấu ấn của những cuộc đời vừa đầy rẫy sức sống, vừa đơn độc, một kiểu hoang vắng chỉ thấy ở những vùng đất nguyên thuỷ. Không phải trong phố Bill, qua lời tự sự của Tis, chúng ta mới bắt gặp, mà đấy chính là cái giọng thấm thía trong nhiều truyện ngắn, nhiều bài chính luận của tác giả. Đọc văn J. Baldwin chúng ta nhớ tiếng trống châu Phi trầm hùng, nhớ nhạc Jazz, nhớ những tác phẩm điêu khắc của người da đen cổ đại, với lối hình dung về con người đột ngột đến kỳ quái, mà vẫn hết sức dễ hiểu. Gần hơn, chúng ta nhớ những dòng thơ Lanston Hughes:

Tôi là mt chú da đen

Đen như th đêm dày đen kt

Đen như th châu Phi thăm thm muôn trùng

Ở phương Tây, cũng như ở Liên Xô  người ta thường ví văn xuôi Baldwin với những bài Blues buồn bã, thứ hát ru thổ dân hai bờ Missisipi thường hát, những khi than tiếc về niềm hạnh phúc bị mất. Hôm nay đây, một điệu ru đó, có lẽ là một trong những điệu ru hay nhất và sâu lắng nhất của J. Baldwin có dịp đến với bạn đọc Việt Nam. Chắc chắn Nếu ph Bil lbiết nói sẽ giúp chúng ta suy nghĩ sâu sắc thêm về cuộc đời, con người và văn học, như mọi tác phẩm chân chính xưa nay từng đã biết làm như vậy.

1981


* Moravia tên thật là Alberto Pincherlo, sinh ngày 28-11-1907. Năm 1967, nhân kỷ niệm ông 60 tuổi, những tác phẩm có giá trị của ông đã được in lại thành một bộ sách 17 tập. Đại Bách khoa toàn thư của Mỹ (in 1967) gọi ông là nhà văn xuất sắc nhất của văn học Ý hiện đại.

* Theo B.A. Guilenson, tài liệu đã dẫn

** Tạp chí Văn học nước ngoài, tiếng Nga , số 2,1979

* Theo Ngôi nhà có nhiều cửa s,  bản dịch tiếng Nga, Tiến b, 1973

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: