Category Archives: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Văn hóa và hội nhập

Văn hóa và hội nhập -Được nhiều hơn mất?
Với hội nhập, chúng ta đã tự khác đi bao nhiêu để rồi trong thâm tâm lại biết rằng ngày mai còn khác nữa, tuy rằng cốt cách lớn của dân tộc thì chẳng bao giờ suy suyển…
Vào những năm chiến tranh, dân Hà Nội không mấy ai dám mơ tới chuyện được đi nước ngoài, cả đám viết văn cũng vậy. Nên hè 1973 khi nhà thơ Xuân Sách ở tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi được xếp một chân trong đoàn Việt Nam đi dự liên hoan thanh niên và sinh viên ở Berlin thì tất cả cơ quan đều ồ lên kinh ngạc.
Trở về, ai cũng ướm hỏi người đi xa xem có cảm giác gì lạ. Còn nhớ lúc ấy Xuân Sách dành cho bọn tôi một bất ngờ quá thú vị, khi bảo:
– Ra nước ngoài mới thấy mình thật là người Việt Nam. Ví dụ ư, cứ lâu lâu lại vỗ vào túi quần, chỉ sợ mất cắp. Phải nói là kỳ, vì có người nước nào người ta thế đâu?
Gần đây hơn, một cô diễn viên cũng dành cho người đọc chúng tôi một bất ngờ tương tự, khi trả lời trên mặt báo về cảm tưởng sau một chuyến tham quan nghề nghiệp:
– Diễn viên nước người ta lao động cứ gọi là mửa mật ra. Nhận vai về đọc sách nghiên cứu thể nghiệm đủ điều. Chứ có ai như diễn viên mình, nhiều khi lời thoại cũng không thuộc, ra sân khấu chỉ nhớ mang máng rồi bịa văng mạng. Bấy giờ mới nhớ cái câu ai đó bảo rằng chính ra người mình rất lười. Ở nhà với nhau, tưởng đó là một nhận xét đầy ác ý của kẻ mất giống. Đến lúc xem người ta tập thì lắc đầu lạy thày hết.
Tôi tin rằng loại trừ những người xuất cảnh cốt tìm cách đua đòi với Tây trong hưởng thụ, những người đi nước ngoài một cách nghiêm túc thường cũng bàn nhau những chuyện tương tự.
Vả chăng chẳng cần đi đâu xa, chỉ cần xem cái cách Tây, Tàu người ta đến Việt Nam làm việc cũng đã giật mình. Các gia đình có người đi làm cho các hãng nước ngoài hẳn hiểu con em mình kiếm được đồng tiền đâu có dễ. Chăm chỉ, cầu tiến cầu đổi mới, tôn trọng kỷ luật lao động… bao nhiêu thói quen chúng ta phấn đấu mãi không được, với họ chỉ là yêu cầu tối thiểu. Trong khi phải cố thích ứng để kiếm đồng tiền nuôi thân, nhiều lúc người đi làm thuê là chúng ta xót đau, oán trách. Nhưng lúc bình tĩnh ngồi nghĩ, lại cảm thấy nhờ thế được nâng mình lên. Và điều quan trọng nhất, qua cái sự kiếm cơm của thiên hạ, tự nhận ra con người thực của mình. Với từng cá nhân cũng vậy mà với cả xã hội cũng vậy.
Một cơn địa chấn
Đây chính là cái tác động của hội nhập đối với xã hội về mặt văn hóa. Nó giúp chúng ta tự nhận thức về mình tốt hơn, đầy đủ, chính xác hơn.
– Thế chẳng nhẽ nếu không tiếp xúc với người thì ta không tự biết được mình? – Có bạn sẽ hỏi.
– Đúng vậy. Ngồi một mình dễ vuốt ve nịnh nọt nhau lắm. Chính các cụ xưa cũng đã bảo “Ở nhà nhất mẹ nhì con – Ra đường lắm kẻ còn ròn hơn ta”. Nhất là chúng ta vừa qua một thời chinh chiến.
Chiến tranh đòi hỏi tập trung sức người, sức của mạnh mẽ cao độ. Sự hạn chế trong tiếp xúc với các nước khác những năm chiến tranh là đúng. Chỉ có điều không nên quên là cũng vì thế, một thời gian dài, tuy đã ra khỏi chiến tranh, song cái thói quen sống một mình ở cả cộng đồng càng được cố kết lại để làm nên nhiều ảo tưởng. Khả năng tự nhận thức lúc ấy bị hạn chế. Ta bằng lòng với mình. Ta ngại thay đổi. Ta thấy chỉ có ta là nhất.
Đạo diễn điện ảnh F. Fellini từng ghi nhận một trạng thái của dân tộc Ý, nó cũng là tình trạng thấy ở nhiều dân tộc khác: “Người ta bảo với chúng tôi rằng chúng tôi là một dân tộc vĩ đại và hạnh phúc nhất. Chúng tôi tin ở điều đó, kết cục không còn biết gì về các dân tộc khác, cũng như về bản thân mình”.
Nhưng ở thời đại thông tin, tình trạng đó không thể kéo dài. Xu thế hội nhập đã đến đúng lúc, cả thế giới như ùa vào ta, tạo nên những bỡ ngỡ kỳ lạ. Chưa ai tổng kết một cách đầy đủ, chỉ tự nhủ đó là cả một chấn động lớn. Trải qua cay đắng ngọt bùi, lắm lúc thấy hình như quá hỗn độn, quá rắc rối, song chỉ cần lùi ra xa một chút thì cả quá trình tư tưởng đã hiện ngay thành một đồ thị rõ rệt.
Ra khỏi chiến tranh, sau những năm tháng loay hoay hồi phục lại một cuộc sống bình thường, nay đến lúc việc xây dựng đất nước đặt ra nghiêm túc hơn bao giờ hết: Ta là ai? Ta đang ở trong tình trạng như thế nào? Phải tìm những yếu tố mới ở đâu? Thế nào là mới? Ta sẽ làm lại chính ta, làm lại xứ sở ta ra sao? Những câu hỏi ấy không đặt riêng ra cho ai mà cho cả xã hội.
Nếu trước kia, khi phải đối mặt với tất cả những vấn đề lớn tầm cỡ như thế, ta chỉ âm thầm tìm về cách xử lý của ông cha và kinh nghiệm của bản thân trong chiến tranh thì nay ngược lại, hoàn cảnh chung quanh luôn luôn phải được tính tới. Trước khi tìm về một con đường riêng của Việt Nam, điều băn khoăn thường trực của ta là: Ta có gì khác, có gì giống với các nước khác? Qua người, ta hiểu mình ra sao? Ta sẽ áp dụng những kinh nghiệm thế giới ra sao?
Sự so sánh cứ đến một cách tự nhiên, tiếp đó là sự học hỏi vì nó sẽ là một yếu tố thúc đẩy mọi tiến bộ của xã hội.
Được nhiều hơn mất, có cái được ngay trong cái mất
Phải nói ngay một sự thực là trong buôn bán xuất nhập khẩu, trong đưa người đi lao động, trong đón khách du lịch… hình như ở tất cả mọi lĩnh vực, ở đâu có hội nhập là ở đấy ta có những va vấp.
Song, khác với thời xưa, nay những vấn đề ấy không cần che giấu mà cả xã hội cùng xới dần ra để tìm cách giải đáp.Và không đổ lỗi cho bất cứ ai nữa, lỗi lầm thiếu sót của chính chúng ta được soi rọi kỹ nhất. Nền kinh tế tiểu nông tiếp đó là chiến tranh khốc liệt để lại nhiều di lụy.
Cẩu thả, tùy tiện đã thành một nếp sống tự nhiên. Ham hố thay đổi nhưng lại ít chịu học hỏi để thay đổi. Quá dễ mệt mỏi khiến khả năng thích nghi sút giảm, cái gì cũng chỉ muốn “mì ăn liền”, muốn kết quả ngay. Sốt ruột vì sự lạc hậu so với nước ngoài, ta tưởng có thể đón đầu, có thể dùng cái khôn vặt tinh tướng để qua mặt thiên hạ. Biết đâu rằng làm ăn thời buổi này phải lấy thật thà nghiêm túc và tinh thần thực sự cầu thị làm đầu.
Rộng ra mà nói, còn rất nhiều việc ta phải hoàn thiện mình, không thay đổi và hoàn thiện thì rất khó sống với cái thế giới mà ta chỉ là một bộ phận.
Một khi nhận thức được như thế, tức là chính nền văn hóa của chúng ta đã thay đổi. Mà tất cả có được là nhờ công khai minh bạch trong tính toán, sòng phẳng trong tiếp xúc, và có quan hệ đúng đắn với thế giới bên ngoài, nhờ biết tận dụng hội nhập.
Với hội nhập, chúng ta đã tự khác đi bao nhiêu để rồi trong thâm tâm lại biết rằng ngày mai còn khác nữa, tuy rằng cái cốt cách lớn của dân tộc thì chẳng bao giờ suy suyển.
Thế còn những cái mất, những hư hỏng như học đòi học mót đua đả hưởng thụ quên cả lịch sử tổ tiên mà gần đây ai cũng thấy chướng? Bởi chúng xuất hiện nhiều trong thời hội nhập nên ta tưởng tất cả lỗi là từ ngoài vào. Nhưng nói thế là nhầm. Cái chính là những căn bệnh đó đã sẵn có trong nội tạng xã hội, quá trình hội nhập chỉ làm chúng bộc lộ rõ mà thôi. Đánh giá đầy đủ cái sự gọi là mất này, lại thêm một dịp để chúng ta có ý thức về mình, thậm chí có thể nói là cảnh giác ngay với chính mình, và đó chính là cái được lớn tìm thấy trong những mất mát không thể tránh.
Theo Vương Trí Nhàn -Thời báo kinh tế Sài Gòn

Advertisements

Tác phẩm Kim Dung là một bách khoa toàn thư

Thu Hồng- Hương Lan
Trao đổi với Nhà lý luận phê bình văn học Vương Trí Nhàn
Tác phẩm Kim Dung là một bách khoa toàn thư

Cuối tháng 10 vừa qua, nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn Kim Dung, một hội thảo quốc tế về Kim Dung đã được tổ chức tại quê hương ông, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, với sự tham gia của hơn 100 đại biểu đến từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có nhà lý luận phê bình Vương Trí Nhàn. Ông mang về làm quà cho độc giả Việt Nam 2 kg… tham luận cùng đầy ắp những câu chuyện thú vị về con người và văn chương Kim Dung. Ông cho biết:
– ở Trung Quốc, giá trị tác phẩm Kim Dung đã được công nhận từ lâu và hội thảo tiếp tục ghi nhận những bước tiến trong nghiên cứu về Kim Dung. Điều thú vị là ở đây có cả hai luồng ý kiến: đồng tình và phản bác. Phía đồng tình cho rằng: nếu thừa nhận giá trị của những Tây du ký, Thuỷ Hử, Tam quốc chí thì cũng phải thừa nhận Kim Dung, bởi sức hút mãnh liệt của các tác phẩm và những nhân vật mang tính khái quát cao tồn tại lâu dài trong văn học Trung Quốc.
Theo họ, giá trị lớn nhất của tiểu thuyết Kim Dung nằm ở đâu?
– ở hai khía cạnh. Thứ nhất là khả năng phản chiếu thế giới hiện đại. Cho dù thế giới của Kim Dung không phải thế giới chúng ta đang sống, nhưng những nhân vật ông tạo nên như Nhạc Bất Quần, Đông Phương Bất Bại, Vi Tiểu Bảo… đều mang đậm dấu ấn của xã hội Trung Quốc nửa đầu thế kỷ 20. Đặc biệt, vấn đề tiêu biểu trong Kim Dung là sự lẫn lộn chính tà và đó cũng chính là điểm “nóng” của thế kỷ 20. Tại hội thảo, một vị giáo sư đã phát biểu một câu tôi rất thích: “Cái đáng sợ nhất là chính tà lẫn lộn và trong thế kỷ 20, nó rõ hơn bao giờ hết. Nhưng điều đó không phải một thảm hoạ mà là một sức mạnh của đời sống”. Theo tôi, những vấn đề Kim Dung khắc hoạ chưa có trong thế giới cổ điển, mà đến thế kỷ 20 mới xuất hiện. Có lẽ khi ông viết, những biến động của xã hội Trung Quốc đ• tác động đến ngòi bút của ông, thúc đẩy trí tưởng tượng của ông.
Thứ hai là tính hiện đại. Về chất liệu, những câu chuyện của ông là chuyện cổ, nhưng về mặt vấn đề nó rất mới, rất gần gũi với thế giới hiện đại. Chỉ cần một ví dụ là võ thuật. Chúng tôi đã tìm hiểu về võ công Kim Dung và phát hiện ra những nét tương đồng với tư duy của vật lý lượng tử lại đưa ra khái niệm vật lý bất định: trong điều kiện này thì vật này có chất này, còn trong điều kiện khác nó có chất khác. Chính tư duy hiện đại làm cho võ thuật Kim Dung mở mẻ, lạ lùng và kỳ dị.
Riêng ông suy nghĩ thế nào về tác phẩm Kim Dung?
– Với tôi, tác phẩm Kim Dung là một bách khoa toàn thư về Trung Quốc, không chỉ về võ công mà từ vấn đề gảy đàn, uống rượu, thuốc, sự hình thành các môn phái Võ Đang, Thiếu Lâm… rồi mối quan hệ giữa Trung Nguyên với Tây Tạng, Tây Vực. Có thể nói, ông viết như một nhà nghiên cứu. Dễ hiểu vì sao, Trung Quốc có cả môn Kim học với nhiều trường phải khác nhau. Tôi đang cầm trong tay một tài liệu rất mới của Trung Quốc về những cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20, trong đó có 2 tác phẩm của Kim Dung là Xạ điêu anh hùng truyện và Lộc đỉnh ký. Ông Nghiêm Gia Viên, Chủ nhiệm khoa Văn học hiện đại Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh đã từng nói: Kim Dung đã làm thay đổi quan niệm về văn học “thông tục”. Đến hội thảo, ông nói rõ hơn: “Tôi không nói Kim Dung là nhà cách mạng trong văn học- là những người phải vừa có lý luận, vừa có thực tiễn. Kim Dung không có lý luận, chỉ có thực tiễn thôi. Ông đã làm một cuộc cách mạng lặng lẽ”
Gần đây, có tờ báo Trung Quốc đ• liệt Kim Dung vào danh sách 20 “đại sư” của văn học Trung Quốc, xếp nhà văn này ngang hàng với Lỗ Tấn, Ba Kim, Mao Thuẫn, Lão Xá… và vì thế đã gây nhiều tranh cãi. Phe “phản bác” Kim Dung tại hội thảo hẳn không đồng tình với nhận định này?
– Đúng. Họ băn khoăn về việc ban đầu, Kim Dung viết tiểu thuyết võ hiệp thực ra là để kéo độc giả về cho tờ Minh Báo của mình hay tiểu thuyết Kim Dung nặng tính “giải trí”… Cái độc đáo của Kim Dung chính là ở chỗ đó. Không thể phủ nhận ông cũng như cũng không thể đặt ông vào một hệ thống của văn học Trung Quốc. Kim Dung vẫn là một “chiếu riêng”. Có một điều tôi thấy thú vị. Cho dù là phản bác hay đồng tình thì tất cả đều rất… vui vẻ. Thậm chí khi Kim Dung bảo sẽ dành những năm cuối đời để sửa lại các tác phẩm, có người can: “Cụ cũng cao tuổi rồi, trí tưởng tượng không còn bay bổng như thời trai trẻ nữa, sửa lại là khó đấy”. Kim Dung: “ừ, cũng có lý”. Tôi nhạc nhiên vì mối quan hệ giữa họ rất tự tin và thoải mái.

” ở ta, Kim Dung nhiều người đọc, một số nhà nghiên cứu thích. Nhưng hình như, mọi người hơi… xấu hổ về sự yêu thích ấy của mình. Đặc biệt , các giáo sư đại học không ai tỏ ra quan tâm đến Kim Dung cả; trong khi ở hội thảo, tôi thấy một danh sách toàn các giáo sư đại học, phó viện trưởng… Các nhà nguhiên cứu Trung Quốc, những người được coi là “thông kim bác cổ”, họ rất chú ý và tôn trọng nhu cầu đại chúng. Cái gì mà đại chúng thích thì họ sẽ dùng tất cả tài năng của mình để làm ra những sản phẩm chất lượng nhất phục vụ đại chúng. Và vì thế, từ một tác phẩm với mục đích “giải trí” lại trở thành một tác phẩm có giá trị. Kim Dung là một điển hình. Tôi nghe nói, các bạn trẻ là những người “nghiên cứu” về Kim Dung sôi nổi nhất. Họ rất hay “chat” về Kim Dung trên mạng. Có người khuyên tôi, nếu muốn hiểu Kim Dung ở Việt Nam thế nào, cứ vào mạng là rõ” – Nhà lý luận phê bình Vương Trí Nhàn.

Tôi muốn tìm cách giải thích tại sao Kim Dung lại được tiếp nhận như vậy

* Ông vốn được biết như người chuyên canh ở khu vực phê bình văn học VN đương đại văn học .Con đường nào đã đưa ông đến với một cuộc hội thảo về Kim Dung ?

Từ lâu tôi tự xác định là để viết tốt về văn học VN , phải biết lang thang tới những khu vực khác nhau của văn học nước ngoài . Với quan niệm vừa viết vừa học, tôi đã mò mẫm làm quen với đủ loại tác giả , và một số ghi chép của tôi về Dostoievski , Tchekhov , Hemingway, Ehrenburg … gần đây đã được tập hợp trong một cuốn sách in ra đầu năm 2003 . Việc tìm hiểu Kim Dung nằm trong cái mạch đó . Bài viết mang tên Ngoài trời lại có trời lần đầu in ở tạp chí Văn học nước ngoài năm 1998 của Hội nhà văn VN , sau đó được một vài lần được in lại .
Nhiều nhà nghiên cứu ở ta như Cao Tự Thanh , Vũ Đức Sao Biển và trước kia là Đỗ Long Vân , từng say mê Kim Dung . Riêng Vũ Đức Sao Biển đã có mấy quyển sách viết chuyên về tác giả này . Tôi viết còn ít , song có may mắn là được một chuyên gia về văn học Trung quốc là Phạm Tú Châu giới thiệu với cuộc hội thảo . Chúng tôi phải có báo cáo (dịch ra tiếng Trung hoặc tiếng Anh ) gửi tới ban tổ chức trước , người ta đọc thấy được , mới gửi giấy mời tham dự .

* Ông bắt đầu mê Kim Dung từ hồi nào ?

Hồi 10-12 tuổi , sống ở Hà Nội , tôi mê các bộ kiếm hiệp Bồng Lai hiệp khách , Giao Trì hiệp nữ của Lý Ngọc Hưng chẳng khác gì đứa con trai nhỏ của tôi bây giờ mê Doremon , Bảy viên ngọc rồng , Hary Potterr . Tới khoảng mấy năm 1976 — 1980 , khi tôi đang công tác ở tạp chí Văn nghệ quân đội , hai nhà văn cùng cơ quan là Nguyễn Khải , Xuân Sách , và các nhà văn khác như Hà Ân , Nghiêm Đa Văn , Lâm Quang Ngọc … đều có đọc chưởng Kim Dung, và chúng tôi thường xuyên bàn bạc với nhau về những Cô gái Đồ Long , Tiếu ngạo giang hồ , Thiên long bát bộ v..v..Nên biết thêm rằng không phải các nhà văn ấy quá dễ tính đâu, ví dụ Quỳnh Dao thì cũng đầy sách đấy mà họ ít đọc , và trong các tác giả chưởng , cũng chỉ có Kim Dung được đọc nhiều nhất .

* Ông tìm thấy gì ở chưởng Kim Dung ?

Nhiều lắm . Đọc Kim Dung để nghĩ lại về văn học .Ví dụ ta hay nói người đọc chỉ quan tâm tới những gì gần gũi với họ , và viết về người thực việc thực rất dễ được chú ý . Hoá ta nhầm . Nhu cầu làm quen với thế giới tưởng tượng là nhu cầu phổ biến trên khắp thế giới , vì thế những C. Andersen , E.T.A Hoffmann ở phương Tây, những Liêu trai chí dị hay Tây du ký ở phương Đông mới có đất sống . Lại như nhiều người hay nhận xét một cách khinh bạc rằng “ vẽ ma không khó vẽ người thực mới khó “ , và quen mồm rồi đâm thao thao bất tuyệt , xem tất nhiên là thế không có gì phải bàn cãi nữa ! Nhưng nay đã rõ nói thế là hàm hồ . ở những người tầm thường , trí tưởng tượng cố nhiên cũng rất tầm thường , thứ ma họ cất công vẽ nên trong trang sách cũng nguệch ngoạc ,xẹo xọ , non yểu , ngớ ngẩn … như chính những bóng dáng của đời thực mà họ trình ra trước bạn đọc . Còn về phần mình , Kim Dung đa góp phần chứng minh rằng ngay trong xã hội hiện đại , trí tưởng tượng rất cần , có thể nói đấy vẫn là yếu tố hàng đầu thu hút người ta cầm lấy cuốn sách .

*Tức là ông chú ý tới những vấn đề thuộc về tư duy văn học ?

Với tư cách một ngươì phê bình , tôi không có cách nào khác .

* Thế còn con người tác giả ?

ồ , đấy cũng là điều rất đáng nói nữa . Tôi khâm phục sức làm việc phi thường của cây bút này . Có thời gian ông mài miệt với công việc , sáng thì sống với cuốn truyện chưởng viết dở trên báo , chiều thì phải lo nộp bài cho tờ Minh báo mà ông sáng lập , tưởng như phải làm việc đến 18 –20 giờ một ngày . Riêng trong việc viết chưởng , tôi thấy ở ông có cốt cách của một người viết văn đồng thời là một nhà nghiên cứu , viết bằng những điều dày công truy tìm sách vở mà có , và biết mang những kiến thức đa dạng đã nghiên cứu được vào trang viết . Tôi thấy nhiều bản tham luận trong các hội thảo Kim Dung trước đây đi sâu phân tích quan niệm và cách khai thác lịch sử của Kim Dung. Mà một cây bút thông thạo lịch sử thường đồng thời cũng là một nhà văn hoá .

*Cụ thể trong cuộc hội thảo lần này , tham luận của ông đi vào vấn đề gì ?

Chị Phạm Tú Châu bảo tôi : Hội thảo quốc tế người đủ các nước đến dự , cái gì cũng đã có người cày xới đến . Tốt hơn hết là ta nói về cái gì ta thạo. Và tham luận của chị là về việc nghiên cứu và dịch Kim Dung ở VN . Tôi thì điểm lại các chặng đường công chúng ở ta tiếp nhận nhà văn này và muốn tìm cách giải thích tại sao Kim Dung lại được tiếp nhận như chúng ta đang thấy

* Nếu được gặp Kim Dung , ông sẽ hỏi nhà văn điều gì ?

Có một điều làm tôi lưu ý là ở đại lục hiện nay , người đọc Kim Dung rất đông và trong hàng ngũ những nhà nghiên cứu thâm hậu về Kim Dung có nhiều người là giáo sư đại học , kể cả Đại học tổng hợp Bắc Kinh ( gọi tắt là Bắc Đại ) , hiện là một trong những trường đại học lớn , rất có uy tín trên thế giới . Nên tôi băn khoăn muốn biết khi viết các bộ tiểu thuyết , Kim Dung có nghĩ đến công chúng đại lục không , những gì xảy ra ở đại lục hơn nửa thế kỷ qua có trở thành ám ảnh trong các trang sách của ông không , và hôm nay nhìn lại ông thấy thế nào . Sở dĩ tôi quan tâm đến vấn đề đó vì cho rằng lý do để bạn đọc ở Bắc Kinh và ở Thượng Hải , ở Tứ Xuyên và ở Tây An mê Kim Dung cũng là lý do để bạn đọc VN ở Hà Nội , Hải Phòng hôm nay truyền tay nhau đọc những Tiếu ngạo giang hồ với lại Thần Điêu đại hiệp … Khi thích một cái gì ta phải tìm ra lý do tại sao ta thích . Trong trường hợp Kim Dung , sẽ rất nhầm nếu chỉ dừng lại ở nhu cầu giải trí .

Đức Trung
( thực hiện )

Chung quanh câu chuyện Tái xuất giang hồ của Kim Dung

Tuyết Sơn phi hồ và Xạ điêu anh hùng truyện , Tiếu ngạo giang hồ và ỷ thiên Đồ Long ký ( bản dịch cũ gọi là Cô gái Đồ Long ) …Vừa qua một loạt bộ chưởng nổi tiếng của nhà văn Trung quốc sống ở Hồng Kông là Kim Dung đã được in ra , có bộ theo bản dịch cũ ,có bộ được dịch lại và mặc dù hiện thời sách in ra không biết số lượng thực là bao nhiêu ,những ai đã mua nó , song đại khái có thể dự đoán dù không tạo nên một cơn bùng nổ , những bộ chưởng này vẫn phải được xếp vào loại bán chạy . Từ góc độ văn học mà xét , nên nhìn nhận hiện tượng tái xuất của Kim Dung như thế nào ? Để trả lời câu hỏi này , TT& VH đã có cuộc bàn tròn trao đổi với các vị : dịch giả Phạm Tú Châu , một chuyên gia hàng đầu về văn học Trung quốc hiện đại ; nhà thơ đồng thời là một ngòi bút thích viết truyện lịch sử Ngô Văn Phú ; và ông Trần Thức , trưởng phòng liên kết của công ty Phương Nam là đơn vị đã cùng với NXB Văn học có công xúc tiến việc in sách .

* Thưa anh Trần Thức , nếu có thể , nhờ anh điểm lại quá trình đưa sách Kim Dung trở lại với bạn đọc . Lý do nào đã thúc đẩy các anh hăng hái cộng tác với các đơn vị khác làm công việc này .
Trần Thức (T.T. ) Từ mấy năm trước , tạp chí Văn học nước ngoài ( VHNN ) của Hội nhà văn VN đã ra số đặc biệt về truyện chưởng Kim Dung và đã cho dịch in Tuyết Sơn phi hồ , công ti Phương Nam chỉ cùng với các anh ở VHNN lo chuyển tác phẩm này thành sách . Tiếp đó , chúng tôi mới mạnh dạn phối hợp với NXB Văn học đặt cả chương trình làm lại sách chưởng . Có mấy lý do thúc đẩy chúng tôi làm việc này , trước tiên là nhu cầu bạn đọc như trên vừa nói , thứ nữa là qua báo chí nước ngoài chúng tôi được biết rằng giờ đây Kim Dung được đọc không những trong cộng đồng người Hoa ở khắp thế giới , mà nhiều học giả ở Mỹ ở úc cũng chú ý nghiên cứu tác phẩm của ông . Riêng ở Trung Hoa lục địa , bên cạnh một số người bài bác thì cũng rất nhiều người tìm đọc Kim Dung , sự ngưỡng mộ mà lớp thanh niên và các giáo sư nói chung là các trí thức dành cho ông khiến người ta phải ngạc nhiên ( có người đặt Kim Dung trong một danh sách nhà văn hiện đại bắt đầu từ Lỗ Tấn và cho rằng ông đã làm một cuộc cách mạng trong việc khôi phục ảnh hưởng của tiểu thuyết truyền thống .)
* Vậy là theo anh Thức thì ngay từ đầu lo việc tái xuất Kim Dung , những người làm sách đã chú ý đặt loại tác phẩm chưởng này vào phạm vi của văn học . Chúng tôi muốn nhờ chị Châu và anh Phú bình luận thêm về điều này
Ngô Văn Phú ( N.V. P. ) Từ nhỏ bọn tôi đã đọc các loại dã sử như Hán Sở tranh hùng hoặc Chinh đông Chinh tây sau đó lại đọc các loại kiếm hiệp như Bồng lai hiệp khách Giao trì hiệp nữ nên đến với chưởng cũng là chuyện tự nhiên . Hồi còn làm báo Văn nghệ, tôi nhớ là anh Nguyên Văn Bổng anh Kim Lân rất mê mấy bộ chưởng mà hôm nay mới tái bản . Cả anh Nguyên Ngọc nữa . Các anh ấy mê chưởng như một số anh khác mê bóng đá . Nhưng ở đây theo tôi còn có sự thúc đẩy bên trong . Đọc chưởng người ta tìm thấy một cuộc sống riêng mới nhìn có vẻ thật khác với cuộc sống bình thường mà suy cho cùng lại vẫn có những chỗ gần với cuộc sống ở đâu cũng có .
Phạm Tú Châu (P .T.C ) Văn học Trung Hoa cổ sớm chia ra làm hai loại một là nhã văn học và một nữa là tục văn học . Nhã tức là những gì cao quý có phép tắc có mẫu mực dành riêng cho lớp người chọn lọc , còn tục là những gì tầm thường dung dị dành cho đại chúng . Đa số các tiểu thuyết được xếp vào dòng tục văn học này . Nhưng ở Trung quốc cái quan niệm ấy dần dần cũng có thay đổi , những bộ tiểu thuyết có giá trị như Thuỷ Hử , Tam quốc , Tây du ký , mặc dầu ban đầu bị coi thường sau cũng được công nhận, chúng có được cái vinh dự mà người ta vốn chỉ dành cho những cuốn gọi là nhã . Truyện chưởng Kim Dung nằm trong cái dòng tưởng như là tục mà đạt tới trình độ nhã đó .
Xin nói thêm là ngoài những bản dịch của người khác tôi có trực tiếp đọc một số tiểu thuyết Kim Dung trong nguyên bản và đã bắt tay dịch một số cuốn . Kim Dung trong Trung văn rất dễ đọc .Từ ngữ ở ông phong phú nhưng lại chân chất sáng rõ , không có những từ hóc hiểm hoặc những từ địa phương mà phải tra từ điển mãi mới thấy .Có lẽ mảnh đất Hồng Kông mà ông sống và hành nghề — nơi người tứ chiếng họp lại và có sự buôn bán thông thương với toàn thế giới — đã khiến ông có cái dễ dàng và tạo cho người khác dễ dàng trong giao tiếp . Lại cũng do Kim Dung đã từng học luật từng viết kịch bản phim , nên tác phẩm của ông nói chung có cấu trúc chặt chẽ tính thẩm mỹ cao đoạn kết của truyên nhiều bất ngờ .
* Ta hãy cùng thử xác định những nhân tố nào đã tạo nên sức hấp dẫn của Kim Dung?
N.V.P.. Các nhà văn lớp trước dù đọc kiếm hiệp song vẫn coi thường vì thấy các sáng tác của Lý Ngọc Hưng phần lớn đi theo sơ đồ có sẵn cuối cùng cũng quy vào chuyện phò vua giúp nước nên thấy nhạt . Còn truyện chưởng của Kim Dung thì đọc xong thấy sợ vì nó có không khí của xã hội hiện đại mà tư tưởng của nó cũng đúng là hiện đại .
T.T. Khối lượng kiến thức văn hoá được Kim Dung đưa vào chưởng thật đồ sộ ở đó có lịch sử có tôn giáo có các môn phái trong võ học lại có cả trà đạo , thư hoạ ,y học v..v.. , rất nhiều thứ mời gọi bạn đọc nghiền ngẫm tìm hiểu thêm .
P.T.C. Nhiều người đã công nhận rằng Kim Dung khéo kết hợp cách viết tiểu thuyết chương hồi của Trung quốc với cách kết cấu đa dạng phức hợp của tiểu thuyết hiện đại . Tôi muốn nói thêm sức hấp dẫn của chưởng Kim Dung là ở ngay nội dung của nó . Ví như cái chuyện tranh chấp quyết liệt giữa chính và tà giữa thiện và ác , hoặc sự phân biệt chính tà ngày một khó khăn . Chỉ trừ chứng ta muốn cung cấp cho bạn đọc những chân lý ngây thơ đơn giản , còn nếu thực sự cầu thị , phải thấy Kim Dung nói đúng . Con người thật nhiều rắc rối ,con người thường biến đổi do quyền lực và địa vị : khi đề cập tới những chủ đề đó tức Kim Dung đã chạm tới những vấn đề nhân văn nhân bản .
* Hẳn sự tái xuất hiện của Kim Dung lần này có gợi cho bạn đọc và mỗi người chúng ta những suy nghĩ mới văn học ?
T.T. . Cùng với việc in lại Kim Dung chúng tôi còn tổ chức cho dịch in và tham gia phát hành mấy cuốn sách nghiên cứu : Kim Dung tác phẩm và dư luận , Kim Dung cuộc đời và tác phẩm , Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hoá Trung quốc , Giải mã Kim Dung vv. .Vừa đọc vừa cùng suy nghĩ về những cái mình đang đọc thì sự đọc mới thật hoàn toàn và đó sẽ là những gợi ý để suy nghĩ tiếp về văn học .
N.V.P. Trên tôi đã nói một số nhà văn mê chưởng Kim Dung vì nó hấp dẫn . Mỗi ngòi bút có một tạng riêng song viết sao để người ta không bỏ được sách mình là điều nhà văn nào cũng thầm ước ao . Nhưng tôi đang thoáng cảm thấy hình như lớp trẻ hiện nay không quá vồ vập chưởng như các thế hệ lớp trước . Có thể vì họ không thật thạo lịch sử ? Mà cũng có thể vì nay là lúc họ có nhiều phương tiện giải trí hơn bao giờ hết ?
P .T .C Đang đọc những trang sách toàn viết về cuộc sống giống như mình đang sống những trang sách tạm gọi là quá thực ( chữ thực hiểu theo nghĩa thông thường tai nghe mắt thấy ) giờ được tiếp xúc với một thế giới đâu đâu , một thế giới toàn chuyện giời ơi đất hỡi mà lại lôi cuốn từ đầu đến cuối , hỏi mấy người thoát mà không mê Kim Dung cho được ? Với tôi, truyện chưởng giúp tôi trở lại với cái chất kỳ ( lạ lùng ,phóng khoáng , ngoài trí tưởng tượng ) vốn là một nét đặc sắc của văn hoá Trung Hoa , mà cũng thường thấy có ở nhiều nền văn học lớn trên thế giới .
* Kim Dung không thay thế được bất cứ ai nhưng thiếu Kim Dung thì văn chưng cũng bớt thú vị đi một chút — chắc nhiều người chúng ta cũng cảm thấy như thế . Xin cảm ơn các anh các chị .
Vương Trí Nhàn
( thực hiện )

Hai lần thương khó

I. Bắt đầu từ sự ưu ái của đông đảo bạn đọc đối với văn học

Tháng Giêng ở Moskva, trời thường lạnh 15-20 độ dưới không. Phải đứng trên tuyết hàng giờ ai mà không ngại! Nhưng ngày 25-1-1988, ở cổng nghĩa trang Vagankov, một nghĩa trang thuộc trung tâm thủ đô Liên Xô, lúc nào cũng đông nghịt. Người đứng xếp hàng vài trăm mét. Nhiều người tay cầm hoa. Họ đến đây để viếng một nhà thơ. Người đọc họ hết lòng yêu mến đó là Vysotxki. Ông nguyên là ca sĩ, diễn viên kịch ở nhà hát Taganka. Sinh thời, Vysotxki rất nổi tiếng. Người ta kể rằng ngày ấy đi đâu cũng đã nghe thấy tiếng hát của ông. Kỷ niệm 50 năm ngày sinh của thi sĩ, sau khi viếng mộ, nhiều người chưa chịu về mà cứ lẩn quẩn chung quanh nghĩa trang, những người có máy mở to để đưa giọng hát của Vysotxki với chung quanh. Có ai đó còn dán lên tường những bài thơ nói rằng Vysotxki sống mãi.
Từ lâu, nhân dân Liên Xô đã có thói quen vô cùng ưu ái với những người cầm bút. Còn nhớ trường hợp Ehrenburg: Vào những năm chiến tranh, giấy cuốn thuốc rất thiếu bộ đội phải lấy cả giấy báo để thay. Nhưng ở nhiều đơn vị có lệnh: cấm cuốn thuốc bằng các bài báo của Ehrenburg. Sau chiến tranh, nghe đâu còn có giai thoại: khi đường đông, xe tắc, có những anh chàng láu cá đã đứng lên kêu to: “Xin lỗi, hãy nhường cho xe Ehrenburg đi”, và những người gần đấy lại rẽ ra. Danh hiệu nhà văn được hiểu như một quyền lực, nhiều người cảm thấy cần phải nể trọng.
Còn gì thú vị hơn là sau khi đọc xong sách, có dịp trò chuyện với người đã viết ra quyển sách đó? ở Liên Xô những năm tám mươi , những cuộc trò chuyện như thế được tổ chức đều đặn. Vé vào cửa cao thì 5 rúp, thấp hơn thì 2 rúp (giá bằng từ 1 đến 2 kg thịt bò). Vậy mà không dễ gì kiếm được vé. Người ta thường đến để mong tìm thấy ở nhà văn câu trả lời cho những vấn đề quan trọng. Về xuất bản, các nhà văn nổi tiếng luôn luôn được in lại, bởi lẽ in ra bao nhiêu cũng là không đủ. Lấy một ví dụ về sự bùng nổ của việc phổ biến sách báo: Là tạp chí ra hàng tháng của Hội Nhà văn, tờ Novyi mir (Thế giới mới) là một thứ xuất bản phẩm hoàn toàn mộc, nghĩa là chỉ có chữ là chữ, ruột không có tranh minh hoạ, bìa không vẽ vời gì thêm, suốt đời một màu bìa, một kiểu chữ trên măng-xét; song tờ tạp chí hơn 200 trang khổ to mỗi số đó in ra hàng tháng với số lượng trên một triệu bản. Khi tổng biên tập tờ tạp chí này qua Mỹ, báo chí và bạn đọc bên ấy cũng ngạc nhiên, không hiểu sao Novyi mir có thể có số lượng in lớn đến như thế! Rõ ràng ở nước Nga hôm qua và đất nước của các Xô-viết hôm nay, văn học luôn luôn là thứ thức ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân.

II…. Đến sự quan liêu trong cách quản lý

Nếu từ phía các bạn đọc bình thường, sự chú ý tới các nhà văn là một cái gì tự phát hồn nhiên, thì từ phía Nhà nước, nó lập tức biến thành chính sách, chế độ, các quy định thành văn và không thành văn, tất cả có sức chi phối mạnh mẽ đối với đời sống văn học.
Hiện chưa có ai đứng ra nghiên cứu cơ chế ngành sáng tác văn học ở Liên xô, nhìn từ góc độ luật pháp, xã hội học, kinh tế học. Trợ cấp của Nhà nước cho các tổ chức văn học hàng năm là bao nhiêu (không phải chỉ trợ cấp bằng tiền mà còn có nhiều cách, như tính giá giấy thật rẻ hoặc bao cấp cho việc tuyên truyền phổ biến trên đài phát thanh và vô tuyến truyền hình)? Thu nhập thực tế của nhà văn là bao nhiêu? Nó là cao hay thấp so với dân thường và so với các loại quan chức? Loại nhà văn nào dễ sống? v.v… và v.v… Những điều ấy chưa thấy công bố. Song có điều chắc là trên nét lớn, ở đây chính quyền hết sức chăm chút đến đời sống văn học. Thôi thì không biết bao nhiêu thứ ân sủng được thực thi rộng rãi! Đi trên đường phố Moskva trước nhiều ngôi nhà, người có thể bắt gặp những tấm bảng đá trân trọng ghi rõ một nhà văn đã sống ở đây, từ năm này đến năm này; tới nghĩa trang danh nhân của thành phố, bên cạnh mộ các tướng tá, các nhà khoa học, là những tấm mộ đẹp đẽ của các nhà văn. Người đặt nền móng cho văn học Xô viết là Gorki. Sinh thời, Gorki đã được đề cao như một thứ thánh sống. Khi Gorki mất không chỉ có nhà hát nghệ thuật mang tên Gorki , mà đường phố lớn nhất ở thủ đô là phố Gorki, công viên văn hoá và nghỉ ngơi lớn nhất của thành phố mang tên Gorki. Rồi xưởng phim Gorki, giải thưởng Gorki v.v… Có lẽ ở bất kì đất nước nào khác, người ta cũng chỉ quý nhà văn đến vậy. Cùng với Gorki, hàng loạt nhà văn có công khác cũng rất được sủng ái, và nói chung, người ta thường nói rằng so với bên phương Tây, thì chính các tài năng “thường thường bậc trung” ở đây lại sống khá dễ chịu.
Nói một phương diện khác làm nên sự quan tâm của Nhà nước với giới sáng tác văn chương là công tác tổ chức. Như chúng ta đều biết, yêu cầu đoàn ngũ hoá trong chủ nghĩa xã hội rất cao. Người nuôi ong có hội, người chơi cờ có hội, người làm khoa học có hội – mà toàn là những hội trung ương được Nhà nước bảo trợ – Thế thì những người viết văn cũng cần phải có đoàn thể của mình! Sau Cách mạng tháng Mười, thoạt đầu còn có nhiều nhóm văn nghệ lẻ tẻ (nhóm Prolekun, nhóm RAPP…) Từ 1934, chỉ còn lại một tổ chức thống nhất là Hội Nhà văn Liên Xô. Không những mọi người dân thường đều biết mà các phóng viên phương Tây cũng kháo nhau : ở Moskva, đây là một cơ quan rất có thế lực.
Để hiểu cách Nhà nước quản lý nghề viết văn ra sao, hãy lấy một ví dụ: Trước khi mất, Simonov có để lại một hồi ký mang tên Bằng con mắt của một người thế hệ tốt. Trong thiên hồi ký mà chính Simonov chỉ đọc vào băng và tưởng là không bao giờ in ra được đó, tác giả Đợi anh về kể rằng Stalin tham gia quản lý công việc của Hội Nhà văn một cách rất cụ thể. Cử chủ tịch và tổng thư ký hội, xác định tổng biên tập các báo, tạp chí văn học… việc ấy cần có ý kiến Stalin đã đành; đến cả việc mở rộng quy mô một cơ quan ngôn luận như báo Văn học, hoặc ấn định mức nhuận bút của các loại tác phẩm, những việc đó cũng được bàn bạc trong các buổi họp do Stalin chủ toạ. Khi một tác phẩm như Khói quê hương của Simonov vừa ra đời bị báo Văn hoá và đời sống hồi ấy (1947) tấn công,theo kinh nghiệm riêng , ông hiểu ngay rằng chính Stalin không thích tác phẩm của mình và chỉ ngồi tìm cách lý giải bằng được tại sao có sự không thích ấy. Trên cương vị phó Tổng thư ký Hội Nhà văn, Simonov từng là thành viên ban giám khảo giải thưởng Stalin. Có dịp họp ở đấy nhiều năm, Simonov nói rõ là: chính Stalin đặt ra các loại giải (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); lại chính Stalin cân nhắc để cho giải từng tác phẩm cụ thể. Nghĩa là những thứ đưa lên; tự Stalin đọc hết. Rồi sau khi tham khảo ý kiến mọi người, Stalin lại dành cho mình quyền quyết định cuối cùng. Không có chi tiết nhỏ nào lọt qua mắt Stalin cả.
Tại sao chính quyền Xô viết trong trường hợp này, đại diện là Stalin lại có sự quan tâm, sự trọng đãi văn học đến vậy? Bởi vì Nhà nước rất hiểu sự lợi hại của văn nghệ, hoặc như chúng ta vẫn nói, Nhà nước hiểu rõ tầm quan trọng của nó, sức mạnh của nó trong việc động viên quần chúng. Thành thử có thể làm ghi cho giới văn nghệ , Nhà nước không tiếc. Từ việc chỉ đạo người viết văn nên sống ra sao, làm việc ra sao, đến tạo điều kiện để người viết có chỗ ngồi dễ dàng, rồi tổ chức in ấn, rồi hướng dẫn dư luận quần chúng, tất cả các khâu ấy, có người lo cho cả. Để bù lại, điều mà Nhà nước mong muốn chỉ là văn học hay hơn, có sức thuyết phục hơn, và phải đi theo đường ray an toàn, đừng phiêu lưu vào những khu vực gây nên phiền phức; còn các nhà văn thì nên sống sao cho trật tự, trên dưới kỷ cương rành mạch.
Đến đây thì chúng ta thấy rút cục sự quan tâm của chính quyền – một thiện ý ban đầu phải nói rất tốt đẹp — đã đủ tạo ra mầm mống để hình thành nên chủ nghĩa quan liêu trong văn học. Yêu quá, lo quá nên phải giữ gìn, chỉ sợ hư, sợ hỏng, sự giữ gìn nhiều khi trở thành mục đích tự thân, an toàn trở thành cái đích mà bằng bất cứ giá nào cũng phải tới bằng được. Từ thời Stalin nghiêm ngặt đến thời Brézhnev có vẻ tuỳ tiện hơn, lỏng lẻo hơn, trước sau cho đến khi có cải tổ (1985), đó vẫn là chính sách liên tục, nên chi, chủ nghĩa quan liêu cứ thế hình thành dần dần và nó ngấm vào mỗi người một chút. Chẳng hạn, chúng ta đều biết trong văn học xã hội chủ nghĩa, việc chỉ đạo đề tài có một ý nghĩa quan trọng, và đây là một khu vực mà tinh thần sùng bái an toàn thấm nhuần rất triệt để. Thoạt đầu chỉ là sự gợi ý nên viết về đề tài này đề tài nọ, và sự gợi ý đó có chỗ hợp lý, nếu dừng lại đúng lúc. Nhưng dần dà, không ai bảo ai, nhiều người ngầm hiểu với nhau đó là loại đề tài duy nhất được coi trọng. Sau hết, hình thành một thứ quy định, tuy không thành văn bản nhưng rất nghiệt ngã, y như một pháp lệnh – những gì ngoài đề tài đã gợi ý đều không nên đả động tới, có thể coi đó là ta-bu, cấm kỵ. Và lối áp đặt khiên cưỡng, “trói voi bỏ rọ”, buộc văn học vào những cái khung chật hẹp như thế, không là sản phẩm quan liêu thì là gì khác? Sở dĩ một cuốn tiểu thuyết như Ngành luyện kim đen cứ bị bỏ dở mãi không được nhà văn hoàn thành, vì đó là tác phẩm viết theo gợi ý của Malenkov chứ không phải đề tài thiết thân mà Fadeev muốn viết. Nhưng tại sao tác giả Chiến bại, Đội cận vệ trẻ lại có những cố gắng tuyệt vọng đó? Bởi theo Ehrenburg, trong Fadeev có chất người lính, thấy việc cần là làm. Có thể như thế… Nhưng nên nhớ là hồi ấy khi nhà văn đi vào những đề tài “có vẻ” riêng tư (chúng tôi nói có vẻ vì trong văn học, cái thật riêng tư nhiều khi lại có ý nghĩa chung), thì tài năng đến mấy cũng rất khó được chấp nhận (trường ca Quyền tưởng nhớ của Tvardovski viết từ 1969, mãi 1987 mới được công bố). Cố nhiên, ở đây vẫn có thể có ngoại lệ; nếu nhà văn không tham lợi, không sợ “mất ghế”, kiên nhẫn và khéo léo, thì vẫn tìm được cách tồn tại của mình. Chứng minh rõ nhất cho việc này có lẽ là trường hợp Iu .Trifonov. Nguyên là, có một thời, tác giả Những sinh viên cũng nghĩ như mọi người, thấy cần đi về những miền đất hoang, về các công trường nông trường, và ông chọn cho mình vùng đất Turkmeni để đi về kâu dài . Nhưng bỗng có lần ông nghĩ lại “Tại sao không viết về những người Moskva chung quanh mình, cái phần đời sống tinh thần phức tạp, sự tha hoá con người và cuộc đấu tranh chống tha hoá của họ?”. Và thế là ông làm một cuộc du lịch ngược lại để viết ra những tác phẩm như Nửa đời nhìn lại, Nhà bên bờ sông, Ông già… gần như cuốn nào cũng là một chứng tích tốt đánh dấu nếp nghĩ một thời. Như thế có phải là tinh thần quan liêu, độc đoán trong chỉ đạo lúc này đã biến mất? Không, không phải, chẳng qua nó chỉ tỏ ra biết điều hơn một chút, uyển chuyển hơn một chút, còn thực ra vẫn như cũ, sự chỉ đạo đề tài vẫn theo những nguyên tắc vững chắc đã hình thành từ những năm 40-50. Như đã nói, sau chiến tranh , Stalin nắm đời sống văn học như trong lòng bàn tay, một trong những công cụ được Stalin sử dụng lúc ấy là giải thưởng văn học mang tên Stalin. Theo một thống kế trên báo Sự thật ngày 28-8-1988 thì từ 1942 đến 1951, số tác giả được nhận giải trong văn học nghệ thuật lên tới 1.735 người. Phải nói đó toàn là những tác phẩm lành, rõ, không có gì cực đoan, độc hại. Nhưng nhìn cho kỹ, thì trừ một số nhỏ thuộc loại xuất sắc, còn phần lớn đó là những tác phẩm trung bình, thậm chí một số rất tầm thường, đến nay không ai đọc lại. Khi những cố gắng của Stalin nhằm “nhào nặn bộ mặt nhà văn” lan đến cả các bậc thầy cổ điển, thì có nhiều chuyện kỳ quặc xảy ra. Nhà phê bình N.Ivanova có lần kể trên báo Tin Mát-xcơ-va : ở thủ đô không chỉ có một bức tượng kỷ niệm Gogol mà có tới hai. Bức tượng thứ nhất diễn tả một Gogol mà chúng ta hình dung khi đọc tác phẩm của ông; một nhà văn thông cảm với vận mệnh những con người bình thường, đau khổ vì bất lực trước những vô lý của đời sống. Còn Gogol kia, được làm do gợi ý của Stalin, do đó là chân dung của một kẻ hời hợt, hãnh tiến, giả tạo. Hai bức tượng Gogol, theo Ivanova, chính cũng là hai khuôn mặt văn học Xô viết thời gian trước đây, mà khuôn mặt thứ hai rõ ràng là một thứ “tác phẩm tuyệt vời” chỉ chủ nghĩa quan liêu mới tạo ra nổi.
Chủ nghĩa quan liêu làm cho nội dung văn học trở nên nghèo nàn, hình thức trở nên đơn điệu, nhợt nhạt. Và chủ nghĩa quan liêu đó còn chi phối cả các hoạt động nghề nghiệp của những người cầm bút. Trong khi từng người viết lo giữ gìn, cả giới văn học lo giữ gìn, xét nét nhau… thì bộ máy văn học vì nhiều lý do lại trở nên nặng nề, cồng kềnh quá mức. Tôn ti trật tự khắc nghiệt được lập ra. Trật tự này dựa theo trình độ nghề nghiệp một phần, nhưng phẩn chủ yếu, do vị thế mà người viết văn dành được trong cơ chế. Một mặt, mỗi vị thế kèm theo nhiều quyền lợi tương xứng, như cỡ nào thì được in tuyển tập, cỡ nào thì trước sau phải được giải thưởng. Rồi phân phối chỗ nghỉ sáng tác, nơi chữa bệnh. Rồi đi nước ngoài . Mặt khác, các vị thế đó rất bền vững, nhiều khi ánh sáng đã tắt rồi mà nhà văn vẫn cứ nằm ưỡn trên cái ghế sẵn có từ trước. Khi đang “có ghế” thì có viết dở một chút, cũng được nương nhẹ, thông cảm. Tóm lại tài năng nghệ thuật phải đổi ra ngạch bậc ,chỗ đứng thì mới “có ý nghĩa thực tế “. Bởi vậy, không kể bọn bất tài xoay sở chạy vạy trong bóng tối để kiếm được những chỗ béo bở ngay các nhà văn có tài cũng không thể dửng dưng với việc này; lo viết, song vẫn phải liếc mắt để ý tìm vị thế tương xứng cho mình. Một số thành công dài dài và trở thành – như cách nói đùa trong dân gian – những “bộ trưởng văn học”, dù không phụ trách bộ nào cả.

III. Nhà văn sám hối, và nỗi lo về sự bỏ hoang đáng sợ.

Mặc dù thác sinh ra không biết bao nhiêu là loại nhân vật và có thể có được quyền năng của tạo hoá trong việc hiểu biết việc đời, nhưng các nhà văn thực ra cũng yếu đuối như mọi người khác. Bên cạnh niềm vui sáng tạo thường họ cũng thích tiền tài, địa vị. Đang sống mà đã có người viết chuyên khảo về mình kể cũng thú vị; trong khi nhiều người nổi tiếng cũng chỉ có một cuốn chuyên khảo, mình có những hai ba cuốn nói tới , lại càng thú vị hơn! Và nếu không cần viết hay viết kỹ, lao tâm khổ tứ, mà vẫn được in, được khen, được giới thiệu sang các nước anh em để dịch, thì họ – ít ra là ở nhiều người – cũng sẵn sàng lười biếng như thường. Đấy đã là tình trạng có thực và kéo khá dài trong giới văn học, khiến cho những người từng trải việc đời nghĩ lại mà thấy ngần ngại. Trong số những nhà văn mới đây công khai nói ra cảm giác đó, có V.Kaverin. Sinh năm 1902, nhà văn này đã có một cuộc sống khá lâu dài trong văn học. Trong những ngày cải tổ , ông thường kể về cái phần bóng tối trong văn học Xô viết: Nào những tác phẩm nhờ gặp thời mà trở thành nổi tiếng, kiểu như kịch Tiền tuyến của Korneitsuc, Hạnh phúc của Pavlenko, nào những hành động phản bội và những sự sợ sệt vô lý phảng phất trong tâm thức mỗi người. Đặc biệt, Kaverin hay kể về một số bạn bè mình, vốn là những người có tài, nhưng bị cơ chế quan liêu làm hỏng, và tự mình không chống nổi, dần dần từ bỏ vai trò nhà văn, biến thành những nhân vật hoạt động xã hội nhạt nhẽo. Trường hợp mà Kaverin kể ra ở đây chỉ là hai người cỡ “cựu chiến binh” cùng lứa với ông là Fedin và Tikhonov. Nhưng chúng ta hiểu là số người bị dạng bệnh này không phải là ít, và cùng với thời gian, bộ mặt thật của mỗi người sẽ bộc lộ hết.

… Như vậy là mặc dù từ lâu sống dễ chịu trong những vị thế mà cơ chế quan liêu xếp đặt cho mình, rút cục nhiều nhà văn khi nhìn lại bản thân và đồng nghiệp, bắt đầu cảm thấy ngán ngẩm và cho rằng không thể sống như ngày hôm qua nữa. Với tư cách những sự tấn phong của Nhà nước và của nhân dân, nhiều huân chương, nhiều giải thưởng, các danh hiệu như nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ công huân, anh hùng lao động v.v… lâu nay vẫn được phân phối đều đều cho những người làm văn học nghệ thuật. Nhưng bên cạnh mặt tích cực, giờ đây nhiều người bắt đầu mô tả những sự tấn phong đó như là một thứ ràng buộc ngòi bút, khiến cho cả người được nhận lẫn người chưa được nhận đều cảm thấy mất hết thoải mái. (ý của B.Vasiliev , tác giả Nơi đây bình minh yên tĩnh, bài trên báo

Tin tức 1-1-1988). Đi sâu vào “bếp núc” của việc xét giải, báo chí nêu lên những việc chạy chọt, chiếu cố, tuỳ tiện, khiến cho nhiều tác phẩm được giải chỉ ít lâu sau rơi vào quên lãng, trong khi đó, có những nghệ sĩ có tài như Paustovski, như Tendriakov… cả đời chả nhận được giải thưởng cùng danh hiệu gì, mà vẫn được đông đảo bạn đọc mến mộ. Tự cái tên nhà văn, trong trường hợp này đã bảo đảm cho uy tín của các trang sách mà không cần một thứ trang sức nào.
Không phải chỉ trong văn học mà chủ nghĩa quan liêu còn gây tác động xấu ở nhiều lĩnh vực khác trong đời sống Xô viết. Nhưng có lẽ không ở đâu, hoạt động con người thù địch với tinh thần quan liêu, như trong các lĩnh vực sáng tạo (khoa học, nghệ thuật…) và khi đã xâm nhập được vào đây, chủ nghĩa quan liêu hiện ra khó chịu hơn ở đâu hết. Bởi vậy, không chỉ trực tiếp phát biểu ý kiến, mà giới văn học nghệ thuật còn xây dựng những tác phẩm khai thác đề tài này một cách khái quát. Trong số các bộ phim được chiếu rộng rãi và gây được dư luận ở Moskva cuối 1987, đầu 1988 có phim Giai điệu bị bỏ quên của cây sáo. Nhân vật chính trong phim là một người có năng khiếu nghệ thuật, lại được học hành đầy đủ, nhưng đã theo tiếng gọi của quan chức mà từ bỏ nghệ thuật. Mãi về sau, chỉ nhờ một tình yêu chợt đến với anh, anh mới nhớ lại cái nghề nghiệp đã say mê một thời. Khi anh ta lôi cái hộp sáo từ trên nóc tủ xuống, phủi bụi, lấy ra ngọn sáo để cất lên những âm thanh đẹp đẽ của tâm hồn mình thì trong lòng người xem như nghẹn lại : Đã bao nhiêu người có tài từng sa đà vào trong bãi lầy của bộ máy quan liêu như vậy! Có người bỏ nghề đi làm quan, phụ trách cục này, sở nọ. Có người quan liêu hoá ngay trong nghề nghiệp của mình, làm nghệ thuật không bằng sự chân thành vốn có mà chỉ để nhằm tạo ra những vị thế, rồi tận hưởng quyền lợi trên cái vị thế đó. Tình cảnh vừa buồn cười vừa thê thảm.

Cố nhiên, trong khi đấu tranh để phi quan liêu hoá văn học, cũng không nên quên cái gốc ban đầu của nó là sự quan tâm của chính quyền Xô viết (và sâu xa hơn, sự ưu ái của nhân dân) với các nhà văn. Nói gì thì nói, phải nhận nó là một yếu tố quan trọng mà thiếu đi, nghệ thuật không sống nổi. Điều sâu sắc của đạo diễn Riazannov là , cũng trong bộ phim nói trên, ông còn nói tới số phận nghệ thuật qua một mô-típ phụ, lắp đi lắp lại: hình ảnh dàn đồng ca. Trong khi nhân vật chính của phim sống trong cảnh vương giả như một nhà quý tộc, thì đám nữ diễn viên kia vất vưởng như đoàn di – gan, nay đây mai đó – hết bến cảng này đến nông trường khác. Luôn luôn phải nở nụ cười thật tươi tỉnh trước khán giả, nhưng thường lòng dạ họ lúc nào cũng ngổn ngang lo lắng. Lo từ cảnh gia đình ở nhà khó khăn, chồng ốm con đau, đến những đôi giày rách nát, không kiếm đâu ra tiền để mua đôi khác. Kết cục thảm hại đến với các diễn viên ấy; họ bỏ dàn đồng ca, mang quần áo bán lấy tiền và bị công an giữ. Khi quan liêu hoá, tức trở thành một thứ chi tiết trang trí cho cung đình, nghệ thuật lại có sự yên thân của nó. Đằng này nghệ thuật như là bị bỏ hoang, và những người làm nghệ thuật thường xuyên bị những day dứt miếng cơm manh áo chi phối. Đó cũng là một sự thương khó nữa, mà, dù chưa xảy ra nhiều, nhưng cũng đã có, có thể có, và những người làm nghề sáng tạo – vốn rất yếu đuối trong cuộc vật lộn với đời – không ai muốn chấp nhận.

Moskva 25-4-1988

Đối mặt với quá khứ

Tính công khai là một trong những nguyên tắc lớn của sinh hoạt văn học Xô-viết trong những ngày cải tổ . Công khai trong việc phát biểu những suy nghĩ về đời sống hiện tại. Mà cũng công khai trong việc xem xét quá khứ, không ngại đối mặt với những rắc rối, mù mờ của các sự việc trong quá khứ, miễn là có thể từ đó rút ra những bài học có ích cho hiện tại. Bởi vậy mà hầu như chưa bao giờ đời sống hậu trường, những chuyện bếp núc của văn chương được khơi ra nhiều đến vậy. Ví dụ như chung quanh B.Pasternak. Vừa có tin Bác sĩ Zivago sẽ được in lại là lập tức mấy tờ báo cùng lúc cho công thêm tư liệu về Pasternak, trong đó có báo in hàng loạt bức thư phản ánh tâm trạng của tác giả khi viết Bác sĩ Zivago cũng như những suy nghĩ nhân hậu, đúng đắn về nhân dân, tổ quốc, về sứ mệnh của nghệ thuật mà ông muốn gửi gắm trong cuốn tiểu thuyết của mình. Lại ví như chung quanh cuốn Chức vụ mới của A.Bek mà thư trước chúng tôi có giới thiệu . Quá trình ra đời của tác phẩm, thái độ mọi người ở các tạp chí lớn, các nhà xuất bản đối với cuốn sách… từng bước được chính A.Bek ghi lại tỉ mỉ tới mức như là trước mắt chúng ta có cả một cuốn tiểu thuyết nữa về cuốn tiểu thuyết đã viết xong. Và một phần những trang nhật ký ấy đã được in trên một tờ báo lớn, in cả bằng tiếng Nga lẫn mấy thứ tiếng nước ngoài. Rồi số phận một vài chương sách đặc biệt (chương về Fadeev) và số phận cả bộ hồi ký Con người năm tháng cuộc đời của Ehrenburg. Rồi một cuộc phỏng vấn từ năm 1963, mà Nazim Hikmét dành cho một tờ báo ý (cũng có nhiều liên quan đến văn học Xô-viết nói chung). Mỗi sự việc như thế, chung quanh nó bao nhiêu là chi tiết cụ thể, sinh động, và luôn luôn bất ngờ. Tiếp xúc với chúng rồi, người ta không khỏi giật mình: ra viết được một cuốn sách hay đã khó, mà bảo vệ được một cuốn sách hay cũng khó không kém. Để làm một việc tử tế, đôi khi người ta gặp phải bao nhiêu là phiền phức, đương lúc xảy ra, chắc rất khó chịu, chỉ nay nhìn lại, mới có thể mỉm cười:
— Ra nhiều lúc chúng ta sống cũng ngộ đấy chứ nhỉ!
Cùng một sự việc, mỗi người trong cuộc nhớ lại một cách khác nhau, đấy là chuyện thường tình. Song khi những kỷ niệm đó lại nhằm biện minh cho những kết luận ngược nhau, thì sự khác biệt nói trên lại càng có lý do để trở nên rõ rệt. Việc trở lại với các sự kiện trong quá khứ do đó bao giờ cũng phức tạp, và phải dũng cảm lắm, người ta mới có được sự sòng phẳng cần thiết.
Để có thêm một ý niệm đầy đủ về việc này, chúng tôi thử dừng lại ở một ví dụ nữa.
Do chỗ cảm thấy những ngày “cải tổ” rất gợi nhớ đến không khí ba chục năm trước (tức khoảng 1956-1957), nên trong một số đầu năm 1987, một tạp chí rất có uy tín là tờ Ngọn lửa nhỏ (số lượng phát hành trên 1,5 triệu bản) đã mở một cuộc hội kiến gồm mấy nhà thơ những năm 1956-1957 mới bắt đầu nổi, đề nghị họ nhắc lại không khí những ngày đó.“Được lời như cởi tấm lòng”, Evtuchenko và Voznesenski, Rozhdestvenski, Akhmadulina… liền kể lại rằng hồi ấy, thuở còn “hàn vi”, mình phải phấn đấu ra sao, mọi người có khi ủng hộ, nhưng có khi lại chế giễu và hiểu nhầm mình thế nào v.v… và v.v… Dĩ nhiên, rồi ai cũng vậy, lúc bốc lên mà nói, dễ đưa ra những chi tiết không chính xác. Thế là một nhà thơ khác có liên quan đến những ngày ấy lại phải cải chính. Đến lượt mình, Evtouchenko trả lời lại, nhận rằng chỗ này mình nhớ sai, còn chỗ kia thì mình vẫn đúng. Nhưng tôi cho rằng có cái ý này của Evtouchenko đặc biệt quan trọng: ấy là, nói chung, khi nhìn lại quá khứ, chúng ta phải nhận là chúng ta quả thật có nhiều thiếu sót, và sẽ là thiếu thiện chí , nếu mỗi người không nhận lấy chút thiếu sót về mình. Bởi đấy là chỗ bắt đầu để hiểu nhau, tin cậy nhau và cùng nhau đi tới.
Cách nói Evtuchenko ở đây có vẻ nghe được quá! Cuộc tranh luận nho nhỏ đến đó tạm chấm dứt. Và chỉ có một phía hoàn toàn chiến thắng trong cuộc tranh luận này, đó là bạn đọc!
Quá khứ không có một khuôn mặt ổn định, nhất thành bất biến.
Mỗi thời đại, mỗi lớp người (rồi đến lượt mình, mỗi người) tuỳ theo nhu cầu sẽ tìm cách tạo lại khuôn mặt quá khứ. Bởi trong cách nhìn lại quá khứ ấy, người ta bộc lộ chính mình.
Đó là lý do tại sao trong khi nói chuyện cải tổ và văn học Xô-viết hôm nay, chúng tôi dẫn ra ít chuyện nói trên. Tin rằng với một nền văn học có cả quá khứ dày dặn như văn học Xô-viết 70 năm qua, “ở trong còn lắm điều hay”, chúng ta còn nhiều dịp được chứng kiến những lần ôn cố (“ôn cố tri tân”) khá thú vị nữa.
“Có cần không, những kỷ niệm cay đắng về quá khứ? Cần lắm chứ! Không có nó, chúng ta không thể đi tới, mà lại có cơ trở thành vật hy sinh của những sai lầm bi thảm và những kinh nghiệm không được nghiền ngẫm thấu đáo”. – Câu nói đó của V.Lakshin (một nhà phê bình nổi tiếng, bạn thân của Tvardovski hồi trước) đáng để chúng ta cùng chia sẻ. Chỉ những người từng rất đau đớn trong ngày hôm qua, mà vẫn giữ được lòng tin, tin ở hôm nay, tin ở ngày mai, mới có được những câu tâm huyết tương tự.
Moskva, 30-6-1987

Những cuộc tranh cãi kéo dài (hay là Tập sống dân chủ trong văn học)N

Là một trong những nhà thơ lớn nhất vủa văn học Nga nửa đầu thế kỷ này, Anna Akhmatova (1889-1966) đồng thời cũng là một trong những người chịu nhiều tai nạn trong văn học, và nếu chỉ kể từ sau 1945, thì có lẽ thuộc loại người lâm nạn sớm nhất (1946). Đến thời cải tổ , trong giới nhà văn lưu hành một giai thoại: sở dĩ A.Akhmatova bị ghét bỏ như thế là vì một lần, trong một buổi họp, khi bà bước vào, tất cả cử toạ đứng dậy. Một người nào đó kể lại chuyện này cho Stalin. Và Stalin hỏi: “Ai tổ chức cuộc đứng dậy vỗ tay đó?” Kết luận của nhà phê bình : dù chỉ là một giai thoại nhưng câu chuyện dựng lại khá rõ “không khí thời đại” hồi trước, khi mọi chuyện trong văn học đều được làm theo lệnh từ trên dội xuống. Còn ngày nay, sinh hoạt văn học phải tuân theo một nguyên tắc khác: dân chủ.
Nhưng sinh hoạt theo lệnh có cái tiện của nó: chỉ có một ý kiến quán xuyến, chung quanh phụ hoạ theo ý kiến đó, rồi tổng hợp lại, gọi là sự thống nhất tuyệt đối. Còn bước đầu của dân chủ bao giờ cũng sinh ra những cuộc bàn cãi. Lại đã lâu đóng cửa bảo nhau, bây giờ mới có dịp công khai bàn cãi nên khi cần, lôi hết cả chuyên hôm qua hôm kia ra. Những cuộc bàn cãi vì thế miên man kéo dài và rất khó phân biệt thực giả, phải trái.
Điều đầu tiên người ta tranh cãi nhau tất nhiên là phương hướng, là cách tiến hành đổi mới trong văn học. Nhưng muốn biến được phương hướng đi tới, phải nhận định cho rõ ta đang ở đâu, làm gì, có phải mọi việc ta làm hôm qua đều mười phần mỹ mãn hay cũng khối chuyện bê trễ. Ôi cái sự nhận định tình hình đó mới đủ chuyện rắc rối mà nó lại là đầu mối để bắt đầu mọi việc làm cụ thể. Như chúng tôi từng kể, ngay từ đầu 1987, một nhà văn Liên Xô là Proskurin đã lên tiếng ngay trên tờ Sự thật, chê trách việc dành chỗ quá nhiều cho các tác phẩm trước đây vì có khuynh hướng phê phán nên không được công bố, bảo rằng đó là thứ “bệnh yêu xác chết” đáng ghê tởm. Đến giữa 1987, trên Cận vệ trẻ, còn thấy in ra cả một bài dài công kích khuynh hướng hiện có trên một số tạp chí đang rất được bạn đọc Liên Xô yêu thích như Thế giới mới, Ngọn cờ v.v.. Trong một dịp khác, nhà văn A.Ivanov ( tác giả Tiếng gọi vĩnh cửu ) nêu ra câu hỏi: “Chúng ta thử nghĩ xem, có nước nào trên thế giới người ta lại tự bôi bẩn lịch sử của mình, lại giải thích lịch sử một chiều, tuỳ tiện, lại giẫm chân vào bùn như vậy?”. Ông không thể chịu được khi người ta gọi Pasternak, Zosenko là thiên tài. Thậm chí ông gọi nhiều nhà văn có thái độ phê phán quá khứ là thù địch, không yêu nước v.v… Dĩ nhiên, lập tức những ý kiến của Ivanov và tờ Cận vệ trẻ được trả lời trên nhiều mặt báo nhưng cũng không phải không có những ý kiến đồng tình. Trên tạp chí Moskva, một nhà phê bình cảnh cáo:
“Chúng ta cần phải nhớ kinh nghiệm của những năm 60, khi quá trình dân chủ hoá xã hội mở rộng tính công khai biến thành cơn lộng hành của xu hướng phê phán. Lúc này, trên báo chí đã thấy có những lời ngừa trước khả năng lặp lại chuyện đó, và nỗi lo sợ ấy cần được suy nghĩ nghiêm chỉnh”.
Chúng ta nên hiểu lời cảnh cáo này như thế nào?
Nguyên là, từ những năm 60, trong văn học Xô-viết đã có một cuộc xung đột ngấm ngầm, nếu có thể nói như vậy, giữa hai lực lượng: một bên đại diện là Tvardovski với tờ Thế giới mớiư do ông làm Tổng biên tập; một bên gồm nhiều người khác, trong đó có Kosétov với tờ Tháng Mười. Nhưng lúc bấy giờ, Tvardovski ở thế yếu. Lực lượng phản công lại ông khá đông đảo. Hàng loạt báo lên tiếng chỉ trích ông. Cuối cùng, đến 7-1969, trên tờ Ngọn lửa nhỏ đã đăng một lá thư buộc tội Thế giới mới là gieo rắc tư tưởng “nghi ngờ quá khứ anh hùng của nhân dân và quân đội Liên Xô”, “nguỵ trang bằng những câu chữ đẹp đẽ để chống lại sức mạnh đạo đức chính trị của xã hội Xô-viết, chống lại chủ nghĩa yêu nước, tình hữu nghị giữa các dân tộc”. Đây là một lá thư được 11 nhà văn trong đó có những nhân vật quan trọng ký tên. Chính lá thư đó là giọt nước tràn cốc, dẫn đến việc Tvardovski bị cách chức và toàn bộ ban biên tập Thế giới mới bị thay đổi.
Có lẽ vẫn dựa trên những kết luận quan phương hồi ấy, nên nhà phê bình trên tờ Moskva hôm nay đã lấy việc những năm 60 ra để làm răn?
Tuy nhiên, chắc bạn đọc cũng đoán ra là có thể xem xét sự kiện những năm 60 theo một hướng khác: tuy lúc ấy những quan niệm thủ cựu lỗi thời tạm thắng thế, nhưng phương hướng tìm tòi của Tvardovski vẫn đúng, nó được tiếp tục duy trì và góp phần “đầu thai” thành phương hướng “perestroika” hôm nay. Theo chúng tôi hiểu, đây chính là quan điểm của các tờ Thế giới mới, Ngọn cờ, Ngọn lửa nhỏ, Tháng mười thời gian gần đây (cả Ngọn lửa nhỏ lẫn Tháng Mười nay đều do người khác phụ trách và “chuyển vế”, đứng về phía Thế giới mới). Nhân dịp Quyền tưởng nhớ của Tvardovski được công bố, một nhà nghiên cứu của Thế giới mới trước đây là Butin đã viết một bài dựng lại toàn bộ tình thế cuộc đấu tranh những năm 69-70. Bài viết của Butin lấy tên là Gửi cho bạn, người của thế hệ tương lai… được coi là một trong những bài phê bình chínhluận hay nhất trong năm 1987. Cùng với Butin, một số cây bút phê bình khác tham chiến với ý chí quyết không để cho sự việc tái diễn theo kiểu cũ. Theo họ, đã đến lúc nhất thiết phải đổi mới, năm nay hoặc không bao giờ nữa.
Trên đây mới là thử nhắc tới một mảng quá khứ – những năm 60. Còn giai đoạn từ những năm 50 về trước, cho mãi tới 1917, còn bao nhiêu chuyện khác! Quá khứ của văn học vừa mang rõ dấu ấn của lịch sử, vừa là một quá trình độc lập, với những con người cụ thể. Đã đến lúc chúng ta phải viết lại văn học sử. Một chuyên gia về văn học Xô-viết là Botsarov bắt đầu kêu lên như vậy. Trong khi ấy, một nhà nghiên cứu nổi tiếng khác là Kariakin có một bài viết mang tên Liệu có nên làm những điều vô lý?, cũng có tiếng vang lớn, như bài của Butin vừa nói ở trên. Trong bài này, Kariakin thử dựng mô hình của tư duy văn học cũ thông qua hình ảnh một nhà phê bình thuộc loại bảo thủ nhất trong văn học. Cãi nhau từng điểm đã cần, nhưng phác ra cả một cách nghĩ, cái đó cần hơn, nó giúp cho người ta “nhổ đi tận gốc” mọi thứ bảo thủ, trì tệ.
Có lần, trong một dịp gặp gỡ với báo Ngọn lửa nhỏ, một bạn đọc đã lên tiếng đề nghị báo hãy đăng thêm nhiều ý kiến của những người phản đối perestroika. Cố nhiên, đề nghị ấy rất hay và toà soạn đã thử làm. Cũng đã có những ý kiến than phiền rằng xã hội bây giờ không có kỷ cương như hồi Stalin; rằng sống hồi ấy lại hoá hay v.v… Nhưng nhìn chung, đó là ý kiến của những người dân bình thường. Còn trong giới văn chương báo chí, ý kiến nhiều khi rất khác nhau, mọi người tranh cãi quyết liệt với nhau, mà người nào cũng nhận là mình mới hiểu đúng tinh thần perestroika, mình đứng về cái mới thực sự. Sự rắc rối là ở chỗ đó, mà lý do khiến người ta vừa khó tranh cãi với nhau, vừa tranh cãi không bao giờ dứt cũng ở chỗ đó. Chẳng hạn, trong khi mọi người đang hứng thú tìm đọc những bài báo lột trần một số vụ việc trước đây trong đời sống văn học, thì một nhà phê bình có tiếng buông ra nhận xét lơ lửng: các bài viết mang mục đích đi tìm sự thực đó thường quá nông nổi và chỉ nhằm gây tò mò cho người đọc (nói theo chúng ta vẫn nói: kiểu viết làm hàng câu khách! ) Đã gọi là đổi mới tư duy, tức những người có thiện chí phải viết khác cái điều hôm qua vẫn viết. Thế là chung quanh lập tức có đồng nghiệp tố cáo con người thay đổi kia là cơ hội “đổi màu”, mà sự thanh minh chẳng dễ dàng nào. Lại như chuyện đánh giá cụ thể các tác phẩm vừa công bố. Khúc ai điếu của Akhmatova vừa in ra, có người bảo đó là tác phẩm làm để tưởng niệm chính mình, người viết ra nó là một kẻ “tự kỷ trung tâm luận”. Còn áo trắng của Dudinsev, Bò rừng của Granin, bị sổ toẹt bằng một câu “xanh rờn”: các tác phẩm thuộc loại tiêu biểu cho không khí mới! Thời đại dân chủ nên ai cũng có quyền nói ý kiến của mình, và việc đánh giá tác phẩm văn học bao giờ cũng có cái khó của nó, nhiều khi những ý kiến thoạt nhìn có vẻ bất ngờ lại là ý kiến có sức sống lâu dài hơn cả. Mặc dù vậy, ở đây không phải không có chân lý. Điều chắc chắn là từ những cách đánh giá khác nhau vẫn có thể suy ngược lại để tìm ra chỗ đứng của người đánh giá và những mối quan hệ không phải cũng vô tư trong khi đánh giá.
“Làm lại khó hơn là làm từ đầu!”. Đó là một khẩu hiệu từng được tờ Người làm báo Liên Xô trang trọng đặt ở bìa một số báo, nó mách với chúng ta rằng những người hiểu rõ thực chất công cuộc làm lại (= cải tổ) hôm nay sớm hiểu việc mình phải tiến hành là khó đến như thế nào. ấy vậy mà thực tế lại vẫn khó hơn là người ta vẫn tưởng. Dựng lại bộ mặt lịch sử, ý định ấy thật tốt đẹp nhưng hình như cùng lúc quá khứ có bao nhiêu khuôn mặt, biết đâu là khuôn mặt thật của nó bây giờ? Còn nên hiểu thế nào là đưa sinh hoạt văn học trở lại bình thường? Tất cả được phép chăng hay là mọi việc nên làm từ từ ? Làm sao để phân biệt người có động cơ chân chính với kẻ đục nước béo cò, lợi dụng perestroika để kiếm lợi? Trong một cuộc họp gần đây ở chi hội nhà văn Moskva, một dịch giả kể rằng trước khi Fadeev tự tử, bà đã cảm thấy điều đó, khi một lần, ông than phiền với bà rằng không còn phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối nữa! Nhắc lại như thế để thấy việc phân biệt trắng đen tốt xấu bao giờ cũng là việc khó khăn. Có điều nếu một xã hội cũng như một con người đã nêu được vấn đề như thế, tức xã hội (hoặc con người) ấy đang trở nên lành mạnh. Sự thực thì dấu hiệu lành mạnh ở văn học Xô viết hôm nay có nhiều. Theo các nhà xã hội học cho biết, từ 1987 về trước, những tác giả được đọc nhiều nhất ở Liên Xô là V.Pikun (với những truyện lịch sử kiểu Dumas ), I.Semenov (truyện tình báo có đậm chất văn học), ngoài ra là những tên tuổi chúng ta đã quen thuộc Aitmatov, Bondarev, Rasputin, Ivanov , Proskurin. Năm 1987, cơn lốc in lại tác phẩm trước đây bị cấm đoán đã làm đảo lộn bảng danh sách đó, “ông hoàng” Pikun bị đẩy xuống hàng thứ mười, các tác giả được đọc nhiều nhất giờ đây là Bulgakov , Platonov , Tvardovski, Bek… và quyển sách chiếm giải quán quân là Những đứa con của phố Arbat của Ryba kov. “Sự chuyên chế của dư luận xã hội nhiều khi cũng hà khắc không kém gì sự chuyên chế của cá nhân!”. Có người đã thú nhận sự bất lực của mình như vậy khi thấy chung quanh đổ xô đi đọc những “trái cấm” hôm qua. Chỉ có điều khác trước, là sự chuyên chế này kéo dài không lâu, hoặc nói cách khác, dư luận tỉnh táo lại khá sớm, và không bị một ràng buộc nào cả. Tiêu biểu nhất trong trường hợp này lại là Những đứa con của phố Arbat. Ngay từ số đầu năm 1988, trên tạp chí Tình hữu nghị giữa các dân tộc (nơi đã đăng tác phẩm của Rybakov và còn hứa đăng tiếp) bắt đầu thấy có nhận xét là cuốn sách ấy chỉ gợi lên những hứng thú về mặt xã hội chính trị; còn về mặt văn học mà xét, nó được viết theo kiểu tư duy đã cũ, và chưa cần so với những kiệt tác mà chỉ cần so với một vài cuốn khác như cuốn Những người mu-gích và vợ họ của Mozhaev , là đã bất lợi cho Rybakov rồi. Vậy đấy, với gần như tất cả các tác phẩm đều có sự đánh giá khác nhau, và các ý kiến đó đều được trình bày đàng hoàng. Đi xa hơn một chút, có nhà phê bình nói rõ: Vâng, xin hoan nghênh nhiệt tình công dân của các nhà văn nhưng độc giả không chỉ cần loại đó; văn học còn là những tác phẩm loại như Tôi nhớ lại phút giây kỳ diệu của Puskin, Một câu đùa của Tchékhov; trong văn học Xô viết hôm nay, những cái đó chưa có nhiều. Nói chung, bấy lâu, vẫn đã rải rác có ý kiến nhấn mạnh rằng các nhà văn Xô-viết còn phải tự nâng mình lên rất nhiều, mới có thể đạt tới độ chín, sự thuần thục… mà các bậc thầy cổ điển trong văn học Nga đã đạt được. Vào những ngày perestroika này, chính những yêu cầu cơ bản ấy càng nổi lên mạnh mẽ. Bởi vậy, phải thấy trên đường đi tới một nền văn học nhân bản thực sự, sự giải phóng tư tưởng hôm nay, dù có mạnh mẽ thế nào đi nữa, cũng chỉ là những bước đầu.

Thư Moskva

Sự trở lại chính mình

Để nói về ý nghĩa của công cuộc cải tổ trong đời sống xã hội Xô-viết cuối những năm 80, báo Nhân đạo (Pháp) đã có lúc dùng tới chữ “một cuộc cách mạng”. Quả thật, khó lòng tìm được một cách nói chính xác hơn thế! Điều đáng nói thêm là biến động xã hội to lớn này kéo theo những đổi mới trong hàng loạt ngành hoạt động của xã hội Xô-viết, và dĩ nhiên là có ngành văn học . Từ Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ VIII (1986 ) trở đi , các nhà văn Xô-viết không ngớt lên tiếng luận bàn về nhiệm vụ của mình, công việc của mình, những gì mà mình cần làm để thật sự có ích cho xã hội. ý thức công dân của nhà văn bộc lộ rõ. Tính chính luận của văn học được tăng cường. Đời sống văn học luôn luôn sôi nổi. Các cuộc bàn cãi này đã được báo chí ở Việt Nam trích đăng một phần . Tuy nhiên,trong thực tế đây là một cuộc vận động đa dạng và to lứn hơn nhiều .

Ba tác phẩm đáng chú ý.
Trước một sự việc thời sự sôi nổi, không gì nhạy cảm bằng báo chí. Văn học không thể chạy đua với báo chí được. Nếu báo chí là vũ khí bộ binh linh hoạt, cơ động thì văn học là một thứ pháo tầm xa, với tất cả thế mạnh và thế yếu của nó. Nghĩa là những gì mà các nhà báo nói tới hôm nay, các nhà văn nhà thơ phải theo cái cách của mình, nói tới từ nhiều năm trước mới đúng. Như người ta vẫn khái quát: các nhà văn lớn là các nhà tiên tri; văn học phải làm công việc dự báo . Chuyện khó khăn quá, nhiều người sẽ bảo thế. Nhưng may mắn thay, cả công việc này nữa, văn học Xô-viết cũng đã làm được ít nhiều. Theo dõi các bản dịch được in ra tiếng Việt , bạn đọc hẳn còn nhớ Nửa đời nhìn lại của Trifonov, Thao thức của Kron, Trò chơi của Bondarev, Những ngọn cờ trắng của Dumbatzê v.v… Những cuốn sách ấy (và nhiều cuốn khác chưa được dịch) ít nhiều phải nói là đã dọn đường cho cải tổ, dự báo sự cần thiết phải có cải tổ. Không phải ngẫu nhiên một nhà báo Pháp viết: “Chính từ những tác phẩm chủ yếu trong hai mươi năm gần đây mà nhiều người Xô-viết đã được thông tin và đã tạo cho mình một ý thức công dân mới” (trích theo tạp chí Tổ quốc, 4-1987). Một sự công nhận như thế có thể làm vinh dự cho cả một nền văn học.
Chẳng những thế, có những dự báo hôm qua vì đậm quá, gắt quá, đúng sự thực quá, phải tạm “xếp kho” , nay mới được công bố. Nhưng công bố muộn mà không hả hơi, không mất thiêng, điều đó lại càng tôn rõ tính dự báo đúng đắn của các tác phẩm ấy. Sau đây là ba ví dụ mà chúng tôi thấy báo chí nói tới nhiều nhất:
Trường hợp 1 – Alexandr Bek (1903-1972) là một nhà văn từng lăn lộn trong chiến tranh, rất nổi tiếng với các thiên truyện Những cuộc chiến đấu trên đường Volokolamsko, Đội cận vệ của tướng Panf i lov. Nhưng không chỉ là nhà văn dám đi, dám ra mặt trận, ông còn là một nhà văn rất uyên bác, trong nhiều năm từng có chân trong hội đồng biên tập của tờ tạp chí Những vấn đề văn học. Cuốn tiểu thuyết Chức vụ mới của ông phác ra hoạt động của một bộ trưởng. Hình như do chỗ có dựa vào một nguyên mẫu là X. nào đó, nên từ lúc còn xếp hàng chờ đợi ở các ban biên tập, cuốn sách đã bị kiện (vợ X, viết thư đi khắp nơi, nói là tác giả vu cáo chồng mình), và cuốn sách cứ thế nằm trong tủ riêng của tác giả từ năm 1964 đến nay, mãi cuối năm 1986 mới được in trên tạp chí Ngọn cờ. Điều thú vị ở đây là sau khi công bố, Chức vụ mới được một tiến sĩ kinh tế viết một bài trên tạp chí Khoa học và đời sống ca ngợi và dựa vào cuốn tiểu thuyết thử phân tích cơ chế quan liêu trước đây đã “thu hẹp” con người, làm biến chất những con người rất tài năng như thế nào.
Trường hợp 2 – Không biết ai trong chúng ta từng đọc các sách của nhà xuất bản Kim Đồng, có nhớ tới cuốn Thanh đoản kiếm? Đó là tác phẩm của Anatoli Rybakov (sinh 1911). Nhưng nhà văn tưởng chỉ viết cho thiếu nhi đó, mấy năm trước vừa cho in Cát nặng, cuốn tiểu thuyết viết về một xóm nghèo Do Thái, ở một thành phố Ukraina thời phát xít Đức chiếm đóng, đến nay Cát nặng đã được dịch ra 25 thứ tiếng trên thế giới và ở nhiều nước, đang còn là sách bán chạy. Và đây, trường hợp cuốn tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat của ông. Phố Arbat là một trong những phố cổ tiêu biểu của Mátxcơva . Trong cuốn tiểu thuyết này (viết ra đã hơn hai chục năm trước), nhà văn trở lại với các sự kiện ở Liên Xô năm 1934. Trong số các nhân vật chính của tác phẩm, có cả Stalin, Kirov, v.v… Trước đây, đã nhiều lần Những đứa con của phố Arbat được các tạp chí lớn hứa in. Bản thân Tvardovski khi còn làm tổng biên tập tờ Thế giới mới cũng cho rằng đây là cuốn sách chủ yếu của cuộc đời Rybakov. Vậy mà cứ lần chần mãi, mãi tới 4-1987, cuốn sách mới có dịp ra mắt bạn đọc. Và như vậy, là trong vòng nửa đầu 1987, tạp chí Tình hữu nghị giữa các dân tộc hai lần gây ra xôn xao chờ đợi: lần trước là việc đăng di cảo của Trifonov, tiểu thuyết Sự biến mất (số 1) và lần này là tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat (các số 4-5-6).
Trường hợp 3 – Những tưởng từng là tổng biên tập Thế giới mới thì Tvardovski muốn in gì thì in?! Nhưng trường ca Quyền được nhớ của ông phải đợi 18 năm sau khi viết ra và 16 năm sau khi tác giả mất mới được “cấp giấy khai sinh”. Bởi lẽ đây là những dòng thơ ghi đậm tâm sự riêng của tác giả . Tâm sự đó có những khía cạnh xót xa, bi thảm, và chỉ dưới ánh sáng của những ngày này, người ta mới thấy nó cũng là tâm sự chung của nhiều con người lương thiện trong xã hội Xô-viết . Trường ca được in gần như cùng một lúc trên hai tạp chí lớn Ngọn cờ (số 2-1987) và ở Thế giới mới (số 3-1987). ở Thế giới mới nó được đặt ở mục di cảo văn học, song ở Ngọn cờ nó được đăng bình thường, như một tác phẩm vừa viết ra ngày hôm nay.

Cuộc hội ngộ kỳ lạ.
Như hầu hết các nhà văn, các nhà khoa học lớn ở Liên Xô thường nhấn mạnh công cuộc cải tổ được bắt đầu rất đúng lúc, không thể muộn hơn được nữa. Bởi nó đáp ứng những nhu cầu hết sức bức bối của xã hội Xô-viết, đặc biệt những đòi hỏi về xây dựng con người, làm cho con người sống trung thực hơn, hợp với đạo lý thông thường hơn. Bởi vậy, nhiều tác phẩm được viết từ trước, và viết bất cứ ở đâu chăng nữa, nhưng nếu thấm nhuần tinh thần nhân bản chân chính, phù hợp với yêu cầu của cải tổ và dân chủ hoá… đều có dịp xuất hiện trên báo chí. Cùng về hội ngộ nơi đây, có các tác phẩm của Akhmatova, Plato-nov (những tác giả thuộc loại lớn nhất của văn học Xô-viết); có thơ của Gumilev, của Severianin, những ngòi bút lâu nay bị cấm kỵ, không được nhắc tới… Cùng về hội ngộ nơi đây, còn có cả những cuốn tiểu thuyết, những bài báo của nhà văn Mỹ gốc Nga V.Nabokov. Ông sống lưu vong ở nước ngoài từ lâu, nhưng những tác phẩm viết bằng tiếng Nga của ông và những việc ông làm cho văn học Nga (như dịch Evguéni Onéguin) vẫn khiến ông trở thành một ngòi bút được nhiều người yêu mến. Người ta bảo Nabokov phải trở thành tài sản chung của hai nền văn học Nga – Mỹ.
Đặc biệt, đóng vai trò nổi bật trong “cuộc hội ngộ” là tiểu thuyết Bác sĩ Zivago của B.Pasternak. Nhà thơ này là một tác giả lớn của văn học Nga (ở Mỹ từng xuất bản một cuốn nghiên cứu mang tên Lịch sử văn học Nga, từ Puskin đến Pasternak). Tiểu thuyết Bác sĩ Zivago của ông mặc dù có một số phận gian truân bị phương Tây lợi dụng, trước sau vẫn là một hiện tượng của văn học Nga, và chỉ đặt trên văn mạch dân tộc, nó mới bộc lộ hết bản chất của mình. Nó gắn bó với nước Nga cả trên phương diện ý nghĩa xã hội lẫn đặc tính thẩm mỹ, cái giọng riêng của nó, chất văn xuôi trầm lắng của nó. Và, không cần vơ vào một chút nào cả, có thể nói cả Bác sĩ Zivago nữa cũng rất thích hợp để đóng góp vào công cuộc đổi mới tư duy hiện nay. Nó trình bày một cách hiểu về cách mạng. Qua lăng kính của một trí thức nhạy cảm, mau xúc động, nhưng có lương tri, có lòng yêu nước, cách mạng sẽ được trình bày với những khía cạnh mới để chúng ta cùng suy nghĩ. Lâu nay, về chuyện này, hầu như chỉ có một tác phẩm độc tôn : Con đường đau khổ. Giờ đây Bác sĩ Zivago là một sự bổ sung cần thiết cho tác phẩm của A.Tolstoi mà từ lâu chúng ta đã biết.
Đã có ý kiến phản đối việc đăng lại các tác phẩm nói trên, viện cớ rằng nó làm đình trệ quá trình phát triển hiện nay của văn học Xô-viết. Có người đã dùng tới những lời lẽ cay độc bậc nhất ,họ bảo trở lại với Pasternak tức là mắc cái bệnh kỳ cục , “bệnh yêu xác chết”. Nhưng các nhà văn ủng hộ các giá trị chân chính chỉ nói lại một cách giản dị: trong văn học, nhiều khi những tác phẩm đã viết từ lâu lại có sức sống, lại sinh động hơn rất nhiều, so với các tác phẩm vừa viết ráo mực.
Đời sống rất công bằng. Nó chỉ đón nhận những cái gì mà nó cần tới. Bài học rút ra ở đây: Văn học cứ là chính nó đi, thật sự là văn học đi, trước sau nó sẽ tìm được cách đến với bạn đọc, sẽ có ích cho mọi người. Càng khi sống giữa những biến động lớn, người ta càng cần có những giá trị cao đẹp để soi sáng cho suy nghĩ của mình.

Sự vận động toàn diện.
Một trong những truyền thống lớn của văn học Nga là đưa những đau khổ tưởng như riêng lẻ của từng con người lên tầm nhân loại, từ đó đặt ra những vấn đề chung về nhân quần, xã hội. Với những nhà văn chân chính của nước Nga ở cuối thế kỷ XX, truyền thống đó vẫn luôn luôn hiện lên như một ám ảnh. Văn học xa lạ với cái thú nhìn đời nhơn nhơn của kẻ tự thị, cái thái độ tự mệnh danh là “lạc quan”, nhưng là một thứ lạc quan giả tạo, coi việc đời chả có gì quan trọng, cái gì ta làm cũng nhất, việc gì rồi cũng xong, tội lỗi mấy cũng biện bạch được. Không! Cái thời đó xa rồi! Nhiều người viết văn ở Liên Xô và bạn đọc Xô-viết hiểu rằng khuôn mặt nên có của văn học lúc này phải là khuôn mặt lo âu. Viện sĩ Likhatchev, nhà ngữ văn học và nhà văn hoá nổi tiếng cho rằng “Điều quan trọng nhất trong văn học lúc này là sám hối” (Báo Văn học Liên Xô, số 19-1987). Ông nói rõ thêm: “Chúng ta phải học cách biết thừa nhận những sai lầm của chính mình bởi vì việc thừa nhận những sai lầm không hề làm giảm phẩm giá của con người, của xã hội, trái lại, còn gây nên ý thức về niềm tin và sự tôn trọng đối với con người cũng như đối với xã hội” (trích ở bài Những nỗi lo ngại của lương tâm, in ở Báo Văn học, tháng giêng 1987).
… Có một câu hỏi có thể gợn lên trong lòng bạn đọc: một số tác phẩm đang gây ồn ào trên báo chí Xô-viết đó, giá trị đến đâu? Chúng ta đã quá quen với việc văn học “đi sát thời sự” hiểu theo nghĩa dung tục, thô thiển, nên chỉ chúng ta dễ nghi ngờ: biết đâu một số tác phẩm được đề cao hôm nay rồi cũng sẽ có lúc rơi vào quên lãng?
Điều đó có thực.
Trong văn học, các giá trị chân chính đôi khi khó thấy, và nó thường đến theo lối “mưa dầm ngấm lâu”, mà không thích gây nên những vụ ồn ào giả tạo.
Nhưng, một là, không phải tất cả những gì ầm ĩ đều là phi văn học; hai là cả những vụ ầm ĩ lẫn những cuốn sách ra đời trong im lặng, mỗi cái có cách đóng góp riêng của mình.
Chúng ta còn nhớ, vào nửa cuối những năm năm mươi, gần cùng thời với Bác sĩ Zivago còn có vụ tai biến Con người không chỉ sống bằng bánh mì của Dudinsev. Từ mấy năm trước (chứ không phải đợi đến cải tổ) cuốn tiểu thuyết này đã được in lại. Khi tôi hỏi một người bạn Nga về giá trị của Con người không chỉ sống bằng bánh mì , thì người đó nói rằng đó là cuốn sách chỉ gây ồn ào nhất thời.
– Thế nghĩa là không thể so sánh nó với Bác sĩ Zivago ?
– Sao ở anh lại có sự liên tưởng hồ đồ, kỳ cục, để rồi đánh đồng các giá trị khác nhau đến vậy?
Nhưng trầm ngâm một lúc, rồi người bạn này nói thêm:
– Nhưng văn học là tất cả những cái đó, cả Bác sĩ Zivago lẫn Con người không chỉ sống bằng bánh mì. Xét về mặt tác động vào ý thức người đọc đương thời (chứ không xét giá trị cuối cùng) , mỗi cuốn sách loại đó có một con đường riêng. Một nền văn học đâu phải chỉ gồm toàn những kiệt tác. Nó cần nhiều loại tác phẩm khác nhau, miễn đó không phải thứ chế phẩm giả tạo, không phải hàng rởm.
Công cuộc cải tổ không đòi hỏi văn học phải có ngay những tác phẩm viết theo lối bám đuôi cổ động, hoặc to mồm phụ hoạ, có tính chất a dua hùa theo của những kẻ tầm thường. Ngược lại, yêu cầu đặt ra với văn học hiện nay chỉ là làm sao để văn học trở thành chính mình, thành một tiếng nói trung thực, quả cảm, có ích cho xã hội. Và để xây dựng một nền văn học như vậy, phải có sự chuyển biến toàn diện. Có lẽ vì hiểu như thế nên các nhà văn Xô-viết chân chính, mỗi người một cách, đang muốn làm thật nhiều để đóng góp phần tốt đẹp nhất của mình cho đời sống văn học nói chung. Vốn chỉ thích viết, lo viết, nhưng cả S.Zalygin lẫn G.Baklanov đều vui lòng nhận về làm tổng biên tập một tờ tạp chí quan trọng của Hội Nhà văn (một người về Thế giới mới, một người về Ngọn cờ), bởi hiểu lúc này văn học cần những uy tín để bảo vệ cho lẽ phải, và đã đến lúc việc đó có thể làm được. V.Karpov viết bài trên tạp chí Ngọn lửa nhỏ, mình định cho trường hợp đau xót của Gumilev. Kaverin, Mezhelaitits và nhiều gười khác rất sốt sắng với việc lập Hợp tác xã xuất bản mang tên Vest (Tin tức). Cả Voznesenski lẫn Evtuchnko đều có chân trong Ban Di cảo Pasternak v.v… “Chính là tiếng nói của lứa nhà thơ trẻ trong những năm 50 (Evtuchenko, Voznesenski, Akhmadulina v.v…) đã góp phần chuẩn bị cho tinh thần cải tổ hôm nay” – Có lần, nói chuyện với một hoạ sĩ Việt Nam ở nhà riêng , Evtuchenko đã tự hào đưa ra một khẳng định như vậy. Cho nên, bên cạnh việc cho đăng lại một chùm thơ vài chục bài viết từ lâu mà chưa in được, bên cạnh những phát biểu chính luận (bài Quyền được có sắc thái riêng đã dịch ra tiếng Việt và in ở báo Văn nghệ, ở nguyên bản tiếng Nga, nếu dịch cho thật sát thì phải là Quyền được nói có nhiều nghĩa) biết đâu Evtuchenko chẳng đang chuẩn bị cho một đợt sáng tác mới? Nhìn chung cả đời sống văn học, phải thấy không phải chỉ những tiểu thuyết viết ra từ lâu, mà có những cuốn vừa viết ráo mực mang in, cũng đang gây chú ý. Đó là Đoạn đầu đài của Aitmatov , Bò rừng của Granin , áo trắng của Dudinsev v.v… và v.v… Còn khi một phóng viên hỏi Rybakov đại ý “Có phải Những đứa con của phố Arbat là tác phẩm chủ yếu của đời ông không”, thì nhà văn 76 tuổi này trả lời là không, tác phẩm chính của ông còn đang trên bàn..
Nhiều nhà văn nổi tiếng khác, Astaphiev và Rasputin, Baklanov và Antnov… rồi nhiều nhà văn trẻ hơn, hăng hái hơn… cũng đang hứa hẹn sẽ cho ra đời những cuốn sách mà từ lâu mỗi người hằng ấp ủ.
Trong hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn gần đây, Baklanov mở đầu bài phát biểu của mình bằng một cảm tưởng chung, đại ý là đối với văn học, một thời gian thoải mái như những ngày này, trong đời ông chưa từng thấy. Một câu nói như thế đủ chỉ rõ cuộc cải tổ hiện nay phù hợp với tấm lòng các nhà văn chân chính ra sao và đặt lên vai họ trách nhiệm nặng nề đến như thế nào. “Hoàn cảnh khách quan” như chúng ta thường nói, không có gì phải than phiền. Nhưng làm gì và làm được đến đâu, điều ấy còn phụ thuộc vào thực lực của từng người.
Moskva, 6-1987

Một giai đoạn tiếp nhận văn học nước ngoài

Thời trung đại , các cụ ta hồi xưa sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán và việc đọc sách chữ Hán cũng tự nhiên như cơm ăn nước uống hàng ngày , nên trừ một vài trường hợp hiếm hoi , loại như Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị , còn nói chung trong văn học Việt Nam lúc đó không tồn tại khái niệm tác phẩm dịch .
Bước sang đầu thế kỷ XX , mặc dù hướng vào việc xây dựng một nền văn học theo mẫu hình phương Tây, các nhà tiên phong cũng chỉ bắt tay dịch một thời gian để giúp vào việc dạy , học , và ổn định chữ quốc ngữ ; tiếp đó sáng tác càng phát triển thì dịch thuật càng thưa thớt , thường chỉ được làm một cách ngẫu nhiên , rồi xuất hiện lót đót đây đó . Trong hoàn cảnh Đông Dương là một xứ được nước Pháp bảo hộ , học sinh học bằng tiếng Pháp ngay từ bậc tiểu học , công việc dịch văn chương gần như là không được đặt ra bởi không thành một nhu cầu cấp thiết . Thỉnh thoảng người ta cũng thử dịch chơi một chút , chẳng hạn , vào khoảng 1940-42 , trên báo Ngày nay, Thế Lữ ,Thạch Lam , Khái Hưng chia nhau dịch một ít truyện ngắn của những Daudet , Maugham , Pirandello … sau làm thành hai tập Hương xa và Hoa lạ , hoặc Lan Khai dịch Bức thư của người không quen của Zweig vv…
Dịch thuật chỉ được khởi động mạnh mẽ từ sau 1945 mà lực lượng tham gia đầu tiên chính là chính những người viết . Ngay từ hồi ở Việt Bắc , Hội Văn Nghệ Việt Nam đã có tiểu ban dịch thuật . Trên tạp chí Văn nghệ, Tố Hữu dịch Hành khúc của Aragon , Đợi anh về của Simonov, Phan Khôi dịch Chúc phước của Lỗ Tấn . Được in ra thành sách , còn có Vũ Ngọc Phan với Misa cua Polevoi , Ngô Tất Tố với Suối thép của Serafimovich , Trời hửng của Vương Lực , Phan Khôi với Thù làng của Mã Phong , Hoàng Trung Thông với Sáu bài thơ Maiakovski ( tất cả đều đã được ghi vào anh mục sách của Nhà xuất bản chuyên in thơ truyện hồi kháng chiến chống Pháp , là nhà Văn nghệ ) .
Đặt trong cái mạch nói trên , thì tập Truyện ngắn tuyển tập (Tchekhov lúc đó còn viết là Sê—khốp ) là một sự nối tiếp tự nhiên . Nhìn vào danh sách người dịch , chúng ta bắt gặp ở đây, những tên tuổi như Nguyễn Thành Long ,Trần Dần , Thuỵ An, Phạm Hổ , Nguyễn Văn Sĩ . Nhất là chúng ta bắt gặp một trong những tên tuổi hàng đầu của văn học Việt Nam thế kỷ XX là Nguyễn Tuân .
Ai cũng biết sinh thời , Nguyễn Tuân là một người đọc nhiều và đặc biệt thích những tác giả lớn . Trong các bài viết đây đó , người ta thấy ông nhắc tới từ Andersen , Gogol , L.Tolstoi , Dostoievski tới Reoger Martin du Gard , B . Brecht , từ Charle Chaplin , Eisenstein tới Rener Clair , Pablo Picasso . Cả những tác phẩm cổ điển lâu đời lẫn những của hiếm của độc riêng có trong thế kỷ XX, không gì tốt đẹp của nhân loại xa lạ với ông Nguyễn .
Tuy nhiên trên giấy trắng mực đen , tức là xét tổng số chữ nghĩa Nguyễn Tuân đã dành cho một nhà văn nước ngoài và cái phần cốt cách người đó hằn lên trong tâm trí ông , để lại ảnh hưởng , tồn tại như một sự kiện của cuộc đời ông , thì phải kể Tchekhov . Vào thời điểm cuốn Truyện ngắn này ra đời , trong giới xuất bản ở Việt Nam chưa có ý niệm về người biên soạn . Và tôi cũng chưa từng được nghe ai kể là cuốn sách đã hình thành như thế nào . Nhưng tôi ngờ chính Nguyễn Tuân là người đầu têu cho công việc , tức là người “gà “ cho nhà xuất bản làm tập truyện này và đứng ra bao thầu cho sự hình thành cuốn sách về mặt nội dung . Bảo ông A. dịch truyện này , ông B dịch truyện nọ . Tự tay dịch một số. Rồi ghép lại thành tập . Rồi lo chạy Sĩ Ngọc vẽ cho cái ca-ri-ca-tuya hình tác giả làm phụ bản . Và không cần nhiều tưởng tượng lắm cũng đoán được là khi tập sách in xong , ông cũng hoan hỉ nhìn nhận nó như một đứa con tinh thần của mình . Trước mắt tôi là bản in lần thứ nhất cuốn sách mà Nguyễn Tuân đã ký tặng Nguyễn Khải vào ngày 31-X-1957 ( về sau ông Khải đã cho tôi và tôi giữ đến ngày hôm nay mang ra tái bản ) . Nguyễn Tuân vốn xem nghề văn là cái nghiệp thiêng liêng và không bao giờ cẩu thả trong giao thiệp . Việc nhà văn năm đó tuy mới 47 tuổi nhưng đã rất già dặn trong nghề mang tặng một người bạn trẻ ( năm ấy Nguyễn Khải mới 27 ) một cuốn sách mình chỉ dịch một phần — , bản thân nó , cũng đã nói lên một phần những tâm huyết mà Nguyễn Tuân đặt vào trang sách .

Tuy không ai tuyên bố chính thức , nhưng xem cái cách đối xử với người dịch và sách dịch ở ta hiện nay thì có thể tóm tắt đại khái với nhiều người , dịch sách là một công việc không mấy nặng ký . Muốn có ý nghĩa sáng tạo, phải là đi làm thơ viết văn . Chứ dịch ấy ư ? Chẳng qua bất tài không sáng tác được mà lại có may mắn được học một ít ngoại ngữ nên anh mới đi làm thứ công việc hạng hai đó . Dịch không phải là chỗ để người ta có thể lên tiéng đóng góp với đời . Dịch không thể tạo ra một tên tuổi . ấy đại khái người ta cứ nguýt dài mà chê bai như vậy . Có biết đâu ở những tài năng đồng thời lại là những người có vốn học như Xuân Diệu Nguyễn Tuân thì việc dịch được quan niệm khác hẳn . Trong một chừng mực nào đó , có thể nói Xuân Diệu đã mang lại cho người yêu thơ Việt Nam một cách hiểu khác đi về thơ , khi dịch N . Hikmet, B.Dmitrova , một Xuân Diệu như vậy cũng tự hào coi những trang thơ dịch như chính sáng tác của mình .
Riêng với Nguyễn Tuân , phải nói bản dịch Tchekhov lần này chính là một hành động văn học với nghĩa đầy đủ của từ này . Cái sự dụng công mà ông Nguyễn đặt vào bản dịch bao gồm nhiều việc , kể cả cái việc tưởng như rất nhỏ là cách gọi tên nhân vật . Ai người đã đọc sách dịch từ trước 1945 đều biết rằng có một hồi , muốn cho nhân vật trong các truyện phương Tây quen với hoàn cảnh Việt Nam , người dịch có một lối đặt tên lại , chẳng hạn Manon Lescaut được đổi là Mai Nương Lệ Cốt , Turcaret được gọi là Tục ca lệ , Roméo Juiliette được gọi là Lộ Miêu , Duy Liên hoặc Lộ Minh , Duy Lan . Nguyễn Tuân đã làm như vậy , ông đưa vào đây thày quản cu-lít Phát , lão quản Bi, chị Na ; đọc truyện ông dịch, người ta thấy anh đánh xe ngựa Doan đánh xe xuống phố Vi, hoặc lão Binh-bô-rông thuê xe tới hiệu Diêm Ký . Tôi xin miễn không bình luận rằng cách làm như thế này là hay hay dở , riêng cái việc ngày nay nó bị xã hội từ chối không được tiếp tục làm theo , đã là một kết luận dứt khoát không ai cãi lại nổi. Nhưng cho phép tôi nói một kỷ niệm nhỏ . Một câu đùa xoay quanh chuyện một cô gái sống với cái ám ảnh của mấy thanh âm nó làm thay đổi cả cách cư xử của cô và biết đâu cả cuộc đời cô . Câu nói đóng vai trò một cái chốt đó trở đi trở lại đến năm lần trong thiên truyện chưa đầy hai ngàn chữ tiếng Việt . Và nó đơn giản chỉ là thế này :
— Na ơi, anh yêu em !
Không rõ người khác đọc truyện thế nào , phần tôi , từ lúc đọc thiên truyện đó lần đầu hơn bốn chục năm về trước đến ngày hôm nay , cái câu năm tiếng gọn lỏn đó nó đã hằn vào trí nhớ . Truyện Một câu đùa trở thành truyện Na ơi , anh yêu em . Và không biết tôi có phạm tội thậm xưng, tội nói lấy được (?) , song nhiều lúc nghĩ vân vi cứ có cảm tưởng năm tiếng kia sẽ không khắc sâu vào tâm trí tôi đến thế , nếu nó không được Việt hoá , tức còn giữ nguyên cái hình hài như trong tiếng Nga ( Nadia ,anh yêu em ) .
Đối với trường hợp của lão quản Prisybiev mà ông Nguyễn gọi tóm lại là quản Bi , người ta cũng có thể nói về hiệu quả tương tự . Việc đặt cho nhân vật những cái tên Việt Nam , chỉ là dấu hiệu dễ thấy của một cố gắng lớn lao hơn , mà cũng khó thực hiện hơn là việc Việt hoá toàn bộ thiên truyện , làm cho nó trở thành như là do một nhà văn bậc thày Việt Nam viết ra vậy . Gần đây đã có người cho rằng cả tập Truyện ngắn Tchekhov in năm 1957 không giữ được chất Nga trong nguyên bản . Rất chịu cái nhận xét có lý đó , song tôi nghĩ điều đó không sao cả , ai có nhu cầu đọc các bản dịch Tchekhov dịch thẳng từ tiếng Nga cứ đọc , và chính tôi nữa , khi muốn tìm hiểu chất Nga của Tchekhov , tôi cũng sẽ tìm . Còn như những khi muốn thưởng thức Tchekhov , muốn coi Tchekhov như một nhà văn , qua trang sách tâm sự chuyện trò với mình trò chuyện bảo ban mình về cách sống cách nghĩ , tôi xin được phép cứ tìm đọc và muốn mọi người cùng đọc Tchekhov qua ngòi bút của những Nguyễn Tuân , Trần Dần , Phạm Hổ, Nguyễn Thành Long … mà chúng ta đang bàn . Cũng xin nói ngay là cái cách hiểu về dịch phẩm của tôi ở đây không phải lập dị trái khoáy gì mà ở nhiều nước , người ta cũng có quan niệm tương tự . Trong một tài liệu giới thiệu về khoa phiên dịch nói chung ( 1) , một nhà nghiên cứu là Nguyễn Nam cho biết : phiên dịch hiện nay không còn bị bắt chết vào một nghĩa cụ thể . Sự trung thành với nguyên bản không còn là giáo điều duy nhất buộc phải chấp nhận . Mà nay nó được xem như một quá trình xử lý văn bản với nhiều nghĩa khác nhau . Đi xa nhất trong việc này là nhà nghiên cứu André Lefevre, ông bảo hành động dịch thuật có thể được hiểu như một thứ tái trứ tác (rewritings ) , nói nôm na là viết lại , viết một lần nữa , việc này vẫn được các bậc thày trong văn học ưa sử dụng để cải biên cái ngoại lai , cho nó phù hợp với thuỷ thổ của nền văn học mà bản dịch đi tới . Nghe những quan niệm ấy thấy nó rất ứng với cái cách mà Nguyễn Tuân đã dịch . Đọc những trang Tchekhov hoá thân vào văn phong của tác giả Vang bóng một thời , người ta bắt gặp những con người cứ y như là người Việt mình , họ chuyện trò quan hệ với nhau , bẻ hành bẻ tỏi nhau , rồi lại sùi sụt thề thốt với nhau trên nền cái khung cảnh cũng là ở một làng quê phố huyện Bắc bộ nào đó . Cái đó không phải là một cái tội ! Không phải Nguyễn Tuân đớn gì trong việc chuyển ngữ , cũng như trong việc tạo không khí cho dịch phẩm mà mình muốn giới thiệu với bạn đọc . Ngược lại , phải yêu quý dịch phẩm lắm , xem nó như chính tác phẩm của mình , một nhà văn – ở đây là một tên tuổi như Nguyễn Tuân — mới mạnh tay mà làm vậy . Người ta đã nhận xét rằng khi hoạ chân dung người khác, Nguyễn Tuân đồng thời làm một cuộc trình bày chân dung chính mình . Tôi cho rằng trong cái sự cầm bút ngồi dịch , Nguyễn Tuân cũng vậy . Ông thấy đây là một công việc thiêng liêng . Ông không chỉ chuyển nghĩa cứng nhắc như người dịch vẫn làm , mà có thể nói đã sinh đẻ lại tác phẩm , từ đó tạo ra cho các thiên truyện một giọng điệu riêng , một thứ Tchekhov của riêng ông . Dịch là một cách để ông viết những điều ông hằng nghĩ .

Đã say trong việc dịch, Nguyễn Tuân lại còn để rất nhiều tâm huyết vào bài giới thiệu Tchekhov đặt ở đầu sách . Trừ bài Thời và thơ Tú Xương viết về sau , in trong tập Chuyện nghề , chưa bao giờ cây bút phê bình nghiên cứu ở Nguyễn Tuân ra vai một cách đàng hoàng như vậy . Ông ngược lên tiểu sử nhà văn . Ông duyệt lại các tác phẩm Tchekhov , kể cả những vở kịch mà lúc đó hầu như chưa ai biết gì . Ông dẫn lại điệp trùng những đoạn Gorki , Elsa Triolet ca tụng người đồng hương vĩ đại của mình ( Elsa cũng gốc Nga ) . Và nhất là ông liên hệ văn phẩm của Tchekhov với hoàn cảnh Việt Nam .Với thói quen hay sục sặc sinh sự , Nguyễn Tuân “ bỏ nhỏ “ mấy câu ghi chú bên cạnh thiên truyện Con hoạt đầu :
ở bản dịch tiếng Pháp , tên truyện là Caméléon . Caméléon là một loài bò sát ; ở miền nam gọi tên nó là con kỳ nhông . Kỳ nhông có đặc tính là thay đổi màu sắc để tự vệ mỗi khi cần phải thích nghi với hoàn cảnh thiên nhiên . Con Caméléon nói ở đây là một anh nịnh , nịnh trên nạt dưới . Người dịch tạm cho mình cái quyền dịch tên truyện không theo nghĩa đen mà dịch theo nghĩa bóng . Thực ra trong loài bốn chân không có con gì trong vạn vật học , mang tên là con hoạt đầu . Có lẽ chỉ trong xã hội loài hai chân mới thấy có cái con này .
Nếu lại chú ý tới mấy câu ghi chú Hà Nội cuối tháng bảy 1957 , một ngày lụt cạn , một ngày hàn khẩu một con đê bên kia sông ( 2 ) , người ta phải nhận rằng ông đã viết mấy chục trang tiểu luận ấy theo kiểu một nhà văn ; những văn phẩm tưởng như xa lạ kia hoá ra có liên hệ ngay với đời sống trước mắt , và cái ông nhà văn ở mãi tịt mù bên Nga- la – tư kia , như một con người đang sống , được triệu về để chia sẻ nhiều điều tâm sự trước thời cuộc .
Muốn hiểu cho hết bài giới thiệu Tchekhov mà Nguyễn Tuân đặt ở đầu sách , người ta phải quay về với cái không khí của mấy năm sau hoà bình lập lại tức khoảng 1955-57 , ở Hà Nội .
Từ kháng chiến trở lại thủ đô , đời sống xã hội nói chung cũng như văn nghệ nói riêng mấy năm ấy đặt ra những vấn đề gay go rắc rối hơn bao giờ hết . Sáng tác trong nước không chứa hết được những ngổn ngang vừa đến trong lòng người . Để có được những câu giải đáp , một số cây bút đầy tâm huyết và có điều kiện đọc rộng quay ra tìm ở văn học nước ngoài . Đọc lại một số nhà văn hàng đầu hồi ấy, người ta thấy rằng những tên tuổi lớn của thế giới đã có mặt : Trong nhật ký , Nguyễn Huy Tưởng không chỉ để cho dòng suy nghĩ của mình nương tựa vào I. Ehrenburg , A. Tolstoi mà còn nhắc tới H. Ibsen , A. Gide. Trong tập Những bước đường tư tưởng của tôi, Xuân Diệu đã dẫn lại từ A. Musset , P. Verlain …đến Politzer, Howard Fast . Chính lúc ấy , với tư cách một nhà văn Nga được Gorki tôn sùng , Tchekhov đã có mặt . Trong khi chúng ta quen nói về những gì hào hùng cao đẹp thì Tchekhov nói về những chuyện mè nheo vô vị vủa cuộc đời . Trong khi chúng ta quen nghĩ rằng cái gì cũng có thể làm được thì Tchekhov nói nhiều đến sự bất lực . Trong khi chúng ta quen bảo cái gì cái gì cũng rành rẽ, và tương lai sẽ hiện ra xán lạn , thì Tchekhov bảo rằng cuộc đời nhiều khi mờ mờ xam xám , không biết rồi nó còn trôi giạt đến đâu . Tóm lại , Tchekhov có thể là bạn đồng hành của những ai , khi phải đối mặt với cuộc đời đa đoan rắc rối trước mắt ,mang một chút hoài nghi lành mạnh chứ không chịu đi theo những khuôn khổ có sẵn . Tác phẩm Tchekhov làm được những gì mà sách dịch của NXB Văn nghệ khoảng 54-56 , như Anh thương binh về làng ( Aleksei Tolsoi ) , Chiến sĩ và Tổ quốc ( Nguỵ Nguy ) , Tam lý loan ( Triệu Thụ Lý ) …không thể làm nổi . Lại có cả những vấn đề lý luận đang nổi lên trong đời sống mà trong khi mầy mò tìm kiếm người ta phải viện dẫn tới sáng tác của Tchekhov . Bấy giờ người ta thường tranh cãi với nhau chung quanh trách nhiệm của các nhà văn trước thực tế . Một cách ngẫu nhiên — hoặc để dùng lại một chữ mà Nguyễn Tuân hay dùng — theo sự thanh khí lẽ hằng , Tchekhov có mặt . Nhân bàn về Viết sự thật , Xuân Diệu có mấy câu lèo cả Tchekhov vào . Theo Xuân Diệu có một loại nhà văn nói tất cả cái đau xót của xã hội , nói rất thiên tài , nhưng rồi dẫm chân tại chỗ không biết làm sao thoát ra được – mà Tchekhov chính là tiêu biểu . Và thế là Nguyễn Tuân thấy cần phải cãi lại Xuân Diệu để chiêu tuyết cho Tchekhov . Ông tìm thấy ở Tchekhov cái thái độ cần và đủ mà một nhà văn nên có trước đời sống . Dù là sau này Nguyễn Tuân sẽ nghĩ khác đi , nhưng đúng là vào khoảng thời gian 1956-57 này , với tác giả Vang bóng một thời , Tchekhov là một thứ chân trời mà ông hướng tới .Văn chương Tcheskhov vốn có gì mờ đục , không thích hợp với những thời đại quá đơn giản , quá rực rỡ , thì trong hoàn cảnh của mấy năm 1956 –1957 , lại tỏ ra khá thích hợp với xã hội Việt Nam và nhất là thích hợp hơn cả với một người vừa rắc rối vừa thích rành mạch như ông Nguyễn .

Trong lịch sử văn học thế giới , người ta không bao giờ quên ghi danh hai người đồng hương vĩ đại của Tchekhov là L.Tolstoi và F. Dostoievksi. Bên cạnh cái phần khác nhau rõ rệt , giữa hai ông có một sự giống nhau là biết gợi ra những vấn đề trừu tượng bậc nhất của con người . Nhưng chính vì tư tưởng của hai bậc văn hào quá lớn , nên người đời thường nhìn hai ông theo lối “ kính nhi viễn chi “ . Nếu không dối lòng , chúng ta phải nhận là nhiều lúc đọc các ông thấy ngợp , xa lạ, hụt hẫng . Tchekhov thì khác . Sự sâu sắc ở ông thường được giấu kín trong cái vẻ gần như tầm thường, chính vì vậy , khi phát hiện ra , chúng lại có cái sự hấp dẫn riêng . Có thể hình dung Tchekhov như đi cùng đường với chúng ta , nhìn thấy mọi thứ như chúng ta , nhưng bao giờ cũng đi xa hơn một đoạn .
Đây là một số ví dụ :
Những người khác nói rằng con người đáng thương trong sự đau khổ . Còn với Tchekhov , con người đáng thương ngay trong lúc họ hạnh phúc và đạt được mục đích .
Nhân danh tinh thần dân chủ , một số nhà văn thích lý tưởng hoá những sinh linh bé nhỏ , bất hạnh .Tchekhov thì khác . Ông để một nhân vật phát biểu : “ Những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ , ác độc , thiếu tỉnh táo , nghiệt ngã , và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn “ — Một nhận xét như vậy , nếu không phải là của một tác giả cỡ như Tchekhov , chắc bị nhiều người cự tuyệt .
Sự vô nghĩa của cuộc sống được Tchekhov xem như một tai hoạ . Còn sự trống rỗng là cái mà Tchekhov sợ hơn cả :
“Một cánh đồng cỏ khô chạy dài , đơn điệu và hoang vu như sa mạc , chắc cũng không làm cho người ta thấy tẻ nhạt , chán chường , như một người ngồi đó , nói năng uể oải và không biết bao giờ mới chịu bỏ đi .”
Trong thế giới của Tchekhov , ngay cả những nhân vật thuộc loại tốt đẹp cũng không biết làm gì . Ngược lại , những con người thấp hèn bất hạnh đôi khi cũng biết nói lên những điều hết sức sâu sắc . Thế giới dở dang vậy , nhưng theo cách trình bày của tác giả , dù đã trở thành chán ngấy , nó vẫn đẹp biết bao, nó đáng cho chúng ta sống .
Thời gian qua đi , khoa nghiên cứu về Tchekhov ngày càng có rất nhiều khám phá , những khám phá này có liên quan đến kịch Tchekhov , và nhất là những tác phẩm ông viết khoảng mươi mười lăm năm cuối đời , loại như Câu chuyện tẻ nhạt , Ngôi nhà có căn gác nhỏ , Huân chương hoàng hậu An na , Volodia lớn Voloddia bé …
Đứng ở góc độ này mà xét , phải nhận là nhiều phương diện làm nên tài năng Tchekhov chưa được bộc lộ trong tập Truyên ngắn in ra 1957 . Hoàn cảnh lúc ấy chưa cho phép Nguyễn Tuân và các đồng nghiệp làm nhiều .
Tuy nhiên , chỉ trong phạm vi của các truyện ngắn đã in, Tchekhov cũng đủ trở nên thân thuộc với bạn đọc , nhất là với các nhà văn Việt Nam .
Ngoài khá nhiều câu chuyện linh tinh về các nhà văn đồng nghiệp đương thời , một trong những chủ đề mà nhà văn Nguyễn Khải thường nói với tôi vào khoảng những năm 1968-70 ( khi chúng tôi cùng công tác ở tạp chí Văn nghệ quân đội ) là những tác giả tác phẩm của văn học Pháp và Nga mà Nguyễn Khải vừa đọc và từng gợi ý cho ông trong sự sáng tác . Ông kể với tôi về những bài báo Satre in trong các tập Situation ( Nhận định ) . Về những cuốn carnet (sổ tay ) của Camus . Về ông Thượng đế “ cái gì cũng biết “ Tolstoi , về thiên tài tàn ác Dostoievski . Mặc dù bấy giờ chung quanh là một không khí thời chiến đặc quánh , nhưng công việc của đám người viết bao giờ cũng thế , phải lùi ra xa mà nghĩ , lùi ra xa để thấy những vấn đề chung của đời sống nó bao trùm lên cuộc sống con người , bất kể là chiến tranh hay hoà bình . Bởi vậy chúng tôi mới có lúc nhẩn nha nói những chuyện đâu đâu như vậy . Chính là trong không khí tuỳ nghi đó mà một lần Nguyễn Khải ngồi giảng cho tôi về một truyện ngắn của Tchekhov :
— Đọc lại thấy Tu sĩ áo đen cũng ghê. Này , có ngu thì mới bảo là trong đó Tchekhov lên án thói vĩ cuồng , hoặc nói nôm na là cái bệnh háo danh tầm thường . Không , chủ đề của Tchekhov ở đây sâu sắc hơn nhiều . Ông muốn bảo với người ta rằng chính là nhờ có ảo tưởng mà sức lực con người ta lại được giải phóng
Tương tự như trong mẩu chuyện trên đây về Nguyễn Khải , Tchekhov còn nhiều phen có dịp đi về trong những câu chuyện hàng ngày của những nhà văn nhà báo mà tôi có quen : Nguyễn Thành Long, Trần Đĩnh , Huy Phương , Nguyễn Kiên … Hoặc như với Nguyễn Minh Châu , bên cạnh Lỗ Tấn , thì nhà văn nước ngoài mà ông chịu hơn cả , cũng là Tchekhov .
Thuở ban đầu , điều làm chúng tôi thú vị là mấy tính cách nhân vật loại như Con hoạt đầu , Quản Bi . Rồi chúng tôi thích cái lãng mạn bàng bạc trong cuộc sống kiểu như Một câu đùa và mãi về sau mới dừng lại lâu hơn ở những Người trong bao ( bản dịch 1957 cải là Người mang vỏ ốc ) , hoặc Phòng số 6 ( bản dịch in trên báo Văn ) . Khi đã vào sâu hơn trong nghề , biết những cái khó cái dễ của việc cầm bút , chúng tôi lại sẽ thích nói với nhau về những bài học nghệ thuật ở nhà văn này , chẳng hạn một trong những bí mật , nó là một trong những đặc sắc lỳ lạ của văn xuôi Tchekhov , là cái cách mà một nhà văn tham dự vào câu chuyện được kể .
Vượt lên trên những thiên truyện cụ thể, còn phải nói tới một điểm nữa là số phận của chính Tchekhov ở Việt Nam , những giận dỗi bất thường mà ông phải chịu , nó cũng là một khía cạnh độc đáo liên quan tới quá trình Tchekhov thâm nhập vào đời sống văn học đương thời .
Nguyên là , theo thông lệ của việc làm sách dịch ở Hà Nội , các tác giả cổ điển thường không bị đặt trong thế cần cảnh giác , tức là họ dễ được “ xài ‘ hơn tác giả hiện đại . Thế nhưng thử nhìn vào bảng kê các tác giả văn học cổ điển Nga thế kỷ XIX , người ta vẫn không thể cãi lại một sự thực là trong khi L .Tolstoi được ưu tiên hàng đầu thì F. Dostoievski bị ghẻ lạnh , Chiến tranh và hoà bình được in ra từ 1960, còn Tội ác và trừng phạt thì , không kể bản in ở Sài Gòn , mãi tới 1983 , bản dịch của Cao Xuân Hạo mới được phát hành rộng rãi . Trước đó , Dosstoievski bị coi là có những tư tưởng không hợp thời , và không đáng được giới thiệu . (3)
Tchekhov mà chúng ta đang nói cũng là một trường hợp tiêu biểu cho sự nóng lạnh trong lối tiếp nhận lúc này , dù là nóng lạnh đỏng đảnh theo một cách khác . Những việc mà Nguyễn Tuân và nhóm dịch giả đã làm cho Tchekhov như vậy là quá nhiều , gần như không ai trong số các nhà văn nước ngoài có được may mắn tương tự . Nhưng chính đó lại là cái cách diệu nhất khiến cho Tchekhov bị đánh dấu , nói nôm na là bị coi cùng một duộc với những người đã đứng ra dịch . Cả một khoảng trắng còn đó : Từ sau tập Truyện ngắn này , một thời gian dài , Tchekhov vắng bóng trên các giá sách ở Hà Nội . Không kể tập kịch Tchekhov in ra năm 1961 , thì phải hai mươi năm sau , tới 1978, một tập truyện ngắn của ông ( in làm hai cuốn ) mới lại được giới thiệu với công chúng . Nếu các bản dịch trước đây thông qua tiếng Pháp hoặc tiếng Anh , thì về sau , đó là các bản dịch từ tiếng Nga . Nhiều người nhấn mạnh tới sự chính xác của các văn bản để giải thích sự chậm trẽ . Song theo tôi hiểu ,lý do chính ở đây là sự ngần ngại . Bản thân cái việc có mặt vào năm cái 1957 nhốn nháo đã làm cho Tchekhov mất đi vẻ trung tính bình thường của một nhà văn nước ngoài để nhận lấy cách tồn tại trong thầm lặng . Không chỉ không được làm sách mà suốt những năm sáu mươi và gần hết những năm bảy mươi ,Tchekhov còn không được dịch in trên báo , không được nghiên cứu và rất ít khi được các tài liệu chính thức trích dẫn .
Xét trên một phương diện nào đó thì những hạn chế trong việc xuất bản ấy có làm cho Tchekhov khó đến với bạn đọc . Song trong thực tế , nó lại tạo nên một sức thu hút . Người ta , nhất là các nhà văn , truyền tay nhau những bản thảo cũ . Và nhất là như trên đã dẫn , người ta hay bàn về Tchekhov . Các tác phẩm của ông được tiêu hoá lặng lẽ hơn kỹ lưỡng hơn .
ở một đoạn khác , trong bài viết về phiên dịch học ở trên đã dẫn , nhà nghiên cứu Nguyễn Nam còn nhắc tới một nhận xét của nhà nghiên cứu Susan Bassnet , nó cũng là một khái quát quan trọng cần chú ý khi nghiên cứu các dịch phẩm :
“ …quá trình phiên dịch văn bản từ một hệ thống văn hoá này sang một hệ thống văn hoá khác không phải là một hoạt động trung tính đơn thuần và hiển minh (..) Phiên dịch đã đóng một vai trò cơ bản trong chuyển biến văn hoá và khi chúng ta khảo sát quá trình lịch đại của thực tiễn phiên dịch , chúng ta có thể biết được rất nhiều về vị thế của các nền văn hoá tiếp nhận trong quan hệ với các nền văn hoá của văn bản nguyên thuỷ “ (4)
Nói cho cụ thể , tức là khi một cuốn sách của một tác giả Nga ( hay Trung Hoa , Nhật Bản )được dịch ra tiếng Việt thì bản dịch đó không chỉ thông báo với chúng ta về xã hội Nga ( hay Trung Hoa , Nhật Bản ) , mà điều không kém phần quan trọng là thông báo về chính xã hội Việt Nam .
Trường hợp tập truyện ngắn Tchekhov in 1957 là một minh hoạ xác đáng cho những nhận xét nói trên . Nó đã trở thành một vật chứng cho cái giai đoạn văn học mà nó ra đời , và trong việc này , mặc dù chỉ có tư cách một dịch phẩm , nó có phần vượt hẳn lên trên , so với các sáng tác xoàng xĩnh , để đứng ngang hàng với những tác phẩm quan trọng của các nhà văn trong một giai đoạn mang tính cách giao thời .

Lẽ thường , yêu ai đó thì cố tìm ra chỗ người đó gần gũi với mình . Tình yêu với Tchekhov cũng đã lôi cuốn một số nhà văn và nhà nghiên cứu vào cái công việc thú vị là so sánh ông với các tác gia Việt Nam . Có người bảo ông gần gũi với Nguyễn Công Hoan . Lại có người thấy bóng dáng của ông trong Nam Cao. Phần tôi , tôi nghĩ cả hai trường hợp này đều không phải . Anh béo và anh gày , cũng như Cái chết của viên công chức , Cái mề đay, Những giọt nước mắt đời không trông thấy …là những truyện rất hay và cũng là những truyện được nhiều người đọc nữa , nhưng không thể thu hẹp Tchekhov ở loại văn phong này , nên sự so sánh với Nguyễn Công Hoan là không có cơ sở . Còn như đọc Nam Cao , thấy có gì gắt quá ráo riết quá , người viết chăm chú vào ý nghĩ của mình đến mức không cho người đọc một chỗ nào thừa để suy nghĩ , nói chung văn Nam Cao thiếu sự lùi xa , thiếu cái khoảng khoát hồn nhiên có đượm một chút hư vô , nên giữa nhà văn này với Tchekhov là cả một độ chênh về cách nghĩ , họ như hai loại cây khác hẳn nhau , không thể so sánh .
Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI , trong hoàn cảnh một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh , cuộc sống chúng ta hôm nay ồn ào tấp nập , con người lăng xăng đủ chuyện và thật lắm lời lắm lý sự . Ngược lại trong Tchekhov , con người muốn làm một việc gì đó , nhận ra có nhiều ý nghĩa trong việc sẽ làm ,đã sắp sửa làm , rồi sau hết lại không làm . Nhưng tận bề sâu , sao giữa hai bên vẫn có cái gì gần gũi : Nói như nhà nghiên cứu N. Berkovski , thế giới mà Tchekhov miêu tả là một cái gì đã sờn mòn . Một cuộc sống dang dở lờ mờ tốt lờ mờ xấu tồn tại trong cái thế chờn vờn bảng lảng như bóng ma Đạm Tiên “ sen vàng lững thững như gần như xa “ . Thiên nhiên thì đẹp mà con người mệt mỏi , bất lực . Hãy nhìn lại mình hãy ngẫm nghĩ xem thực ra mọi người đã sống tồi tàn tẻ nhạt đến như thế nào .Thật chua chát mà nghĩ rằng làm sao có thể đê tiện như vậy mà xuống mồ . Những ý nghĩ tương tự từ đâu đó thoáng hiện rồi hằn lên rõ rệt trong tâm trí và không sao dứt bỏ nổi .
Người mình thường ngầm cảm thấy gần Tchekhov ở những suy nghĩ kiểu đó chăng ?
Nếu nói về sự độ lượng trong thái độ đối với con người , một cách nhìn tưởng như là dửng dưng mà lại đằm thắm trước đời sống , thì trong số các nhà văn Việt Nam , tôi thường nghĩ nhiều tới Thạch Lam ; ở phần sâu xa của cách cảm cách nghĩ ,Thạch Lam có những khía cạnh gần với Tchekhov ; ở phần sâu xa của cách cảm cách nghĩ ,Thạch Lam có những khía cạnh gần với Tchekhov ..
Nhưng chỉ chút chút mà thôi .
Dẫu sao, từ trước tới nay rất ít khi các tác giả nước ngoài được suy nghĩ theo hướng mang ra so sánh với các nhà văn Việt Nam như thế này . Phải nhận đây là một ngoại lệ thú vị . Chỉ riêng việc chúng ta phải nghĩ để nhận ra chúng ta khác với các nhân vật của Tchekhov thế nào cũng đã có tác động thức tỉnh . Nói cho to tát tức là Tchekhov đã trở thành một nhân tố kích thích quá trình tự nhận thức của xã hội Việt Nam . Mà tất cả khởi đầu chính từ cuốn Truyện ngắn tuyển tập làm năm 1957 ./.

(1) Nguyễn Nam Phiên dịch học và văn học so sánh : một hướng tiếp cận văn học Việt Nam Tạp chí văn học ,số 9 , tháng 9-2001 , tr. 61-72
(2) Tức vụ vỡ đê Mai Lâm
(3) Xem thêm Vương Trí Nhàn Một hồ sơ nhỏ về Đốt , in trong Ngoài trời lại có trời , NXB Hội nhà văn, H 2003
(4) Nguyễn Nam , tlđd , tr. 63

sự hấp dẫn, thật và giả

(Vài nét về các loại tiểu thuyế sự hấp dẫn, thật và giả t
trinh thám và tiểu thuyết tình báo )

I
Roman-Gazzeta ( Báo tiểu thuyết) là một xuất bản phẩm có số in lớn bậc nhất trong các loại sách báo văn nghệ in ở Liên Xô trước đây : từ khoảng 1975, mỗi số nó được in khoảng triệu rưỡi bản, đến 1984, đã lên một con số kỷ lục, gần 2,3 triệu (chính xác hơn: 2.298.000 bản), tức gấp khoảng chục lần số in của những tạp chí sáng tác loại một của Hội Nhà văn Liên Xô, như Novyi Mir. Nhiệm vụ của Roman-Gazzeta khá giản dị: mỗi số, tờ bán nguyệt san này chỉ chọn in một – hai cuốn truyện nào đó, hoặc một quyển nào đó, trong một bộ tiểu thuyết dày của các tác giả Xô-viết, nhưng đó phải là những tác phẩm văn học xuất sắc, từng được dư luận nhất trí khen ngợi. Tham gia ban biên tập của Roman-Gazzeta có nhiều nhân vật quan trọng, từ những nhà văn tên tuổi bậc nhất như L.Leonov, X.Zalyghin, V.Rasputin đến các nhà phê bình văn học vững vàng như G.Berdnikov (Viện trưởng viện văn học thế giới mang tên Gorki), F.Kuznetsov, V.Novikov. Trong danh mục tiểu thuyết đã được Roman-Gazzeta chọn in, người ta thấy có Bến bờ và Lựa chọn của I.Bondarev, Bức tranh của D.Granin, Thắng lợi của Tsakovski v.v… Trên nét lớn, có thể nói được in vào Roman-Gazzeta có nghĩa là tác phẩm được coi là nghiêm chỉnh , hơn nữa đã trở thành phổ cập, thành sách bán chạy ở Liên xô, có điều thứ best seller này không phải do một hãng tư nhân nào đưa ra, mà do nhà nước bảo trợ.
Vậy mà có lần , trong số 4-1984 , Roman-Gazzeta đã cho in hai cuốn truyện hơi lạc với cái mạch chung . Một là Ba bộ mặt của Janus đúng là một truyện tình báo. Câu chuyện xoay quanh hoạt động của một chiến sĩ Xô-viết cắm sâu trong lòng địch, những năm cuối của cuộc đại chiến thứ hai. Và một là Đất làm ăn một cuốn có chất trinh thám rõ rệt.
Việc gì đã xảy ra ở đây? Người ta có thể nghĩ đến hai lý do:
Thứ nhất: hai tác phẩm trên là những thành công , được coi ngang hàng với mọi tác phẩm nghiêm chỉnh và đây là một sự “đặc cách”, “ngoại lệ” không dễ gì lặp lại.
Thứ hai: bản thân quan niệm của giới văn học Xô-viết về truyện trinh thám – tình báo ít nhiều có trở nên cởi mở hơn. Không phải cứ nói đến loại truyện này, là lắc đầu chê. Ngược lại, thấy dẫu sao nó cũng là một dạng tồn tại của văn học, một thể loại tiểu thuyết, nếu vào tay các tác giả bậc thầy, cũng có thể trở thành tác phẩm có giá trị.
Trong bài viết này , chúng tôi muốn trình bày kỹ hơn khía cạnh thứ hai của vấn đề: Quan niệm của những người làm văn học ở Liên Xô và các nước Đông Âu từ 1991 trở về trước về loại tiểu thuyết này ? Việc nghiên cứu về nó được tiến hành đến đâu? Những cuộc trao đổi, những ý kiến khác nhau, nếu có? Tại sao từ một thể tài chầu rìa ,có lúc nó lại được xem là một thể tài có triển vọng ?
II.
Có nhiều chữ chúng ta đã quen dùng đến mức không để ý đến nghĩa gốc của chúng ra làm sao nữa, trong khi, nếu trở lại với cái nghĩa ban đầu này, ta sẽ hiểu đầy đủ thêm nhiều chuyện. Chẳng hạn như hai chữ tiểu thuyết. Sách Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh ghi: Tiểu thuyết – sách chép những chuyện vặt. Một nhà nghiên cứu tinh thông chữ Hán còn nói rõ hơn. Theo ông, tiểu thuyết là một cách nói rút gọn của mấy chữ “tiểu gia chí thuyết”, nghĩa là những điều do các tác gia hạng xoàng xĩnh viết ra, không phải văn chương của thánh hiền (“đại gia chi thuyết”). Lại có người cắt nghĩa chữ tiểu ở đây nhằm chỉ những việc nhỏ nhặt, lượm lặt ở chỗ đầu đường xó chợ, thuộc về dân gian tầm thường, không phải những việc trọng đại. Chẳng những ở phương Đông, mà ngay bên phương Tây, thời cổ, tiểu thuyết cũng bị coi thường vậy. Khi phân biệt văn xuôi và thơ, xét về từ nguyên người ta vẫn lưu ý trong các ngôn ngữ châu Âu, chữ thơ (poesy , poésie) vốn từ một chữ Hy lạp có nghĩa là “tôi làm” “tôi sáng tạo”, còn văn xuôi ( prose ) lấy gốc ở một chữ khác, nghĩa là “lời nói hàng ngày”. Lấy văn xuôi làm phương tiện diễn đạt chủ yếu, tiểu thuyết dù ở bất cứ đâu, ban đầu thường cũng nói về hoặc là tình yêu trai gái, các mặt sinh hoạt hàng ngày, hoặc là những chuyện huyền hoặc, kể cả chuyện quỷ quái yêu ma (thư tịch Hán cổ vẫn gọi là thần quái, chí quái). Với người có học trước đây, đó là những điều lông bông chỉ dùng để giải trí, mà cũng không nên xem nhiều, e có hại.
Phải qua quá trình lịch sử, tiểu thuyết mới dần dần xác lập được vị trí của mình: vẫn nói những chuyện vẻ như lặt vặt tầm thường, đồng thời nó biết vươn tới các vấn đề nhân sinh quan trọng; khả năng khái quát xã hội ngày càng lớn trong khi sức hấp dẫn hôm qua không mất đi, mà lại được tăng cường. ở nước nào và thời gian nào cũng vậy, một cuốn tiểu thuyết hay, không thể là một cuốn sách người ta phải ngần ngại khi cầm trên tay; ngược lại, nó như bùa mê làm cho người ta say đắm, định đọc vài trang phải đọc cả quyển, dứt ra không nổi. Song đó lại cũng phải là một cuốn sách người ta có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi lần lại tìm ra được những ý mới. Sự “lên ngôi” của các nhân vật tưởng như tầm thường, của các thể loại tưởng như tầm thường: có thể xem đó là quy luật rút ra từ sự phát triển của tiểu thuyết chăng? Có điều chắc là xu hướng dân chủ hoá trong văn học được đẩy tới trên mọi phương diện và đấy cũng là xu hướng người ta quan sát thấy trong sự tiến hoá của nhiều ngành nghệ thuật khác như nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật sân khấu.
Đến thế kỷ XX thì xu hướng này lại càng được khẳng định.
Do tác động của hàng loạt nhân tố xã hội và tự nhiên khác, dường như mỹ cảm con người thời nay có những thay đổi đáng kể. Xưa, quần áo chúng ta mặc mặt vải phải nhỏ, mịn , màu sắc phải trang nhã. Nay bên cạnh những người vẫn giữ nguyên cái “gu” cổ điển ấy, một số quay ra sùng bái – hoặc nếu không sùng bái thì cũng sẵn sàng chấp nhận –những gì thoạt nhìn có vẻ dày, thô, đập ngay vào mắt người khác. Trong kịch tự sự, Brecht sẵn sàng đưa cả cảnh người thanh niên đang tắm nửa mình lên sân khấu (vở Vòng phấn Cauca se). Một ngành nghệ thuật lâu nay bị coi rẻ như xiếc, giờ đây thu hút sự chú ý của nhiều người, các hoạ sĩ lớn như P.Léger, như H.Miro, M.Chagall… đều có làm việc cho xiếc, hoặc vẽ về xiếc. Thỉnh thoảng, tìm đâu được điệu nhạc độc đáo bên châu Phi hoặc của người da đỏ châu Mỹ ngày xưa, là người ta cùng xúm vào khen. Hình như không có chuyện gì lạ lùng mà con người hiện nay không hiểu nổi, không phong cách kỳ cục nào mà họ cảm thấy xa lạ. Một trong những con đường được nhiều nhà sáng tạo ưa thích là đầu tư công sức vào những gì lâu nay bị coi rẻ, mang lại cho nó một ý nghĩa mới đại loại như việc Picasso đã làm với thứ đồ gốm ở Barcelona và Chostakovits đã làm với những tranh biếm hoạ trên tạp chí hài hước Cá sấu. Trong văn học, cái xu hướng này đã thâm nhập mạnh mẽ, và tác động khá sâu, đến cả văn phong, bút pháp của các tác giả. Eliasevits, một nhà nghiên cứu Xô-viết đã có lý khi bảo: Cả trong đời sống lẫn trong sáng tác, phong cách “cao quý”, giọng văn thống thiết càng ngày càng bị quên lãng và thường khi (tất nhiên, một cách không hợp lý – V.T.N ) bị đồng nhất với sự tô vẽ, và nói chung, với sự giả dối”. Thay vào đấy người ta tìm tới những cách viết mới, hoặc có vẻ lý trí hơn, khô hơn (như kịch và thơ Brecht), hoặc ngạo nghễ đùa cợt, gặp đâu nói đấy (thơ N.Hikmét) hoặc để cho trí tưởng tượng tha hồ lui tới (như tiểu thuyết Garcia Marquez).
Có thể còn nhiều lý do khác, nhưng đây chắc chắn là một lý do khiến ở nhiều nước trên thế giới hiện nay thấy nảy sinh một thể văn xuôi có vẻ thô, nhám, không mấy hoa mỹ là văn xuôi tư liệu, và trong các thứ sách được người đọc ưa chuộng không thể thiếu hai mặt hàng, một là khoa học viễn tưởng, một nữa là sách trinh thám bao gồm cả loại viết về các vụ hình sự, lẫn loại viết về hoạt động tình báo gián điệp.
III.
Mở đầu cuốn Tiểu thuyết đen (bản dịch tiếng Nga của nhà xuất bản Tiến bộ, 1975), nhà văn Bungari B.Rainov nhận xét: Tội ác như một thứ tài liệu đời sống rất sớm được miêu tả trong văn học. Có luật tức có việc phạm luật. Chủ đề phạm tội đã có trong các tác phẩm xưa nhất, từ bi kịch Hy lạp, qua Shakespeare đến tiểu thuyết Balzac, Dickens, Dostoievski, những bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX. Chỗ khác ở đây là thuộc về vai trò của các sự kiện này đối với kết cấu chung của tác phẩm. Bình thường, tội ác chỉ là một trong nhiều khâu tạo nên dây chuyền hoạt động của các nhân vật, hơn nữa, qua việc miêu tả tội ác, cái chính là tác giả muốn làm nổi lên bộ mặt tinh thần của nhân vật đó (rõ nhất, trong Tội ác và trừng phạt của Dostoievski). Còn trong tiểu thuyết trinh thám, việc phạm tội và theo dõi tội phạm hoặc rộng hơn, các loại hoạt động bí mật như hoạt động tình báo làm nên trọng tâm của cấu trúc tác phẩm, nó là điểm nút giúp vào việc khởi động cả guồng máy cốt truyện , và sẽ kết thúc khi tìm ra thủ phạm ( hoặc một giai đoạn trong hoạt động điều tra ) tạm thời chấm dứt.
Theo tiêu chuẩn này mà xét, các nhà nghiên cứu thống nhất lấy năm ra đời truyện ngắn Những vụ giết người ở phố Morgue của Edgar Poe (1809-1849) làm năm ra đời của văn học trinh thám (1841). Truyện của Poe bắt đầu bằng một sự kiện mà ngày nay, người ta coi là hoàn cảnh cổ điển trong trinh thám: một căn phòng bị khoá chặt ở phía trong, mãi không thấy mở; lúc người ngoài phá cửa vào, đã thấy mấy xác người nằm đó, hung thủ không còn tăm tích. Thủ phạm là ai? Chỉ bằng óc phân tích, nhân vật thám tử Dupen của E.Poe — “một chàng ngốc đơn độc” như có người đùa gọi – cuối cùng tìm ra thủ phạm là một con khỉ. Theo nhận xét của anh em Goncourt (B.Rainov dẫn lại), với tác phẩm này của Poe, người ta có một loại tiểu thuyết trong đó sự việc đóng vai trò quan trọng hơn con người, và cơ sở của tiểu thuyết chuyển từ “tim” tới “óc”, từ kịch tính tới việc giải quyết bài toán. Đây cũng là cách lý giải sơ lược nhưng chính xác về tiểu thuyết trinh thám nói chung.
Sau E.Poe, tiểu thuyết trinh thám được phát triển với E.Gaboriau (1832-1873) người Pháp, W.Collins (1824-69) người Anh, và đặc biệt là A.Conal Doyle (1850-1930) cũng người Anh. Nhờ liên tục hco in những cuốn như Cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes,Sự trở về của Sherlock Holmes, Hồi ức của Sherlock Holmes ra đời khoảng từ 1801 đến 1927, Doyle đã thật sự đạt tới vinh quang của người viết tiểu thuyết là tạo ra một nhân vật “sống” như những người thực và khi tác giả định cho nhân vật này chết đi, nhiều bạn đọc phản đối, đòi cho nhân vật tiếp tục hành nghề. Đạt đến sự sống như Sherlock Holmes, may ra chỉ có Arsène Lupin, nhân vật của nhà văn Pháp M.Leblance (1864-1941). ở đây, có điều đối nghịch vui vui , trong khi Sherlock Holmes là một thám tử, và đó là nhân vật truyền thống trong trinh thám, thì lần đầu tiên, với Arsène Lupin, nhân vật tội phạm đóng vai trò trung tâm trong tác phẩm. Lại nữa, trong khi Sherlock Holmes đăm đăm suy nghĩ trên các đường phố London thì Arsène Lupin nhởn nhơ dạo chơi khắp Paris và lúc nào cũng hiện ra yêu đời, hấp dẫn, thông minh, thậm chí có khi nhẹ dạ một chút cho thêm vui, nghĩa là những đức tính mà người Pháp thường tự trách mình với khá nhiều… tự hào! Trong vòng vài chục năm trời, Arsène Lupin cũng trở thành nhân vật được công chúng mến mộ, cho nên, mặc dù xây dựng theo công thức hơi cũ, nhưng đến nay, một số tác phẩm của M.Leblance còn được cho in vào xê-ri sách bỏ túi của Pháp.
Một tác giả quan trọng khác nổi lên trong thế giới trinh thám đầu thế kỷ XX là G. K.Che sterton (1874-1936), người tạo ra nhân vật cha Brown. Từ nửa thế kỷ này, tiểu thuyết trinh thám nẩy nở lan tràn ở các nước Tây Âu và Mỹ, số tác giả đông vô kể, song nổi nhất về mặt số lượng sách viết ra, cũng như khả năng đẩy thể loại phát triển lên những bước mới, người ta chỉ kể tới Agatha Christie và Georges Simenon. Christie người Anh (1891 –1976 ) từng cho in 60 tiểu thuyết và rất nhiều truyện ngắn, tác phẩm được dịch ra hơn 50 thứ tiếng trên thế giới. Nữ tác giả này rất ghét bạo lực. Nhân vật của bà thường nhiều khi chỉ bằng sự nhạy cảm mà tìm được thủ phạm. Christie được các nhà nghiên cứu coi như tượng trưng cho tiểu thuyết trinh thám hiện đại.
Nếu người Anh tự hào với sáng tác của A.Christie, thì người Pháp hiện nay cũng hay nói đến Simenon (1903 – 1989 ), các từ điển lớn, các sách lịch sử văn học nghiêm túc đều có nhắc nhở đến Simenon cùng với những chiếc píp nổi tiếng của ông. Maigret, nhân vật trở đi trở lại trong tác phẩm của Simenon thực sự là một nhân vật sinh động, có gia đình riêng, có tâm sự riêng, nên khá gần gũi với mọi người. Trong nghệ thuật viết truyện, Simenon có công phá bỏ nhiều giáo điều, nhiều quan niệm giả tạo trói buộc các tác giả trinh thám trước đây, trong khi vẫn giữ được sự hấp dẫn mà thể loại phải có.
Cùng thời với A.Christie và G.Simenon hoặc sau đó một ít còn có nhiều nhà văn khác, cùng viết trinh thám, được nhắc nhở nhiều hơn hết là S.S.Van Dyne, S.Gardner ở Mỹ, D.Sayers ở Anh, N.March ở Tây Tây Lan v.v… Nhận thấy loại hồi ức của các điệp viên lão luyện in ra sau Đại chiến thế giới thứ hai được đặc biệt hoan nghênh, loại truyện viết về các hoạt động tình báo gián điệp cũng mọc lên như nấm. Nhưng đồng thời với sự phát triển ồ ạt về số lượng, cả hai ngành nói trên (truyện hình sự và truyện tình báo) ở phương Tây, từ sau 1945 tới nay, ngày càng bị đẩy theo hướng sai lạc, ca tụng bạo lực, thích phô ra những cảnh giật gân, cốt gây cho người đọc tâm lý khủng khiếp và những sự khoái lạc phải nói là tầm thường. Trừ một số tác phẩm của D.Hammett và R.Chandler, còn phần lớn những cuốn sách trong “série noir” (tủ sách đen), do nhà Galimard cho in từ 1945 tới nay, và sách của Ian Fleming viết về James Bond – từng được dịch ra khá nhiều ở miền Nam nước ta trước 1975 – là thuộc loại đó. Nói như B.Rainov, “Đó là một bộ phận hợp thành của cái cơ chế liên tục hoạt động trong việc bào mòn, làm hỏng ý thức của các tầng lớp quần chúng đông đảo trong lòng xã hội hiện đại”. Cũng có một số tác giả trinh thám ở các nước Tây Âu có tài, muốn làm việc một cách đứng đắn trên cái thể tài khó khăn này. Chẳng hạn như John le Carré, một tác giả đi vào diễn tả những mâu thuẫn trong lòng mỗi điệp viên, với những vấn đề làm người của họ. Theo nhận định của G.Greene, John le Carré là một tác giả khá nhất trong tiểu thuyết trinh thám. Nhưng những người như ông bị lọt thỏm giữa guồng máy sản xuất truyện tình báo đang vận hành quyết liệt, tàn bạo hiện nay.
IV.
Sau khi mở một cuộc điều tra xã hội học ở 24 thành phố ở Cộng hoà liên bang Nga thuộc Liên Xô trong năm 1974, người ta được biết có ba nhóm tác phẩm văn học được người đọc ưa thích hơn cả: một, những tác phẩm viết về lịch sử và đấu tranh cách mạng; hai, những tác phẩm viết về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1941-1945; và ba, các loại trinh thám. Ba loại tác phẩm này tạo nên hơn một nửa đầu sách được người đọc nhắc tới và tập trung đến mức mọi cuốn khác, ở các loại khác không thể so sánh nổi (dẫn theo V.Kovski, tạp chí Những vấn đề văn học, số 7 -1975).
Một cuộc điều tra khác cho biết 75% người làm công tác khoa học và 65% các nhà chuyên môn có trình độ cao học ở Liên xô mê trinh thám. Bởi vậy, số in của các tiểu thuyết trinh thám thường rất lớn, ít ra cũng trăm ngàn bản. ở Hungari, với số dân chưa đầy 11 triệu, trong khi các tác phẩm văn học thật xuất sắc mới in tới 20-25 ngản bản, thì số in trung bình của các truyện trinh thám lên tới khoảng từ 50 đến 120 ngàn bản (Con số dẫn ra từ bài viết Trinh thám: ủng hộ và phản đối, tạp chí Văn học nước ngoài số 9, 1982). ấy là không kể lượng sách trinh thám in ra ở Pháp, Mỹ, Anh, Tây Đức (có trường hợp một cuốn in tới 7 triệu bản, những con số chóng mặt, như người ta vẫn nói!)
Trinh thám quả có ma lực lôi cuốn ít người cưỡng nổi. Sức sống của nó – mượn một cách so sánh của Rainov – là sức sống của loài cỏ dại, lớn lên bởi sự cần cù lấn tới. Nên cắt nghĩa hiện tượng này ra sao?- một sự cắt nghĩa chính xác đồng thời sẽ giúp chúng ta suy nghĩ thêm về bản chất của thể loại. Theo chúng tôi hiểu, ở đây có những khía cạnh thuộc về tâm lý bạn đọc, và nói chung tâm lý con người trong xã hội hiện đại; lại có những lý do thuộc về nguyên tắc cấu trúc và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết trinh thám, một thứ “thi pháp thể loại” như người ta thường nói.
A. Adamov là một nhà văn xô-viết vừa trực tiếp viết sách trinh thám, vừa hay viết lý luận, lý giải hiện tượng độc đáo này. Theo ông, nguyên nhân sự phổ biến của trinh thám là ở óc tò mò vốn đặc trưng cho con người. Họ thường muốn nhìn sâu vào những bí mật chưa ai hiểu, những mảng đời sống bị giấu trong bóng tói. G.Simenon bảo “Tôi thích viết về những con người lâm vào trạng thái khủng hoảng… tôi chọn con người bình thường… Và tôi tự hỏi: Cái gì sẽ xảy ra với anh ta nếu như vợ anh ta chẳng hạn, bị tai nạn ô tô… Thế là bắt đầu”. Trong phạm vi xã hội hiện đại , ông nhận định: “Vì xã hội ngày nay không có một tôn giáo mạnh và vì người ta kinh sợ trước cái tổ chức vĩ đại, mà trong đó, người ta chỉ là một thành phần bé nhỏ, nên chỉ với nhiều người, việc đọc một vài cuốn tiểu thuyết nào đó, tựa như việc nhòm qua một lỗ khoá xem người hàng xóm mình đang làm gì, nghĩ gì, hắn có cùng mặc cảm tự ti, cùng những tật xấu, những cám dỗ với mình chăng?”.
Đi sâu hơn một chút, lại cần đặc biệt lưu ý rằng sự tò mò trong trinh thám là tò mò hướng về phía sự giết người, cái chết. Đó là những tội ác cổ sơ, đã có từ thời tiền sử, nhưng vì thế, lại dễ dàng động tới phần tiềm thức của mỗi người. Xã hội càng văn minh, những vụ giết người ngày càng ít đi, thì, đối với người ta, nó lại càng đáng sợ hơn. Trong cái việc tìm hiểu những hành động mà bản thân mình không dám làm , người đọc tìm thấy một ít thú vị nào đó, nhất đây là những người đọc ở các thành phố lớn, con người sống ở đó vừa gần bên nhau, vừa rất rời rạc. Nếu qua câu chuyện, nhà văn biết phát hiện ra ý nghĩa xã hội và đạo lý của hành động, thì tác động của tác phẩm càng mạnh.
Bây giờ chúng ta hãy dừng lại kỹ hơn một chút ở những đặc điểm trong cấu trúc truyện trinh thám. Thông thường, người ta tỏ ý chê bai các tác giả loại này là chỉ biết đến những khuôn sáo, hoặc không có khả năng đi sâu vào tâm hồn con người mà nặng về những tiểu xảo nghề nghiệp. Song nghịch lý sau đây là điều có thật: Chính do trinh thám nhiều tiểu xảo và thiên về bố trí, nên người ta lại thích tìm đọc. Cầm cuốn sách trên tay, đã biết mọi chuyện sẽ dẫn đến đâu rồi, ta vẫn hồi hộp, y như được theo dõi theo một mục tiêu nào đó, thoắt ẩn thoắt hiện. Ta cảm thấy được lần theo muôn ngàn đường dài bí mật mà trên từng bước một đều có thể nảy sinh những đột biến. Cái hấp dẫn của truyện là thứ hấp dẫn căng thẳng của một trò chơi trí tuệ. Nguyên tắc cao nhất của nó là tìm ra phương án tối ưu trong một loạt điều kiện không xác định. Mặc dù biết mọi chuyện chỉ là giả định, song ta vẫn tin là thực, y như khi đã chơi, dù đây chỉ là trò chơi đơn giản nhất như chơi trốn tìm chẳng hạn, ta vẫn hồi hộp khi đi trốn, và thoáng một trút rùng mình khoan khoái, khi người đi đuổi lướt qua chỗ mình mà không hay biết. Theo Iu.Sé mionov, nếu nhà văn nói chung là những kiến trúc sư của tâm hồn, thì trong tiểu thuyết trinh thám – tình báo, họ phải trở thành những kiến trúc sư tài ba của cốt truyện. Nghĩ được những dạng cốt truyện mới như tạo ra những model máy mới thì càng hay; nhưng tối thiểu, ngay khi sử dụng những model quen thuộc, anh cũng phải làm sao để cỗ máy của anh chạy tốt, các ốc vít đều thật chặt, thật khít, dây chuyền hoạt động hợp lý. Ai đã đọc trinh thám đều nhờ cảm tưởng sau khi tập trung tinh lực dồn tới những trang sách cuối cùng, ta phải bỏ ra ít phút để hồi tưởng lại toàn bộ thiên truyện, nhất là khôi phục cho được đường dây vận hành của nó, đánh dấu lại trong óc những điểm nút quan trọng của nó, sau đó, mới hoàn toàn chia tay để bắt sang một công việc khác.
Nói tới nhân vật trong sách trinh thám, xét theo tiêu chuẩn văn học “nghiêm chỉnh” thì việc xây dựng nhân vật ở đây quả là “có vấn đề”. Thế giới nhân vật không đa dạng. Thật khó lòng tìm được trong truyện những nhân vật có vẻ hồn nhiên, chất phác, hoặc thất thường, đỏng đảnh, nói chung là loại người tính nết kỳ cục, độc đáo. Dù rồ dại đến mấy, cũng không ai cử loại người đó đi làm điệp viên sang đất địch, hoặc đi dò xét một vụ án hình sự. Chỉ có một loại người được chọn làm nhân vật chính trong các tác phẩm trinh thám – tình báo , đó là những con người cực kỳ thạo đời, tỉnh táo, phản ứng kịp thời, tính toán mau lẹ, giỏi đóng kịch, giỏi thích ứng với những hoàn cảnh căng thẳng. Một sự lựa chọn như thế, dĩ nhiên, có làm cho truyện tình báo nghèo nàn đi ít chút. Song khi đã cầm lấy sách trinh thám – tình báo, tức phải chấp nhận đây là một nguyên tắc trò chơi nữa, và người ta lại dễ dàng mê các nhân vật tưởng rất khuôn sáo đó, chạy theo họ, coi họ như người quen, như bè bạn. Chỉ cần không quá thiên kiến người ta phải nhận nhân vật chính trong các truyện thường là loại người hấp dẫn. Trước tiên, họ có phẩm chất của những quân nhân, những chiến sĩ hết lòng vì công việc, có thể sẵn sàng gạt bỏ mọi nhu cầu thông thường và làm tất cả để thực hiện vai trò và được giao phó. Song họ lại cũng là những người lao động cực kỳ cần mẫn. Nhận việc điều tra một vụ án nào đó, hoặc trở thành một điệp viên “một mình chiến đấu trên một mặt trận”, có nghĩa là người ta sẽ phải làm việc 15-20 giờ một ngày, nhiều phen đăm đắm suy nghĩ gỡ nút công việc , rồi lại nhiều phen vạch tìm từng nắm tro tàn, xét kỹ từng mẩu thuốc để tìm cho ra những chi tiết liên quan đến công việc. Khả năng phân tích xem xét và yêu cầu tìm quyết định một cách khách quan khoa học khiến ta liên tưởng mỗi cán bộ điều tra, mỗi điệp viên như thế này giống như một nhà khoa học tỉnh táo, thận trọng. Song ở họ cũng rất cần khả năng tưởng tượng, linh tính, sự nhạy cảm, nói chung là phẩm chất của nghệ sĩ.
Tổng hợp trong mình những yêu cầu đó, các nhân vật chính trong truyện trinh thám tình báo có trở nên hấp dẫn, và giúp thêm cho thể loại này “ma lực” thu hút người đọc thì cũng không phải chuyện lạ!
V
Cũng như khoa học viễn tưởng, truyện trinh thám – tình báo có bà con họ hàng với các loại truyện phiêu lưu mạo hiểm, đã phát triển trong các thế kỷ trước. Đó là những tác phẩm có cốt truyện năng động, nhân vật trong đó hoặc là du lịch tới những miền đất xa lạ, hoặc rơi vào những tình thế hiểm nghèo, phải tìm đủ cách mới vượt thoát nổi. Bất ngờ luôn luôn chờ đợi họ. Đời họ như bị ném từ tai hoạ này tới thử thách khác, và chỉ do chỗ là những tính cách mạnh mẽ, có chí khí, có lòng quả cảm họ mới đứng vững. thuộc loại “cổ điển” trong dòng văn học phiêu lưu mạo hiểm này, người ta hay kể các tác phẩm của G.Swift, D.Defoe, R.Stivenson , Mayne Reid (Anh), A.Dumas (Pháp) v.v… Chúng ta cũng tìm thấy màu sắc phiêu lưu trong văn học hiện đại – ở văn học Xô-viết, đó là một số tiểu thuyết của V.Kaverin (Truyền trưởng và Đại uý), B.Polevoi (Vàng) hoặc của các nhà văn khác như L.Nikulin, A.Rybakov v.v… Tuy thỉnh thoảng vẫn bị ít lời dèm pha, nhưng các tác phẩm loại này vẫn có sức hấp dẫn lớn, đối với thanh thiếu niên.
So với các “bậc tiền bối” của mình, truyện trinh thám – tình báo có phần độc đáo hơn, theo những luật chơi ngặt nghèo hơn, nên thường được khen ngợi bằng những lời lẽ mặn mà, song cũng chuốc lấy những công kích rất cay nghiệt.
“Hy vọng rằng sẽ có một cuốn sách tốt, không phải một thứ trinh thám nào đó” – Trong câu thơ ấy của E.Evtuchenko (Dẫn theo V.Kovski, tài liệu đã nói ở trên) người ta thấy rõ sự đối lập giữa “cuốn sách tốt” và “một thứ trinh thám nào đó”. Mà đấy chẳng qua chỉ là một lời chê thông thường, những câu mà ai cũng có thể nói và thường vẫn nói, khi nghe nhắc đến trinh thám. Từ chỗ cho rằng nó không đi sâu vào tâm lý con người, cách miêu tả nhân vật không đa dạng, người ta đi tới kết luận là loại truyện này làm chai lỳ đầu óc và góp phần bồi đắp một mỹ cảm thấp cho những ai đọc nó. Khá lắm, người ta nghĩ loại tiểu thuyết này giống như một thứ thức ăn độn, chỉ được cái ngon miệng, còn thì vô bổ (như món măng chứa toàn xenluylô mà dân ta vẫn ăn chẳng hạn!).
Trước những lời chê kiểu đó, có muốn khen, những người ủng hộ truyện trinh thám – tình báo cũng phải tìm cách rào đón cho chặt. Tôi đồng ý là nhiều truyện kém nhưng đó không phải là lỗi của thể loại mà là lỗi của từng tác giả. Đúng, một tiêu chuẩn của tác phẩm văn chương chân chính là phải cho người ta thấy những vấn đề nhân sinh, tức giúp cho người ta thấy nên sống như thế nào; lại nữa, trong đó, phải rõ nhân cách của tác giả, văn phong của tác giả, cái đó loại truyện này còn yếu, nhưng không phải không có. Ví dụ, trong tác phẩm của Simenon, thấy nhiều vấn đề tâm lý được mang ra trong phân tích, khiến cả Martin du Gar, Hemingway, Mauriac cũng phải có cảm tình với sáng tác của ông, và nhà văn Anh S.Snow phải kêu lên rằng Simenon có một hiểu biết về con người rất rộng, thậm chí có thể nói là hơn hẳn so với nhiều nhà văn thế kỷ XX (Dẫn theo bài viết trên báo Văn học Liên Xô, tháng 2-1983, nhân dịp Simenon 80 tuổi). Nhưng không phải chỉ có những lời dè dặt như vậy. Trong một cuốn sách mang tên Du lịch vào thế giới của trinh thám, một nhà nghiên cứu Hungary còn đưa ra nhiều bằng chứng khác; theo ông, trong gần 150 năm tồn tại của nó, từ 1841 đến nay, trinh thám đã có được không ít tác phẩm thuộc loại kiệt tác. Nhà nghiên cứu Hungary này còn kể ra một loạt nhân vật lớn trong văn học Hungary và văn học Xô-viết (như M.Saguinian, A.Akhmatova v.v…) thích truyện trinh thám. Riêng một người vốn lạnh lùng như Brecht thì lại dành cho thể truyện này những lời lẽ rất nồng nhiệt. Theo ông, tiểu thuyết trinh thám “giống như một trò chơi xếp chữ”, ở đây người đọc luôn thích thú vì được theo dõi con người hành động có hiệu quả rõ ràng cụ thể đó “Hàng ngày, có mấy khi chúng ta có điều kiện để tập trung suy đoán một cách căng thẳng như vậy?”, ông tự nhủ. Người ta kể rằng Brecht cả đời mê trinh thám, đã thử viết trinh thám nhiều lần mà không viết được. Âu đó cũng là một nghịch lý nho nhỏ trong cuộc đời con người hay phát biểu nghịch lý này. Có phần may hơn Brecht chút ít là trường hợp nhà văn lớn Bungari Pavel Vezhinov. Ông không chỉ là tác giả của những thiên truyện giàu chất trữ tình và mang tính triết lý sâu sắc như Barie, Kích thước mà còn là tác giả của một truyện trinh thám ‘có hạng” là Bày dơi xuất hiện trong đem, được đưa vào tuyển truyện trinh thám nước ngoài in ở Liên xô, 1972 . G. Greene , S.Snow , A.Merdoch (Anh ), K.Abe (Nhật), thường thích pha một chút trinh thám vào tác phẩm. Riêng nhà viết kịch Thuỵ Sĩ F.Durenmatt lại coi tiểu thuyết Viên thẩm phán và tên đao phủ của mình, một cuốn trinh thám thực thụ, nhưng vẫn là một tiểu thuyết tâm lý thuộc loại “không chê vào đâu được”. Như ở trên chúng tôi đã nói, nhiều khi quanh quẩn mãi với các vấn đề thật cao xa mà ngòi bút mình thừa sức biểu hiện, các bậc “đại gia” đâm chán; phải “xuống đường”, “lê la” như thế này, họ mới yên lòng.
VI
Trong một bài viết in trên tạp chí Những vấn đề văn học, số 9-1976, nhà văn A.Adamov mở đầu, phần bàn về truyện trinh thám – tình báo Liên Xô bằng nhận xét: “Trong văn học Nga, thể trinh thám không phát triển; chúng ta không có những bậc thầy, những người thuộc loại khai sinh cho thể loại này”.
Đó là một sự thực.
Sau Cách mạng 1917, đây đó các nhà văn cũng nói tới hoạt động của những người làm công tác an ninh, hoặc lấy đề tài từ các vụ án để viết truyện ký, nhưng một thứ trinh thám thuần tuý vẫn hầu như chưa có. Từ những năm bảy mươi trở đi , tình hình có thay đổi, sách viết về các vụ hình sự, đặc biệt là sách viết về hoạt động tình báo – phản gián ngày một nhiều, và một số, đã được bạn đọc Xô viết ưa thích, hơn thế nữa đã đi khá xa, khỏi biên giới Xô-viết, đó là trường hợp của những Chiếc khuy đồng, Nam tước Phon Gonrinh, Sợi chỉ mỏng manh, Hiệp hai v.v… (bạn đọc Việt Nam đã có dịp quen biết các tác phẩm này qua các bản dịch). Về mặt tác giả, người ta bắt đầu thấy những người chuyên đi sâu vào thể loại này, như N.Atarov, P.Chestakov v.v.. và cả A.Adamov mà trên đây, chúng ta hay trích dẫn. Thoạt đầu, họ chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn trong thang bậc các giá trị văn học, bằng chứng là không một ai trong số những người vừa kể được đưa tên vào các tập sách như Đại bách khoa toàn thư Liên Xô hoặc Từ điển bách khoa Xô-viết (1 tập ). Nhưng thời gian đã làm công việc sàng lọc. Một ví dụ: theo một cuộc điều tra ở Liên xô trong năm 1983, được giới thiệu chính thức trên báo Văn nghệ ở ta đầu 1984, trong số 10 nhà văn được đọc nhiều nhất ở Liên xô, bên cạnh Iu. Bondarev, S.Aitmatov… có Iulian Semionov, và nếu mở rộng ra đến 20 người, thì bên cạnh những Iu.Trifonov, E.Evtuchenko v.v… có anh em Arkadi và Gueorgi Vaine. Vậy sự thực là như thế nào? Người ta bắt đầu than phiền về tình trạng mâu thuẫn: sáng tác phát triển mà công tác nghiên cứu, hoặc nói rõ hơn là việc tổng kết những đặc điểm của thể loại trinh thám lại chưa theo kịp. Một số tờ báo, tạp chí, kể cả những cơ quan hết sức nghiêm chỉnh như báo Văn học, tạp chí Thế giới mới (Novy Mir), tạp chí Những vấn đề văn học bắt đầu đăng những bài viết kỹ càng, hoặc tổ chức những cuộc thảo luận rộng rãi về sự phát triển của truyện trinh thám – tình báo trong, ngoài nước. Kể ra tình hình cũng không có gì đáng bi quan. Trong khi không sa vào vết mòn của tiểu thuyết trinh thám ở các nước tư bản như đi quá sâu vào những chuyện chết chóc cốt gây tâm lý sợ sệt, hoặc tuyên truyền cho một cách sống hưởng lạc, trắng trợn… đồng thời trinh thám Xô-viết vẫn hết sức tôn trọng những nguyên tắc thể loại, và tìm cách đổi mới nó một cách hợp lý. Hiện nổi lên hơn cả, trong khu vực này là các sáng tác của Iu.Semionov. Cùng với Tháng tám năm bốn tư của Bogomolov, cuốn Tass được quyền tuyên bố của ông gần đây dư luận đông đảo đánh giá cao. Bên cạnh tiểu thuyết tình báo, Iu.Semionov cũng viết những tiểu thuyết hình sự như Nhà số 6 phố Ogareva. Trong một bài viết mang tên Thi pháp của trinh thám, in trên Novy Mir số 1-1978, một tiến sĩ khoa học ngữ văn đã nhận xét về tác giả Tass được quyền tuyên bố: “Semionov coi thể loại trinh thám đúng là văn học, nên những gì mà ông viết ra cũng được tiếp nhận đúng là văn học”. Đối với một người viết trinh thám, tưởng không có gì quý hơn một lời khen như thế.(*)
VII
ở vào chỗ tiếp nối giữa văn học và các khu vực không văn học khác, thể loại tiểu thuyết trinh thám – tình báo là một tập hợp của những giá trị không đồng nhất. Trở thành văn học chân chính, cái tiềm năng ấy vốn chia đều cho mọi tác phẩm, nhưng biến được tiềm năng ấy thành hiện thực, lại là chuyện rất khó, trong khi người ta có thể rơi xuống vực sâu của thứ “văn chương” phàm tục bất cứ lúc nào. Trên kia chúng tôi đã nhắc qua série-noir mà một phần không nhỏ thường được coi là những tác phẩm độc hại . Nhưng không kể série-noir, mà ngay đối với thứ trinh thám đúng đắn của những tác giả có thiện chí, dư luận xã hội thường khi vẫn tỏ ra khá dè dặt, và sự dè dặt đó là có lý. Trong một cuộc điều tra xã hội học tại Pháp, khi người ta hỏi hơn bốn ngàn thanh niên xem họ đọc gì, thể loại nào họ thích nhất, thì đến 60% người đọc hỏi nêu ra những cuốn sách thuộc loại trinh thám, gián điệp, truyện phiêu lưu, chỉ có 20% nhắc đến tác phẩm cổ điển, và số còn lại, nêu các loại tác phẩm khác. Nhưng cũng câu hỏi đó, khi tráo đi một chút, hỏi quyển sách nào nhân vật nào để lại trong họ những ấn tượng sâu sắc nhất, thì không một cuốn trinh thám nào được nhắc nhở, và người ta toàn nêu ra những nhân vật của những nhà văn nghiêm chỉnh(**). Đây không phải hiện tượng riêng ở Pháp, mà ở nước nào cũng vậy.
Trong sự phát triển có sự rầm rộ của mình, trước sau sách trinh thám – tình báo chưa thoát khỏi tình trạng một loại văn “nhẹ cân”. Trong cuộc thảo luận về trinh thám ở Hungari, quê hương của Rubích, đã có người ví thể loại này với những khối lập phương đầy sức cám dỗ nọ. Nói chung, rất nhiều người thống nhất xem trinh thám là một thứ trò chơi trí tuệ, giúp cho người đọc xả hơi sau những giờ mệt mỏi, để rồi không quên cảnh báo: cẩn thận, nếu không những cuốn sách giúp ta vui vẻ chốc lát đó, lại trở thành những cuốn sách ru ngủ, khiến cho người ta chìm mãi vào trong quên lãng.
Thế thì nên đối xử với sách trinh thám – tình báo thế nào cho đúng? Theo chúng tôi hiểu, thái độ nên có là thận trọng nghiên cứu nó, sử dụng đúng đắn những chỗ mạnh của nó. Nhằm khai thác hết tiềm năng hiện thực mà thể loại vốn có, điều quan trọng ở đây là cần có sự tham gia của những nhà văn có tài, có cốt cách văn học và có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, cũng như cần có sự cầm cân nảy mực chính xác, sự đánh giá tỉnh táo của dư luận xã hội. Công việc không dễ, nhưng là việc phải làm. Bởi qua câu chuyện sách trinh thám – tình báo, ta không chỉ biết về một thể loại độc đáo mà còn có dịp thấy rõ hơn sự đa dạng trong nhu cầu tinh thần, sự định hướng khá phức tạp của cảm quan thẩm mỹ con người hiện nay. Đó là những điều mà mọi người làm công tác văn học, bất kỳ ai, kể cả những người không mê trinh thám – tình báo chút gì, cũng nên quan tâm.
5-9-1984

(*) Trong thời kỳ hậu xô-viết , có một tác giả trinh thám được nhiều người công nhận , đó là A. Marinina
(**) Dẫn theo tạp chí Những vấn đề văn học , số 10-1978

Trên đường tìm hiểu những bí mật của sự sáng tạo trong nghệ thuật(*)

Nên hiểu ra sao về những con người dành cả cuộc đời cho sự sáng tạo? Có một thời, người ta có những quan niệm khá thiển cận, đại khái coi đó là những người vô công rồi nghề, viển vông và chả làm được việc gì có hiệu quả thiết thực . Nay thì những thành kiến ấy đã được sửa chữa. Càng ngày người ta càng thấy nếu trước mắt ta là một người thực sự có hoạt động sáng tạo, thì cuộc đời của người đó là một chuỗi ngày lao động cực kỳ nặng nhọc; thường xuyên người đó phải mò mẫm tìm kiếm, nhằm tạo nên những giá trị mới không phải ban đầu chính mình và những người chung quanh đã hiểu thấu hết. Lại cũng có thể nói đó là những người biết lập nên những chiến công trong thầm lặng, nhằm đẩy nhận thức của nhân loại vượt qua những giới hạn có sẵn để đạt tới những bước phát triển mới.
Tiểu thuyết Khát vọng sống của I. Stone giới thiệu với chúng ta hình ảnh một người lao động như thế trong nghệ thuật. Đứng về mặt loại thể văn học mà xét, cuốn sách cũng sẽ giúp bạn đọc làm quen với một hình thức văn xuôi còn ít được sử dụng ở ta là thể tiểu thuyết tiểu sử. ở những khu vực tiếp giáp giữa văn học và các ngành không phải là văn học như thế này, các sản phẩm làm ra nhiều khi có được những sắc thái khá lý thú.
Quá trình phát triển của thể tài
Theo ý kiến của số đông các nhà nghiên cứu lịch sử, vào thuở văn học còn đang trong thời kỳ phôi thai, ở nhiều nước đã thấy hình thành ba loại văn xuôi: biên niên lịch sử, ghi chép đi đường, và đời các danh nhân (trước tiên là đời các vị thánh). Lịch sử, triết học… sẽ từ đấy mà phát triển. Và trước tiên là văn học: sự pha trộn của những thể nói trên, theo muôn ngàn cách khác nhau sẽ làm nên các dạng truyện kể , tiểu thuyết, ký sự… Bởi vậy, chỉ cần có những đóng góp về mặt ngôn ngữ và khắc hoạ nên một ít tính cách là các tác phẩm cổ nhất thuộc loại này đã được tính vào văn học. Chẳng hạn, thử nhìn vào loại tiểu sử . ở phương Tây, Plutarque (46-127) thường được mệnh danh là cha đẻ của thể này. Tác phẩm chính của ông là bộ Tiểu sử song song viết về nhiều nhân vật Hy-Lạp và La Mã theo lối sắp xếp họ thành từng bộ đôi , có những nét gần gũi nhau. Trước đó, ở phương Đông, vai trò thuộc về Tư Mã Thiên (khoảng 145 đến 90 trước công nguyên) với bộ Sử ký. Hiện nay, các bộ sách này thường vẫn được xuất bản và được coi là gia tài chung, lịch sử và văn học cùng chia sẻ.
Qua thời trung thế kỷ, người ta sẽ thấy thêm nhiều cuốn sách viết về các vị thày tu, các công tước, quận công v.v… Lúc đầu, vợ viết về chồng, con viết về cha, các gia nhân viết về chủ cũ ; các sách viết ra thường thu hẹp trong phạm vi một gia đình, một dòng họ, một số khác thì có tính cách quan phương, tức do chính quyền bảo trợ. Dần dần đối tượng được nói tới mở rộng hơn (trong đó, có một phần thích đáng dành cho cuộc đời các văn nhân, nghệ sĩ), cách viết cũng tự do hơn, tức xu hướng dân chủ thắng thế trên cả hai phương diện nội dung và hình thức. ở nước Anh, một tác giả là J. Boswell đã viết một cuốn sách rất hay về cuộc đời nhà học giả Samuel Johnson (1709-1784). Đến nay, trong các cuốn sách viết về tác giả bộ Từ điển tiếng Anh nổi tiếng này, tức Johnson , thì cuốn của Boswell vẫn được coi là hay nhất và đầy đủ nhất. ở Pháp ,Voltaire không những được biết tới như tác

(*)Lời giới thiệu viết cho bản dịch cuốn Khát vọng sống của I. Stone, H. 1985

giả của các tập truyện Zadig, Candide, hoặc các luận văn triết học, mà còn được biết như tác giả của cuốn Đời Charles XII. Với thế kỷ XIX, khu vực viết tiểu sử càng trở nên rộn rịp. Mười tám năm sau cái chết của A. Puskin (Nga), cuốn tiểu sử ông do Annenkov viết đã ra đời. Cuốn sách viết về W. Scott ở Anh được chia thành bảy tập v.v… Cuối cùng, sang thế kỷ XX thì tiểu sử có sự phát triển vượt bậc. ở Pháp, riêng những đóng góp của R.Rolland đã là một ví dụ nổi bật. Khoảng từ 1900 tới trước Đại chiến thế giới thứ nhất, đồng thời với việc viết bộ Jean Christophe ông chủ trương một loại sách danh nhân, trong đó, như lời ông viết cho một người bạn, “đời sống tinh thần của họ được đặt lên hàng đầu”. Trong số các cuốn mà Rolland đã hoàn thành, người ta thấy có từ Đời Tolstoi. Đời Beethoven, tới đời Michelangelo, Handel , Mahatma Gandhi v.v…. ở Liên Xô trước đây , sách viết về danh nhân nhiều vô kể, các nhà xuất bản khác nhau cùng lúc ra các xê-ri sách riêng. Nổi bật hơn cả phải kể tủ sách Đời các nhân vật vĩ đại do M. Gorki sáng lập từ 1933, đến 1977 tổng số sách in ra đã trên 500 cuốn, mỗi cuốn từ 75 đến 100 ngàn bản. Điều đáng lưu ý là tủ sách này đã thu hút được nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng thế giới hiện nay, viết về những bậc tiền bối trứ danh của đất nước mình: A. Guidas (Hunggary) viết về S. Petoefi; Iwaszkiewicz (Ba lan) viết về Chopin; Aldington (Anh) viết về Stevénson (tác giả Đảo giấu vàng); A. Lanoux (Pháp) viết về Zola và Maupasant . H. Amado thường chỉ được chúng ta biết tới như tác giả của Những con đường đói khát và nhiều tiểu thuyết khác, cũng chính là tác giả thiên tiểu sử một nhà thơ lớn của Brazil là Alvert Castro (1847-1871). Quả thật, đối với các ngòi bút bậc thầy này, việc viết về các nhân vật có thực không ngăn cản sự sáng tạo của họ mà nhiều khi lại có vai trò như những thách thức có ích.
Một nguồn bổ sung liên tục cho văn học.
Chẳng những có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, mà thể tiểu sử hiện nay còn có những đổi mới trong cách khai thác tài liệu và quan niệm, nghĩa là những công việc liên quan đến chất lượng. Theo A. Maurois hình dung, ở đây có hẳn hai giai đoạn khác hẳn nhau như sau : từ thế kỷ XIX về trước, nguời viết tiểu sử nghĩ kia là một ông vua vĩ đại, một ông quan vĩ đại, một nhà văn kiệt xuất, chung quanh ông ta, đã có nhiều truyền thuyết, tôi muốn kể lại các truyền thuyết này làm gương cho mọi người và sẽ chỉ nói về cái đó thôi. Còn người viết tiểu sử ngày nay nghĩ khác: kia là một con người đáng chú ý. Chung quanh ông ta có vô số tư liệu, kể cả những bằng chứng của những người đương thời. Tôi sẽ cố gắng vẽ nên chân dung ông ta. Chân dung này như thế nào, tôi không thể biết trước khi tôi hoàn thành tác phẩm. Tôi sẵn sàng vẽ ra nhân vật như tôi biết. Nhưng tôi cũng sẵn sàng làm lại, nếu như phát hiện ra thêm những tư liệu mới và có được cách hiểu mới…Rõ ràng, quan niệm về con người các danh nhân được tiến triển theo hướng ngày càng cởi mở hơn, và sự cởi mở này đã và sẽ còn mở đường cho nhiều nhà văn tham gia vào công việc. Đây là một khu vực ở vào ranh giới giữa lịch sử và văn học. Không phải cuốn tiểu sử nào viết ra cũng có tính cách văn học. Song văn học sẵn sàng nhận vào mình những tác phẩm hay, hấp dẫn, khắc hoạ lên được những nhân vật sinh động và có sức khái quát. Bởi đấy là một nhu cầu thường xuyên và thiết yếu của nó.
Như đây đó chúng ta từng nghe nói, trong văn xuôi thế kỷ XX, có cả một xu hướng nổi lên khá mạnh là xu hướng tư liệu. Sau khi đã thả cho trí tưởng tượng bay bổng và đạt tới đủ thứ chân trời xa lạ, một số người lại cảm thấy giá trở về với những con người có thật, đi sâu vào họ, không chừng lại nói được nhiều điều cần thiết . Cái đã có bắt đầu được chú ý hơn cái có thể có . Trước hết, hãy để cho cái đã có ấy đi hết khả năng tối đa của nó rồi hãy sử dụng đến sức tưởng tượng — một số người nghĩ vậy. L. Tolstoi từng kể lại một cảm giác của mình: đôi khi, ông cảm thấy xấu hổ, khi cứ viết mãi về một Ivan Ivanovíts, mà thực ra, anh chàng Ivan Ivanovits đó lại không hề có trong đời sống. “Nếu có thể — ông đề nghị — nhà văn nên ngừng bịa như vậy, mà chỉ cần kể về những con người mình gặp trong đời sống và thấy thú vị” (*) . Có thể nói là trong một nhận xét như thế này, Tolstoi đã dự cảm khá rõ về xu hướng tất yếu của văn xuôi tư liệu nói chung, và sự nở rộ của các cuốn sách viết về tiểu sử nói riêng. Ông hiểu rằng trong khi đi sâu vào một con người nào có thật nào đó, làm cho con người đó hiện lên với tất cả những nét cụ thể , riêng anh ta mới có, một nhà văn lại có thể phát hiện ra nhiều bí mật của kiếp người, khiến cho bao nhiêu người khác cảm thông và tìm thấy trong hình ảnh con người kia có phần của mình ở trong . Nghĩa là – như danh từ chúng ta vẫn nói – trong trường hợp này, yêu cầu điển hình hoá vẫn được đảm bảo. Còn nói nôm na, thì trong việc khai thác những mẫu người có thực thế này, nhà văn có thể hoàn toàn yên tâm, vì lẽ rằng những điều ngòi bút mình viết ra không phải chỉ để tô điểm riêng cho con người được nói tới, mà chính là vì đông đảo mọi bạn đọc khác.
Sự phối hợp giữa tư duy một nghệ sĩ
và đầu óc một người nghiên cứu khoa học.
Nhà văn I. Stone kể: Ngay từ lần đầu, được đối mặt với những bức tranh của Van Gogh ông đã cảm thấy choáng ngợp, y như tâm trí ông từng choáng ngợp khi đọc Anh em Karamazov của Dostoievski. Và ông từ giã phòng tranh với ý thức cả quyết là phải biết thêm về con người này.
Van Gogh là ai mà gây ra những xúc động lớn trong Stone và ảnh hưởng cả đến đời văn của ông như vậy? Nói một cách tóm tắt: Đó là một người mà nếu thiếu đi, chúng ta sẽ không hình dung ra nổi lịch sử nghệ thuật tạo hình thế kỷ XX. Lời bàn về ông thì rất nhiều. Người này thích ở ông sự tự do và dũng cảm trong việc giải thích thiên nhiên, con người ; nguời khác cho ông là một bậc thày trong việc đi vào những bí mật của hình thức và khai thác hết mọi hiệu quả của nó; một người khác nữa bảo rằng có thể học nhiều ở ông cách làm cho những ý tưởng kín đáo toát ra trong tranh, cách sử dụng những màu sắc như biết kêu lên trên khung vải và việc tạo ra những bố cục đầy kịch tính mà họ cho là mang đậm dấu ấn cách tư duy của con người hiện đại. Tuy nhiên, sinh thời Van Gogh(1853-1890), ông lại không được xã hội công nhận, suốt đời ông sống trong thiếu thốn, mười năm cuối đời là mười năm làm việc căng thẳng để rồi khi bao nhiêu tinh lực đã dồn hết cả lên mặt tranh, thì cũng là lúc con người ông héo hon tàn lụi di, và hậu quả cuối cùng là cái chết đến sớm ở tuổi 37. Cuộc đời Van Gogh do đó gợi ra hình ảnh một ngọn lửa đã lên hết cái độ sáng mà một đời người có thể đạt tới, và bởi lẽ thời gian của nó chỉ ngắn ngủi nên vẻ huy hoàng của nó càng kỳ lạ. Trên nhiều phương diện, cuộc đời ấy, cũng như bao nhiêu cuộc đời tương tự làm thức dậy trong lòng mỗi chúng ta một niềm tự hào kín đáo: đấy, trong đơn độc, lẻ loi, con người vẫn có thể làm được những điều tốt đẹp đến thế!
Theo Stone thuật lại , thật ra, không phải ngay từ đầu, ông đã có ý định viết ngay về đời Van Gogh. Ông chỉ cảm thấy bị người hoạ sĩ xa lạ này hoàn toàn chinh phục. Từ phòng tranh Van Gogh trở về, ông chúi đầu vào các thư viện công cộng ở New York, tìm đọc tất cả các tài liệu viết vằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, có liên quan đến con người mà mình muốn hiểu. Sự đam mê cuối cùng trở thành ám ảnh: “Cuộc đời Van Gogh như xâm chiếm lấy tôi, – ông kể – nhiều bữa, tôi dậy sớm, lẩm nhẩm trong đầu những đoạn đối thoại giữa Van Gogh và Théo , nhất là đoạn nói về cái chết của Van Gogh. Đối với tôi, cái chết ấy mang dáng dấp một bi kịch. Cuối cùng, biết rằng không thể dứt bỏ nổi, tôi quyết định phải viết về Van Gogh”. Nhưng từ đó, lại lại bắt đầu một loạt công việc mới, hết sức vất vả. Một mặt ông tiếp tục học hỏi thêm về nghệ thuật, và tìm xem tranh của các hoạ sĩ cùng thời với Van Gogh. Mặt khác, ông xách va – li lên đuờng. Thoạt tiên ông trở lại những nơi mà thuở nhỏ, người hoạ sĩ này đã ở, làm quen với những miền đất từng ảnh hưởng tới tâm hồn Van Gogh lúc ấy. Rồi ông đến khu mỏ Borinage, thuê phòng cạnh quán bánh mì nơi trước kia Van Gogh từng thuê. Để hiểu hết cái nắng chói chang của xứ Provence miền nam nước Pháp, một trong những yếu tố đã tạo nên sắc vàng kỳ diệu trong các tác phẩm cuối đời của hoạ sĩ, ông đến Arles, Saint Rémy, cuối cùng, tới ngủ ở chính cái giường đặt trong căn phòng nhỏ ở Auvers , nơi Van Gogh đã sống ít ngày trước khi từ giã cõi đời… Tóm lại, khi tiếp cận với Van Gogh, cả con người nhà nghiên cứu lẫn nhà văn trong Stone cùng tồn tại, và đó chính là tác phong mà các nhà văn chuyên viết tiểu sử phải có. Như những nhà nghiên cứu, họ bình thản soi tìm các tài liệu, đọc từng trang hồ sơ lưu trữ, xem xét cách sửa chữa từng câu từng đoạn ở một nhà văn, những phác thảo bỏ đi của một hoạ sĩ, từng mẩu đời riêng của một nhà hoạt động chính trị. Mọi việc được họ tra cứu đánh giá một cách tỉnh táo ; từng giả thiết được nêu ra, rồi lại được soát xét lại, cốt sao đạt tới sự chân thực tối đa mà không ai bác bỏ nổi. Có điều, đó lại vẫn là quá trình làm việc của một nghệ sĩ. Sự say mê hiện ra với bộ mặt muôn màu muôn vẻ của nó, nó không chỉ giúp cho tác giả đạt tới cường độ làm việc cao, những phút xuất thần, mà sau này còn thể hiện ea ở những run rẩy của câu chữ. Còn sự nhạy cảm thì không bao giờ được thiếu mặt. Thường phải huy động nhiều nhất là những nhạy cảm trong việc phân xử đâu là chính đâu là phụ, đâu là mặt bản chất thật của con người, đâu là những lầm lỡ thoáng qua; thậm chí trong việc thu thập tài liệu, người ta không tránh khỏi có lúc vấp phải những của giả, mà cũng chỉ sự nhạy cảm mới cứu vãn nổi. Nhưng quan trọng nhất, đối với một nhà văn viết tiểu sử, có lẽ là sự nhạy cảm trong việc lựa chọn nhân vật mà mình định viết, một sự lựa chọn không được sai lầm, vì nếu sai, thì mọi việc tiếp theo sẽ vô nghĩa hết. Tiêu chuẩn của một sự lựa chọn đúng là , trong quá trình làm việc, người viết phát hiện ra hoặc cảm thấy có mình trong nhân vật, có thể lấy mình ra mà hiểu người mình đang tìm hiểu , hai bên cộng hưởng với nhau, đại khái như cái điên rồ trong Van Gogh mà lịch sử từng ghi nhận và những cơn say bốc lên trong tâm trí Stone, mà trên kia chúng ta đã nói, và chắc còn có mặt thường xuyên trong quá trình ông xây dựng tác phẩm. Vai trò chủ quan của tác giả đã được khai thác tận cùng. Kết hợp tư duy nghệ sĩ và đầu óc một người làm khoa học, đến một lúc nào đó , Stone đã có thể nói có một Van Gogh của mình và ông chính thức bắt tay vào một công trình sáng tạo thực sự.
Bộ mặt đa dạng của thể tiểu sử.
Phân biệt tiểu sử thuần tuý và tiểu thuyết – tiểu sử
Không còn nghi ngờ gì nữa, khi một nhà văn nhận viết tiểu sử và có được phương pháp làm việc của một nhà khoa học, mà vẫn giữ được cốt cách ngòi bút của mình, thì trước mắt chúng ta bao giờ cũng có một tác phẩm có giá trị văn học. Tuy nhiên , bộ mặt văn học của các tác phẩm tiểu sử vẫn là một cái gì rất đa dạng. Nó có hai cực: một là những tiểu sử ở dạng thuần tuý, gần với những chuyên khảo, những tuỳ bút nghiên cứu thường có ở bên lịch sử (nhất là lịch sử khoa học). Và một là những tiểu sử được tiểu thuyết hoá. Giữa hai cực đó là vô vàn những biến dạng, tuỳ từng trường hợp cụ thể, và do phong cách các tác giả cụ thể qui định.
Bên trên chúng tôi đã nhắc tới tên tuổi A. Maurois (1895-1967). Bên cạnh các sáng tác thuộc các thể tiểu thuyết, truyện ngắn, ông chăm chú nhiều vào việc viết tiểu sử, coi đó là một phần sự nghiệp đời mình. Khi ông viết những bài ngắn, in lại thành từng cụm (Từ La Bruyere đến Proust, Từ Aragon đến Montherland v.v…) . Khi thì ông dành cho một nhân vật của cả cuốn sách dày. Cách viết của A. Maurois phổ biến là bám sát nhân vật từ đầu đến cuối đời; kể về họ một cách dẽ dàng, mạch lạc, từ cái tôi của một nhà văn mực thước, đồng thời là một nhà nghiên cứu hiểu nhiều biết rộng. Và cái tài của A. Maurois là khi đọc những trang sách ông viết, người đọc thấy thêm gần gũi với các thiên tài của nhân loại, có một cách hiểu đúng mực về tài năng của họ, con người họ. Trong khi tạo ra hình ảnh thực sự của thiên tài, A Maurois vẫn giúp ta giữ được sự kính trọng chân thành với các nhân vật mà ông nói tới. Những tác phẩm nổi tiếng của Maurois trên phương diện này: Lilia hay đồi George Sand, Olympia hay đời Hugo , Promete hay đời Balzac…
Một bậc thầy khác trong nghệ thuật tiểu sử hiện đại là nhà văn áo S.Zweig (1882-1942) Ông không chỉ viết về các nhà văn lớn như Dickens, Balzac, Dostoieski, Byson… mà còn viết về các nhân vật lịch sử phức tạp như Fouché (một nhân vật chính trị có mặt từ thời cách mạng Pháp, sau làm việc cho Napoléon, cuối cùng phản bội, trở lại phục vụ vương triều của dòng họ Bourbon) Marie Stuart (Nữ hoàng Scotland, thế kỷ XV). Các cuốn sách của Zweig thường mang hình thức một thiên tuỳ bút nghiên cứu, khi thì tác giả đứng ra tả kỹ lưỡng khuôn mặt nhân vật, khi phân tích tâm lý người đó trong từng hoàn cảnh… Những người được Zweig viết hiện ra với nhiều nét xuất thần, nó là cái nét quan trọng nhất làm trục cho toàn bộ tính cách nhân vật. Có thể bảo Zweig đã cố ý làm biến dạng nhân vật với nghĩa rọi vào đó một luồng ánh sáng mới, làm bật ra những khía cạnh nguời khác không thấy được. Song chính vì thế, người ta lại thích đọc các tiểu sử do Zweig viết, ở đó, những nguời chúng ta tưởng đã quen, hiện ra với nét mặt mới.
Đặt bên cạnh Maurois, Zweig, thì cách làm của Stone có khác, và khác khá rõ. Tuy cũng có một lần, ông viết một cuốn tiểu sử thuần tuý, cuốn Người thuỷ thủ trên yên ngựa – kể về đời Jack London, nhưng nói chung những cuốn sách của Stone viết về Michelangelo, Mary Todd và A. Lincoln … thường vẫn được gọi một cách chính xác hơn là tiểu thuyết – tiểu sử. So với những tiểu sử thuần tuý nói trên, nó có một số chỗ khác. Ngay trong ý định, rõ ràng ở đây tác giả tuyên bố mình viết tiểu thuyết, chứ không làm bất cứ một việc gì khác. Đối với nhân vật tiểu thuyết, các nhà văn xưa nay thường tự nhận mình đóng vai trò một thứ tạo hoá, điều khiển họ. Trong tiểu thuyết – tiểu sử, sau khi đã nghiên cứu kỹ tư liệu, nhà văn cũng phải có một cảm giác tương tự. Tôi sẽ không kể về nhân vật như tôi biết, mà sẽ miêu tả họ như tôi hình dung. Chẳng hạn đây là một đoạn đối thoại. Người viết tiểu sử bảo: theo các tài liệu, thì ở đây, các nhân vật nói với nhau như vậy. Còn người viết tiểu thuyết, không úp mở gì cả, nói rõ đây là do tôi “bịa” ra, nó là một đoạn đối thoại có thể có chứ không phải nhất định có, nhưng có quyền được chép ra đây, vì nó hợp lý, đúng với lôgích nhân vật mà cũng đúng với lôgích của lịch sử. Như trên đã nói, công phu nghiên cứu của tác giả viết tiểu thuyết tiểu sử cũng phải rất dày, nhưng đến lúc ngồi trước trang giấy, người viết lại phải giấu nó đi,tất cả cứ y như hoàn toàn vừa do cảm hứng mà hình dung ra. Giữa các trang sách là một không khí hoàn toàn thoải mái, người đọc sống trong thế giới do tác giả dựng tạo ra tự nhiên, nhẹ nhõm. Trên nhiều phương diện, loại tiểu thuyết tiểu sử này cũng gần với các tiểu thuyết lịch sử mà chúng ta từng đọc (chẳng hạn Piotr đệ nhất của A. Tolstoi), chỉ có điều khác một bên nhấn mạnh sắc thái lịch sử, một bên đi vào sự hình thành cá tính, nhân cách và những bước phát triển của nhân cách đó. “Nhân vật có thể làm những điều mà trong thực tế họ không làm, nhưng không được làm điều mà trong thực tế họ không thể làm”. Trong cả hai trường hợp (tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết tiểu sử), nguyên tắc ấy đều có vai trò chi phối. Nói như một nhà văn, đồng thời là một nhà nghiên cứu Liên Xô, ông Iu .Tynianov, thì sự sáng tạo của nhà văn bắt đầu ở nơi mà tư liệu kết thúc. Vả chăng, ngay trong khu vực hẹp là tiểu thuyết tiểu sử thôi, lại cũng mỗi cuốn mỗi khác. Có trường hợp nhà văn chưa đi xa các cuộc đời riêng là bao, vẫn bám sát nhân vật từ đầu đến cuối đời, và xây dựng cốt truyện theo trục thời gian. Nhưng có nhiều khi, nhà văn chỉ cắt lấy một giai đoạn nào đó trong cuộc đời nhân vật, để tô cho thật đậm và nếu đôi lúc có nhắc lại quãng đời khi nhân vật còn nhỏ, thì cũng là đặt nó trong hồi ức, mà không miêu tả trực tiếp. Thậm chí, có những trường hợp đặc biệt như cuốn Mặt trăng và đồng sáu xu của S. Maugham. Tuy đọc sách, ai cũng biết rằng nhân vật hoạ sĩ trong tiểu thuyết có những nét của P. Gauguin, nhưng ở đây, Gauguin được khoác cho một cái tên mới là Striklend nhờ thế, sự ràng buộc của tác giả với tài liệu có thực có được “nới tay” hơn, mà phần chủ quan của tác giả có được gia tăng mạnh hơn. So với những người có phần… “quá đáng” như vậy, cách làm của Stone trong Khát vọng sống thuộc diện trung hoà, vừa phải. Ông không viết đầy đủ cuộc đời Van Gogh từ khi đẻ ra, rồi lớn lên, đi học ra sao, vào trường ra sao. Nhưng quãng đời Van Gogh từ khi sang Luân Đôn làm cho hãng Gopin cho đến lúc chết, được kể lại đầy đủ. So với những chi tiết có thật trong cuộc đời Van Gogh (được ghi lại khá kỹ trong thư từ Van Gogh trao đổi với người em là Théo , hoặc hồi ký do một nguời em gái hoạ sĩ và các bè bạn viết ra). Mọi chuyện hầu như được giữ nguyên. Tác giả chỉ lưu ý để các chi tiết lắp ghép vào nhau liền mạch, không bị những “vết hàn” lộ liễu. Do sự thống nhất nội tại của cuốn sách được duy trì liên tục, đôi lúc người đọc không nhớ mình đang đọc một cuốn tiểu sử nữa, mà là lạc vào một thế giới khác, thế giới của những tiểu thuyết thông thường vẫn đọc. So với văn học phương Tây vài chục năm nay, thì cách làm này có phần thuộc mốt cũ, cái mà người ta hiện đang ưa chuộng là những tiểu sử trong đó tư liệu để chay, để mộc , không bị tiểu thuyết hoá gì hết (đã có một thời, chữ tiểu thuyết hoá được đồng nghĩa với một sự làm đẹp phàm tục, bởi vậy, nó mới bị nghi ngờ đến thế!). Song, đối với những người gần như chưa được đọc một chút tài liệu nào về Van Gogh , thì đây lại là một cuốn sách vừa đáng tin cậy, vừa dễ đọc, “dễ tiêu hoá”. ở Liên Xô trước đây cũng vậy. Lần đầu được dịch ra tiếng Nga năm 1961, cuốn sách được chào đón khá nồng nhiệt, cả những nhà văn lớn Paustovski cũng có bài nhắc nhở đến Van Gogh, nhân những ấn tượng mà cuốn sách gợi ra. ở Pháp, cuốn sách cũng đã được dịch in từ 1955.
Những bài học rút ra từ cuộc đời và sáng tác một nghệ sĩ lớn
Trong lời giới thiệu viết cho một cuốn tiểu thuyết tiểu sử khác của Stone cuốn Những dày vò và những thần hứng, viết về Michelangelo (in ở nhà xuất bản Văn học quốc gia, Moskva 1971), một nhà nghiên cứu xô-viết từng nhận xét: Đây là cuốn sách nói về những bi thảm trong số phận của một nghệ sĩ và những ngoan cường trong việc vượt qua những giới hạn mà người nghệ sĩ đó gặp phải, trên con đường phấn đấu cho một nghệ thuật chân thực và sâu sắc. Qua cuộc phấn đấu, càng thấy chói sáng lên những phẩm chất tuyệt vời vốn có ở người nghệ sĩ ấy: niềm say mê nhằm đạt tới một mục đích, sự trung thành tận tâm với lý tưởng, và những yêu cầu rất cao đặt ra với chính mình. Đây cũng là cuốn sách nói về di sản quý báu của nền văn hoá nhân loại , về mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, và về sứ mệnh đẹp đẽ của những nền nghệ thuật tiến bộ.
Nếu không phải tất cả thì phần lớn những nhận xét đó cũng đúng với Khát vọng sống.
Qua cách trình bày của Stone mà cũng là qua chính cuộc đời có thực của Van Gogh, chúng ta thấy người hoạ sĩ này quả là một nhân cách mạnh mẽ. Ông vào nghề không phải theo lối a-dua, tố chút tài hoa bé nhỏ của mình lên thành sự nghiệp lâu dài, cũng không phải loại lấy ý chí thay cho tài năng, sống trong nghề như một công chức, hoặc loại hoang tưởng, lập dị, làm khổ mình và khổ những người khác. Không, Van Gogh là đối cực của tất cả những nghệ sĩ nửa mùa, nghệ sĩ bất dắc dĩ kiểu đó. Ông chỉ đến với nghệ thuật sau khi đã thử làm đủ thứ nghề khác không thành. Vốn không phải một thứ thần đồng được phát hiện từ bé, già nửa đời người, ông mới hiểu ra rằng chỉ cầm bút vẽ, mình mới tìm được cảm giác thoả mãn hoàn toàn, “sự thoả mãn ông chưa hề thấy bao giờ, kể cả khi phụng sự Chúa”, tức là đi truyền giáo. Vẽ, với Van Gogh từ nay nghĩa là sống. Thành thử, tất cả sự say mê, nghị lực tình yêu được ông dồn lên đầu ngọn bút và trước mắt chúng ta không chỉ là một Van Gogh đầy tài năng, có một trực giác đặc biệt với nghề nghiệp, mà còn là một người lao động cần mẫn, hết sức kiên trì trong việc biến cuộc sống nội tâm thành đối tượng cho những cuộc thể nghiệm đầy tính sáng tạo. Nghệ thuật không phải là thứ đạt được mà không mất gì, nó sẽ ăn sống nuốt tươi từng nghệ sĩ. Cho tới việc xây dựng từng tác phẩm cụ thể, mỗi lần sáng tạo thực ra cũng lại là “một ván bài” và chỉ một nghệ sĩ phiêu lưu mới dám dấn tới… Tất cả những điều đó Van Gogh biết, nhưng ông sẵn sàng “chơi những ván bài ấy” và không bao giờ tính toán trong việc đánh đổi cuộc đời mình lấy một ít thành quả mà ông tin tưởng đó mới là hội hoạ thực sự. Trên nét lớn, môtíp chính trong cuộc đời Van Gogh mà Stone khai thác là sự đam mê, một trong những môtíp từng được khai thác từ thời bi kịch Hy Lạp, qua Shakespeare, cho đến chúng ta hôm nay. Như một thuộc tính của con người, sự đam mê ấy mỗi lần hiện ra mỗi khác, song suy cho cùng, nó là một động cơ tạo nên sức sống mạnh mẽ của mỗi cá nhân, nó là nguồn gốc của bao niềm vui cũng như bao bất hạnh đến với chúng ta hàng ngày. Sự đam mê này không chỉ đặc trưng riêng cho các nghệ sĩ chân chính, không chỉ là nét tiêu biểu của các nhân cách lớn mà còn tiềm ẩn trong bất cứ con nguời nào đang sống. Cuốn sách của Stone do đó không chỉ liên quan đến một ít người làm nghề sáng tạo mà là liên quan đến mỗi chúng ta nữa.
Van Gogh lớn lên và làm nghệ thuật trong thế kỷ XIX, cuộc sống riêng của Van Gogh và bạn bè có nhiều nét khác với con người của các thế kỷ kế tiếp . Nhưng tinh thần ham học ham làm, tinh thần sống chết với nghề nghiệp của người hoạ sĩ này là điều các thế hệ đến sau hoàn toàn có thể chia sẻ.
Van Gogh không chỉ là một biểu tượng về sức sống, về sự đam mê của con người. Trong việc làm nghề , Van Gogh lại là một biểu tượng đẹp đẽ về sự sáng tạo. Trong một chuyên khảo viết về bậc thày hội hoạ này, một nhà nghiên cứu kết luận cuốn sách hơn 400 trang tiếng Nga với hàng trăm trang minh hoạ của mình bằng những dòng trang trọng: “Nhờ chiến công của Van Gogh, những nỗ lực anh hùng của ông, những đau khổ mà ông phải gánh chịu , khái niệm sáng tạo đối với các thế hệ sau trở nên có ý nghĩa: đó là một hoạt động tinh thần căng thẳng, một hình thức tự nhận thức tích cực, một phương thức để vượt qua những khủng khiếp của đời sống , cũng như sự ngăn cách giữa cái tôi và thế giới” (*)
Một điều nữa cũng rất quan trọng: tuy viết về tiểu sử Van Gogh, cuốn sách của Stone cũng là một thứ tài liệu hướng dẫn tốt, để chúng ta hiểu thêm tranh của ông. Cũng như các nghệ sĩ lớn khác. Van Gogh có thế giới riêng của mình, và ông là người chủ độc đoán trong cái thế giới đó. Dù trên những bức sơn dầu đã hoàn chỉnh hay qua các phác thảo, một khuôn mặt, mấy dáng nguời, một bó hướng dương, dăm cây trắc bá… , bất kỳ cái gì Van Gogh đã vẽ đều mang dấu ấn riêng của ông. Làm quen với chúng, thoạt đầu chúng ta không khỏi bỡ ngỡ, song dần dà tất cả những cái đó không xa lạ với chúng ta. Từ thế giới của Van Gogh trở về, chúng ta nhận ra chung quanh có những đường nét màu sắc của Van Gogh mà bấy lâu chúng ta không biết. Ai đó từng nói: “Vai trò của nghệ sĩ là cống hiến cho thế giới những sự vật mà không ai có ý yêu cầu, nhưng khi tiếp nhận rồi thì không ai có thể nói là không cần tới”.
Do nhiều lý do khác nhau, nhiều bạn đọc Việt Nam – kể cả những người đã trở thành người viết chuyên nghiệp — không có dịp tiếp xúc đầy đủ với nghệ thuật hội hoạ. Cả một thế giới phong phú từ Léonard de Vinci, Rafael, Rembrant, Rubel …đến Monet , Manet, Degas, Renoir, Rousseau … đối với chúng ta còn là xa lạ. Thỉnh thoảng, có dịp nghe những người thành thạo về hội hoạ giảng giải, như Ehrenburg nói về Picasso, Aragon viết về Matisse hoặc dừng lại giữa những trang viết của những nhà văn tinh tế như C. Paustovski, chúng ta không khỏi giật mình, rằng trong quá trình rèn luyện nghề nghiệp, lẽ ra chúng ta phải dành chỗ nhiều hơn cho nghệ thuật tạo hình mới phải. Trên một bối cảnh như thế, những cuốn sách như Khát vọng sống của I.Stone không chỉ có tác dụng nâng cao hiểu biết về sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ, mà còn là một nguồn kích thích để chúng ta kiên trì làm quen với nền nghệ thuật đang đổi mới. Đó là một công việc có ích rất nhiều cho nghề nghiệp mỗi người viết văn và cả những người làm nghề khác nữa. Bởi lẽ nghệ thuật vốn có sự đồng đều của nó, trước sau các ngành, các bộ môn sẽ nối tiếp nhau tiến lên trên một con đường chung. Hiểu và yêu thêm tranh của Van Gogh, Gauguin, Cezane, Picasso, Matisse… là một trong những cách tốt nhất để hiểu thêm văn xuôi Marcel Proust, Faulkner, Hemingway… hiểu thêm thơ Eluard, Brecht, Neruda… và nhiều người khác.

Đường dài tới chân lý (*)

(Vài nét về thơ thế kỷ XX )

I
J.R. Becher trong bài D?o đầu đã chào Thế kỷ Hai mươi:
Xin chào người thế kỷ
Thời đại của mọi thời
Không thể gì so đọ
Nguyễn Quân dịch
Ông đã từng gặp gỡ lời tâm tình thắm thiết của Hikmet trong bài Thế kỷ hai mươi:
Thế kỷ của tôi sẽ tung tớ ánh mặt trời
Em ơi như mắt em loé sáng
Xuân Diệu dịch
ở bài Tầm cỡ và khốn khổ, Becher đã ca ngợi con người vừa hùng vĩ cao cả làm được mọi cái phi thường nhưng cũng khốn khổ hèn hạ “vì không có tội ác nào đối với người là quá sức”. Ông lại gặp người bạn Thổ Nhĩ Kỳ không hề tiếc sinh nhầm thời.
Thế kỷ tôi khốn khổ, oái oăm đầy
Thế kỷ tôi can đảm, lớn lao và hùng dũng
Các nhà thơ lớn của chúng ta đều có những phát ngôn gặp nhau về thế kỷ này. Nezval có lý khi ông hơn hở thốt lên:
Thế kỷ hai mươi thật tuyệt vời
Thật tuyệt vời mỗi phút mỗi giây
Thuý Toàn dịch
Tháp Effel do kỹ sư Effel thiết kế được xây dựng năm 1889 cho triển lãm thế giới tại Paris mỹ lệ và cổ kính. Một kỹ sư đã làm việc của nghệ sĩ. Nó cao gần 300m và ghép bởi 12.000 cấu kiện thép. Nhiều người chê bai nhưng tác giả bảo “Kim tự tháp đâu có làm xấu nước Ai Cập cổ”. Đến nay vẻ đẹp của nó đã được công nhận, nó trở thành đồ trang sức quý giá của thủ đô truyền thống văn hoá châu Âu. Nhìn nó suy ra, ta thấy được một phần căn bản của những đổi thay thê gớm đến với châu Âu thế kỷ hai mươi ở cả hạ tầng cơ sở ,quan hệ xã hội, mọi hình thái ý thức và cả cách cảm nghĩ của con người. Thiên nhiên thiên tạo thanh bình nhường chỗ cho thiên nhiên nhân tạo kỹ thuật. Năng lượng gỗ than đá nhường chỗ cho năng lượng dầu lửa và nguyên tử. Những ống khói chia sẻ bầu trời cùng các tháp thánh đường cổ kính. Với kiến trúc hiện đại, cái nhà — theo lời kiến trúc sư Le Corbusier — trở thành “cái máy để ở”. Kỹ thuật đã biến toàn bộ môi trường sống con người thành một cái máy khổng lồ. Giữa “khu rừng rậm của các thành phố” mới thành hình, một thế giới ra đời, với vẻ đẹp và cái xấu của nó. Chính sản xuất phát triển với tốc độ chóng mặt đã làm cho bản thân con người phải thay đổi mới thích ứng nổi. Toàn bộ giác quan của con người suốt bấy nhiêu giờ trong một ngày đều tiếp xúc với các sản phẩm kỹ thuật. Tay ta sờ lên đồ nhựa, cao su, thép trắng, cảm giác khác hẳn khi sờ lên mặt gỗ của cây rừng. Tai nghe tiếng động cơ, tiếng phương tiện giao thông nhiều hơn tiếng sấm hay tiếng chim hót. Âm nhạc được đóng hộp lại trong cái máy thu phát hay các phòng cách âm đặc biệt. Mắt nhìn lên màn ảnh nhiều hơn nhìn cây, nhìn mặt hồ. Cả đến mùi vị cũng khác đi, thức ăn cũng đóng hộp và để hầm lạnh hàng tháng, hàng năm.
Kỹ thuật chỉ là cái cầu nối khoa học với sản xuất. Nó đã ngắn lại bởi khoa học tiến gần và gộp nhập làm một với quá trình sản xuất để rồi thực sự trở thành một sức sản xuất trực tiếp. Vật lý hiện đại với thuyết lượng tử, thuyết tương đối , với bao nhiêu thành tựu khác, đưa nhận thức con người lên một trình độ mới. Tâm lý học và các ngành sinh học, y học… đi mãi vào bên trong cơ thể và cơ chế tinh thần của con người. Hoá học đảo lộn khái niệm về chất liệu. Kỹ thuật chế ngự thực tại vật chất, khoa học chế ngự đời sống tinh thần. M. Alpatov, một nhà lý luận nghệ thuật xô-viết đã nói: Người thời Phục Hưng tin ở cái đẹp, như người Trung Cổ tin ở tôn giáo và người ngày nay tin ở khoa học. (Cố nhiên, lòng tin này chỉ được khẳng định sau khi con người đã vượt qua được những thách thức do chính khoa học đặt ra, nghĩa là những tác động ngược trở lại của nó với con người, có ý nghĩa tiêu cực).
Bão táp của cách mạng xã hội trong thế kỷ chúng ta cũng lớn lao và dữ dội không kém nếu không hơn bão táp ở khoa học kỹ thuật. Từ cuối thế kỷ XIX, khi việc phân chia thuộc địa vừa xong, thì cũng là lúc chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Phong trào giải phóng thuộc địa dấy lên ở khắp nơi, bởi quá nửa nhân loại còn đang chìm đắm trong cảnh đen tối. Hai cuộc chiến tranh thế giới làm sụp đổ nhiều niềm hy vọng nhưng lại mở ra cho các dân tộc những hướng suy nghĩ mới và những con đường mới để khẳng định mình . Từ đó tới nay, thế giới đã có bao nhiêu thay đổi , biết bao dự đoán tan tành biết bao khẳng định tưởng chắc như đinh đóng cột nay thành mây khói , nếu có một điều người ta có thể tin tưởng thì điều ấy chỉ là nhân loại đang trăn trở để tìm cho mình một tương lai hợp lý và tương lai đó chưa phải một lúc đã hình thành rõ rệt. Trong khi đó, chỉ có sức sản xuất là đáng sợ ,sản xuất phát triển liên tục làm thay đổi diện mạo bức tranh thế giới . ý kiến nổi tiếng của Engels “khi lao động được xã hội hoá và quốc tế hoá thì vấn đề của nước này, các sự kiện ở nước này sẽ trở thành thiết thân, sẽ trở thành mối quan tâm và có ý nghĩa trọng yếu với các nước khác” luôn được chứng nghiệm.
Trước khi nói đến những đổi thay xảy đến trong nghệ thuật thế kỷ XX, còn phải nhấn mạnh thêm một khía cạnh nữa là những đổi thay trong tư tưởng, suy nghĩ của con người. Hình thái ý thức xã hội ở tầm chung nhất, gần gũi với văn học nghệ thuật nhất, thường khi dẫn dắt và thâm nhập vào tận xương thịt nghệ thuật , là các trào lưu triết mỹ. Chưa bao giờ như trong thế kỷ này các học thuyết ra đời và thay thế nhau với một tốc độ nhanh đến thế. Ngay từ 1900 , nhà triết học Đức Nietzsche đã qua đời nhưng tư tưởng của ông còn phát huy ảnh hưởng tới cả hệ triết học siêu hình – phi lý của thế kỷ. Xem xét cơ cấu cơ bản của sinh tồn, Nietzsche khẳng định “ không có gì là chân lý, tất cả đều được phép”, một nguyên tắc mở đường cho mọi tìm tòi hỗn loạn mà dưới đây, chúng ta sẽ thấy. Với quan niệm đời sống là một dòng chảy miên man không ngưng đọng — đó cũng là một dòng chảy mà ta không giải thích nổi, một dòng chảy phi lý chỉ có thể “thấy được bằng trực giác” — triết học của Bergson sớm trở thành một chỗ tựa cho mọi tìm tòi vô vọng của nghệ thuật . Freud, nhà phân tâm học áo nêu ra những phát hiện mới về cõi tiềm thức và do đấy, truy tìm tận gốc bản chất sự sáng tạo, song lý thuyết của ông có khi bị đẩy đến mức siêu hình. Sau hết, một trào lưu có ảnh hưởng lớn ở Tây Âu là chủ nghĩa hiện sinh, tuyệt đối hoá sự cô độc của cá nhân con người trong xã hội nói chung, khẳng định bản chất thù nghịch của mọi xã hội đối với mỗi cá nhân. Tất cả các tư tưởng mỹ học này có cùng một đặc tính chung là phiến diện, cực đoan, dễ dẫn đến những lầm lạc quái gở. Song chúng cũng đã phản ảnh cái cảm giác mà nhiều người ở nửa đầu thế kỷ này trải qua: cảm giác rằng hình như mình đang đứng giữa một cơn lốc những biến chuyển xã hội kinh khủng. Khi thử hình dung thời gian trước đại chiến Thế giới thứ nhất. S. Zweig bảo rằng “đó là thời đại hoàng kim của sự ổn định. Tất cả hình như là rất vững chắc”. Nhưng rồi quá khứ thanh bình đó chỉ còn trong mộng . N. Weiner, một nhà khoa học lớn của thế kỷ này , diễn tả những bàng hoàng của mình như sau “Giờ đây, chúng tôi vẫn khó tưởng tượng rằng chuỗi dài khủng hoảng mà chúng tôi từng qua, lại là cuộc sống chính thức của mỗi cá nhân. Ngày nọ sang ngày kia, mỗi người chúng tôi đều ôm ấp một mơ ước thầm kín: Vào một buổi sáng đẹp trời nào đó, chúng tôi trở dậy, và lại sống cái nhịp sống chừng mực, nhịp nhàng của những ngày đầu thế kỷ” (*)
Có điều chắc là sau những sao động như vậy, con người chỉ có thể có một thái độ tích cực là nhìn thẳng vào đời sống thích ứng với nó và bằng cách của mình chiến đấu cho một đời sống tốt đẹp hơn.

II.
Xem xét những đổi mới đến với thế kỷ, một nhà khoa học tuyên bố: “Chúng ta đã thay đổi hoàn cảnh tới mức để tồn tại được, chúng ta phải thay đổi chính mình”. Trong số những thứ thuộc về “chính mình” đó, có nghệ thuật.
Picasso, hoạ sĩ lớn gốc Tây Ban Nha có lần phát biểu “Tôi không vẽ sự vật như tôi nhìn thấy chúng, mà như tôi tư duy về chúng”. M. Chagan, hoạ sĩ thơ mộng bậc nhất của thế kỷ XX , gốc người Nga, khẳng định “Đừng nói đến chất thơ, chất cổ tích trong tranh tôi; tôi là nhà hiện thực chủ nghĩa”. I. Stravinski một trong những nhạc sĩ lớn nhất của thế kỷ có lần bảo: “Truyền thống không phải là một cái gì hoàn thiện của quá khứ, mà là một sinh lực, có khả năng động viên, lôi cuốn những cái hiện tại. Nó giống như di sản của gia đình, cái chính là cần sinh lợi, trước khi gởi gắm lại cho các lớp con cháu”. Nhìn nhận tác phẩm của chính mình, ông khẳng định: “Tôi hàn lâm, như là tôi rất hiện đại và cũng chẳng hiện đại bao nhiêu, so với sự bảo thủ của mình”.
Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội. Đó là một định đề nổi tiếng của Marx – khi thực tại xã hội thay đổi , tất nhiên sự “ ý thức xã hội bằng nghệ thuật” cũng phải đổi thay theo. Riêng đối với thế kỷ XX, thì đó là một sự đổi thay ghê gớm đến mức kinh ngạc. Nhiều ngành nghệ thuật mới ra đời. Trong mỗi ngành nghệ thuật thấy xuất hiện những thể loại mới , đánh dấu những tiến bộ mới về kỹ thuật, về quan niệm và những dạng năng lượng mới. Chung quanh sự nảy nở của nhiếp ảnh, điện ảnh, sự phát triển mạnh mẽ của xiếc, sự hình thành một ngành mỹ thuật mới như design ( tức đi giai , tạm dịch là tạo dáng ) , người ta có thể thấy ra bao nhiêu vấn đề mà chỉ nghệ thuật thế kỷ XX mới có. Song cũng không kém phần đáng chú ý là những thay đổi đã đến với những ngành nghệ thuật lâu đời, như sân khấu, hội hoạ, âm nhạc, vì ở đây cái gì có thể biến đổi thì đã biến đổi, bản chất của mỗi ngành nghệ thuật được thách thức đến mức mạnh mẽ nhất , do đó sức sống dai dẳng và lý do sống của nó cũng có dịp biểu hiện.
Theo những chuyên gia về lịch sử âm nhạc, thời gian chuyển tiếp giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX là cả một bước ngoặt. Với các sáng tác của Debussy, Ravel , Schonberg, Stravinski và Prokofiev …, những nguyên tắc chỉ đạo việc sáng tạo cụ thể (sự phối hợp hữu cơ giữa cái phức tạp và cái giản dị, qui luật về sự bình quân giữa các yếu tố âm nhạc …) tất cả những “khuôn vàng thước ngọc” đó được giải thích lại, và biểu hiện hết sức sinh động trong các sáng tác cụ thể. Âm nhạc thế kỷ chúng ta đang sống hiện ra với một vẻ đa dạng chưa từng có.
Từ bỏ những quan niệm truyền thống về các phương tiện biểu đạt như màu sắc, hình khối, làm lại luật viễn cận, một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình cũng được hoàn thành bởi một loạt các nghệ sĩ bậc thầy như Picasso và Klee, Matisse và H. Rouseau , Siqueiros và S. Dali… Nhìn tranh các thế kỷ trước, còn khó phân biệt đâu là thế kỷ XVI, XVII hay XVIII, trong khi nhìn vào tranh thế kỷ XX có thể biết ngay — đấy là một sự thực cần được ghi nhận.
Sân khấu các thế kỷ trước vốn rất chặt chẽ trong cách xử lý không gian thời gian của nó, nay chính những khái niệm cơ bản này được xác định lại và những cố gắng liên tục của Antoine và Craig, của Mayerhold của Pirandelo là gì , nếu không phải là mở rộng không gian sẵn có, từ đấy cả mối quan hệ của con người trong không gian cũng khác hẳn.
Người ta cũng có thể tìm thấy ở thơ những đổi mới tương ứng, hơn nữa, những thay đổi phù hợp với sự thay đổi đã xảy ra trong nghệ thuật nói chung. Miêu tả sự vận động của thơ trong lịch sử là cách làm tốt nhất. Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi một công trình nghiên cứu đầy đủ, chúng tôi trình bày sự tiến triển của thơ theo hai hướng chính sau đây.
Một là những trào lưu, những chủ nghĩa mà thơ cùng với hội hoạ đã đi qua, từ đó tìm hiểu những đổi mới về ngôn ngữ thơ ca là điều chúng ta đặc biệt coi trọng.
Hai là những biến động đã đến với thơ trên tất cả các phương diện tìm và sử dụng chất liệu, nguyên tắc cấu tạo, nguyên tắc gia công, kỹ thuật để hình thành tác phẩm, cùng những con đường mà thơ thế kỷ này đã đến với bạn đọc. Một quá trình dài thể nghiệm, để định nghĩa lại về thơ, mà cũng là quá trình mở rộng khả năng biểu hiện và đưa thơ trở lại thực là thơ hơn bao giờ hết.
Có một đặc điểm có thể thấy rất rõ trong hoạt động của các ngành văn hoá, nghệ thuật thế kỷ XX, đó là sự sóng đôi giữa hội hoạ và thi ca để đi vào những miền đất mới. Cuối thế kỷ trước, mối giao lưu giữa hai ngành nghệ thuật này hình thành trên cơ sở một lý tưởng văn hoá chung, hoặc những gần gũi thiện cảm trong đời sống cá nhân. Zola từng hết sức ủng hộ hoạ sĩ Manet trong cuộc cách tân làm cho mặt tranh sáng rỡ lên một cách kỳ lạ, song họ không đi một hướng . Zola là nhà tự nhiên chủ nghĩa lớn, còn E. Manet trở thành bậc đàn anh mở đường cho chủ nghĩa ấn tượng Pháp. Mối quan hệ giữa Eluard với M. Ernest ngày nay khác hẳn. Sự đồng tâm nhất trí của họ, sự khao khát lý tưởng chung ở họ biểu hiện trước tiên ở ngay trong công việc cụ thể là sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật. Sự gắn bó này có nguyên uỷ sâu xa ở những liên hệ giữa ngôn từ và hình ảnh, giữa tư duy lôgích – trí tuệ và kênh thị giác, những liên hệ đã được xác nhận trong lịch sử lâu dài của nghệ thuật và ngày nay đang được mỹ học chứng minh thêm. Khi Lorca ca ngợi người hoạ sĩ đồng hương sau này rất nổi tiếng của mình là S. Dali .
Tôi ca ngợi cái buâng khuâng nó theo đuổi anh không ngừng, cái nỗi lo âu hồi hộp
nó đang đợi anh ở góc đường.
Tôi ngợi ca tâm hồn bể cả vang trong anh giữa những san hô và vỏ ốc
Nhưng trước hết tôi ca ngợi cái lý tưởng chung nối chúng ta trong những giờ đen tối
hay huy hoàng
Tế Hanh phỏng dịch
Chúng ta thấy cái mối liên hệ trên hiện ra sâu xa biết ngần nào. Cái không khí bâng khuâng phấp phỏng thậm chí lo âu, mộng mị đôi khi đến bí hiểm, những môtip như vỏ sò, vỏ ốc ở tít xa mà vẫn đổ bóng trên nền cát mịn và biển lặng huyền ảo… đó , là của chung ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ hội hoạ trong cái quan niệm siêu thực mà Dali và Lorca cùng chấp nhận. Rõ ràng hai ngành nghệ thuật này có những nguyên lý chung và những thủ pháp chung, tạo ra những hiệu quả xúc cảm tương tự nhau. Giữa tranh của Manet và tiểu thuyết của Zola không thể tìm thấy sự gần gũi đến hầu như tuyệt đối như vậy.
Một cái nhìn thấu đáo trước tiên đòi hỏi phải xem xét hiện tượng nảy nở nhiều “izm” ở đầu thế kỷ này, như dấu hiệu rõ rệt của tình trạng khủng hoảng bao trùm trong nền văn hoá đầu thế kỷ. Thế giới được phản ánh thành một hình ảnh cực kỳ phi lý, trong đó cái ác mặc sức hoành hành và những người làm nghệ thuật chỉ còn có cách là tự thu mình lại trong cái tôi và những tìm tòi hình thức chủ nghĩa. Từ chỗ hoài nghi, đến chỗ hoàn toàn bi quan, thất vọng, thoá mạ con người, khoảng cách không phải thật xa, và đó chính là con đường đi tới của các chủ nghĩa suy đồi , ấy là không kể một số nhân vật quan trọng trong chủ nghĩa hiện đại thường khi vô nguyên tắc trong lập trường chính trị: nhà thơ Mỹ nổi tiếng Ezra Pound và hoạ sĩ vị lai ý là Marinetti đã ủng hộ chế độ phát xít của Moussolini… Tất cả những hiện tượng đó còn được ghi trong sử sách, không một sự thông cảm nào biện hộ nổi. Song, cũng chỉ có thể gọi là thấu đáo, khi người ta công nhận một sự thực; ở các nước tư bản, chủ nghĩa hiện đại “thường mang trong nó tinh thần phê phán, đây là yếu tố khiến nó có ý nghĩa nhất định và có sức sống” (Lịch sử văn học nước ngoài thế kỷ XX, Moskva, 1980, phần dẫn luận) “Công lao không ai có thể phủ nhận của chủ nghĩa biểu hiện là đưa lên hàng đầu con người, thế giới nội tâm của nó, ngay lúc con người bị đe doạ tiêu diệt trong cuộc chiến tranh đế quốc đẫm máu và chịu sức ép khủng khiếp của nền sản xuất tư bản”, “ Chủ nghĩa hình thức và những tìm tòi thuần tuý thẩm mỹ có tác dụng củng cố thêm một số truyền thống sẵn có, và thường làm rõ ở nó khía cạnh chống đối vốn rất cần phải có ở các nghệ sĩ chân chính “ (như trên, phần dẫn luận).
Từ những nhận định cơ bản này có thể phát triển và nêu lên những đặc điểm sau đây của các “izm”, cũng là những điểm cần được lưu ý , khi tiếp xúc với chúng:
1. Mỗi “chủ nghĩa” đó đều gắn bó với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, sự nảy sinh của nó trong hoàn cảnh đó là hợp lý: phải công nhận trong hoàn cảnh ấy, nó là một phản ứng tích cực; có điều sau đó, phản ứng cụ thể kia được nêu lên thành nguyên lý có ý nghĩa cực đoan và trở nên không thích hợp nữa. Ví dụ, ngay từ cuối thế kỷ XIX, sau sự thất bại của Công xã Paris, thơ Rimbaud ,Verlaine – những người mở đường cho thơ thế kỷ XX – không chỉ một chiều tiêu cực như có người vẫn bảo. Số phận của Verlaine chính là tượng trưng cho số phận của cái đẹp nổi loạn chống lại cái thực tế đời sống hết sức kỳ quái lúc đó. Khẩu hiệu “âm nhạc trước tất cả” không phải là sự từ bỏ nội dung mà là mong muốn bảo vệ nghệ thuật cao cả, bảo vệ sự thành thật, đạo lý, chống lại mọi thành kiến. Đó là một cuộc chiến đấu cho chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật, chứ không phải chống lại nó ; một sự phát hiện ra thế giới, chứ không từ bỏ nó.
Một bằng chứng hiển nhiên khác: nhóm siêu thực ở Pháp, những năm 20-30. Theo quan niệm của những người tham gia trong nhóm, cuộc nổi loạn ở họ là nhằm chống lại mọi nếp sống tư sản. Hoặc nhóm các nhà thơ hermetism (chủ nghĩa kín mít) ở ý được hình thành là để đối lập lại với thực tế chủ nghĩa phát xít lúc đó. Trong đại chiến thứ hai, hầu hết các nhà thơ này lại tham gia kháng chiến.
2. Cực đoan, phiến diện là đặc tính bẩm sinh của mỗi “chủ nghĩa”, nhưng đó là những lầm lạc cần thiết trên đường tìm tới bản chất thời đại, và cả cái ảo tưởng đáng yêu ,cho rằng chỉ biến đổi như thế, nghệ thuật mới biểu hiện được đúng thời đại. Dada dùng sự lắp ghép, dùng các chất liệu và đồ vật thật mà làm tranh tượng và tự phát “tuôn” ra thơ, vì quá bị ám ảnh bởi cái hỗn độn bề ngoài của những năm đầu thế kỷ. Vị lai tuyên bố tốc độ, sự vận động là bản chất của công nghiệp. Những vòng xoay ào ào cuồn cuộn làm nhoè mờ cả mọi hình thể trên tranh của phái vị lai, những câu thơ to tát và những nhịp thơ biến động của Maiakovski tương đồng với vòng quay của máy móc cơ khí và những tiếng động của búa máy, lò hơi. Siêu thực dùng cái mênh mang vô định đầy đe doạ của các cơn ác mộng để nói lên tâm tưởng bất an của mình. Tranh của các hoạ sĩ biểu hiện với màu sắc đập vào nhau chan chát, hình thù méo xệch, nét vẽ như dao cắt nát, băm vằm mặt tranh, cũng như những bài thơ kiểu “khải hoàn và tàn rữa” của Becher thời trẻ là tiếng thét vô vọng của những sinh thể lúc đang giẫy chết
Tóm lại, mỗi “izm” đó nhìn nhận bản chất xã hội ở một biểu hiện hình thức nào đó và tìm một ngôn ngữ nghệ thuật tương đồng tuyệt đối với biểu hiện đó. Do vậy – nói theo ngôn ngữ học – ngữ nghĩa của các đơn vị trong cái ngôn ngữ này mạnh lên, song toàn bộ hệ thống ngôn ngữ thì hẹp lại. Vì hai lý do đó, mà các “izm” vừa có cống hiến, vừa có những lầm lạc không thể biện hộ từ đó dẫn tới việc chết yểu của chúng.
Dẫu sao, so với thời kỳ cuối thế kỷ XIX, khi con người chỉ có một phản ứng thụ động trước sự phát triển công nghiệp, thì giai đoạn có nhiều tìm tòi hỗn loạn này, cũng đánh dấu một thái độ tích cực, một niềm tin tự tin: người ta muốn nhìn thẳng vào hiện thực và tìm cách biểu hiện nó. Từ sau chiến tranh, gần như mọi thí nghiệm đã hoàn thành và sinh hoạt nghệ thuật có phần ổn định hơn. Điều đó chứng tỏ các “izm” chỉ là một hiện tượng lịch sử.
3. Do quan niệm rằng trong quá trình sáng tác người nghệ sĩ có quyền thể nghiệm, và một số công việc mình đã làm là có tính cách “labôratoa”, nên các nghệ sĩ đã đi tới những cực đoan như vậy, kể cả trong sáng tác lẫn trong các tuyên ngôn. Còn trong thực tế, giữa những lời tuyên bố giải thích của họ và các sản phẩm đó không trùng khít với nhau. Các nghệ sĩ lớn lại càng không chịu khuôn mình vào trong những trường phải mà họ đã nêu ra. Do nhạy cảm với những biến đổi của thời đại , trước sau những “kiện tướng” của các trào lưu tiên phong của chủ nghĩa như L. Aragon, P. Eluard, G. Becher, V. Nezval… trong thơ, P.Picasso, F.Leger… trong hội hoạ đều đã đứng về phía nhân dân, cách mạng. Thay cho sự vô vọng, căm phẫn hôm qua là thái độ lạc quan, tin tưởng “ở sự không tránh khỏi có tính chất số phận của hạnh phúc” (Nezval). Đồng thời với việc dấn thân vào thực tế đấu tranh xã hội , tác phẩm của họ cũng cụ thể hơn, sâu hơn ở các chủ đề, đề tài, môtip — , và nói chung là hiện thực hơn. Hôm qua, họ hoang mang cực độ khi cảm thấy hoàng hôn của một thời đã qua. Nay đã trở lại với họ niềm tin vào vẻ đẹp và sự hài hoà của hiện thực trong buổi bình minh của thời đại mới. Các tác phẩm thời kỳ sau siêu thực của Aragon, Eluard so với thời kỳ các ông đang thí nghiệm có một sự khác biệt lớn lao như quả chín tự nhiên với quả xanh chín ép trong thùng. Trường ca Vlađimir Ilíts Lenin trường ca Tốt lắm của Maiakovski có những tìm tòi khác hẳn những sáng tác vị lai ban đầu. Trong Guernica , các thủ pháp mà Picasso thể nghiệm ở các giai đoạn sáng tác trước được ông vận dụng một cách tổng hợp theo sát xúc cảm lớn của một hoạ sĩ hiện thực. Nói tới khổ đau nhưng không bi đát tuyệt vọng, dấn thân nhưng không mù quáng, hy sinh song không phải mất hết mà thật sự là một hy sinh tự nhiên và hữu ích…, những cảm giác đó làm thành một cái mạch ngầm đan ở nền sau bài Gửi người mai sau của Brecht khiến cho tác phẩm bé nhỏ này có được tầm cỡ hoành tráng. Một ví dụ nổi bật nữa: nếu trước đây trong những năm lập thể, F. Leger đã bổ xẻ con người thành những thành phần khác nhau, như dỡ một cái máy thành trăm ngàn linh kiện để bộc lộ sự tan nát của con người trong xã hội tư sản và sự vô vọng của bản thân mình, thì trong những bức tranh cuối đời, đặc biệt là loạt tranh “công nhân xây lắp” , ông đã tạo dựng một mối quan hệ máy — người — thiên nhiên đầy tinh thần lạc quan . Xem tranh Leger chúng tôi liên tưởng dến Bài ca nguyên tố của Neruda. Như tên bài thơ đã chỉ rõ, Neruda viết về các đơn vị cấu thành nhỏ nhất của đời sống, về biển, bánh mì, nàng thơ, sự nghèo đói, dây thép gai… Những cái mới ở thời đại chúng ta, những nguồn năng lượng mới, những phát kiến kỹ thuật, những tên khổng lồ sắt thép từng đe doạ người công nhân, nay dưới ánh sáng của nhận thức cách mạng đã trở thành phương tiện tạo ra hạnh phúc của con người, và trở nên có vẻ đẹp tuyệt vời như bông hoa, vầng trăng muôn thủa:

Chúng ta sẽ
Cưỡi con ngựa điện
Vượt qua bọt nước
Vừa ca hát
Chúng ta vừa
Xuống tận dưới lòng sâu
Trong gan ruột của người
Một sợi dây nguyên tử
Sẽ buộc chặt thân người
Trong mảnh vườn
sâu thẳm của người
Chúng ta sẽ trồng
Những cây cối
Xi măng và thép
Đào Xuân Quý dịch
Chính sự chuyển biến của các nghệ sĩ lớn nói trên là một điểm thường được đặc biệt lưu ý khi nghiên cứu về các trào lưu tiên phong chủ nghĩa. Không khó khăn gì nếu muốn tìm ra những biểu hiện suy đồi, phi nhân đạo của nghệ thuật kể cả hội hoạ cũng như thi ca thế kỷ XX. Song , sẽ là thoả đáng hơn nếu đồng thời với sự phê phán , có sự công nhận ở mức thoả đáng cống hiến của các “izm” trên từng khía cạnh. Ngoài ra, phải thấy bên cạnh các “izm” với những tuyên ngôn to giọng ở tất cả các nước, trong các thời kỳ, có một xu hướng rất phổ biến và bình thản phát huy ảnh hưởng của mình, đó là xu hướng quay lại cái ngây thơ dân gian. Việc vận dụng một cách có ý thức các thủ pháp dân gian tạo nên cơ thể xương thịt nhiều bài thơ hiện đại đã có thể thấy ở tất cả các nhà thơ lớn, từ Tagor, Brecht, đến Lorca , Guillen ; trong hội hoạ, cũng thấy rất nhiều người đi theo hướng đó, mà tiêu biểu nhất là hoạ sĩ Henry Rousseau. Đấy là thái độ dùng cái bình dị, ngây thơ tươi mát của dân gian để đối lập lại cái phức tạp, hỗn độn, khó hiểu của thế giới hiện đại , là sự khẳng định của thôn dã muôn đời, chống lại sự bành trướng của thành thị hãnh tiến. Càng vươn tới tương lai, thơ càng muốn trở về với cái suối nguồn muôn thủa của nó.
Sau cái “hỗn độn” của các chủ nghĩa và toàn thắng của chủ nghĩa hiện thực ( theo nghĩa bao quát nhất của khái niệm hiện thực ) , giờ đây, thơ thế kỷ đã có những đổi mới ra sao? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lần lượt xét các yếu tố hình thành nên tác phẩm thơ ca với nghĩa rộng của mấy chữ này.
Về mặt nguyên liệu chất liệu làm nên bài thơ, có một thực tế khá rõ là từ lâu, thơ được coi như một hành động cao cả, và những điều được nói tới trong thơ phải là đẹp, thơ mộng, tinh tế v.v… ở thế kỷ trước, riêng việc nhà thơ Baudelaire nói tới cái xác chó chết đầy giòi bọ đã coi như một ngoại lệ đặc biệt lắm. Với thơ thế kỷ XX, thì sự cấm kỵ hôm qua không còn nữa, từ chỗ bay bổng mãi chín tầng mây, thơ đã trở về sát với những chuyện đời sống hàng ngày. Con đường của Rimbaud, người “đòi ghi lại những im lặng, và cố định những chóng vánh” được rất nhiều người học theo. Apollinaire từ bỏ lối nói hoa mỹ và chỉ biết sử dụng hình ảnh tinh tế của những người trước ông, để đưa ngôn ngữ trò chuyện sinh động vào thơ. Mỗi nhà thơ lớn hầu như có một con đường riêng để mở rộng tính cụ thể của thơ ca và những nẻo lối của họ không thể thay thế cho nhau. Cho đến một sự siêu khoát trong thơ như Saint John Perse, người ta cũng nhận xét hình thức thơ của ông là một thứ văn xuôi được ghi lại bởi các câu thơ. Vốn từ vựng trong thơ thay đổi trông thấy. Câu thơ cũng không thể giữ mãi nền nếp vốn có mà chấp nhận nhiều nguyên tắc cấu tạo khác nhau. Trong sự đến gần văn xuôi, thơ không phàm tục, không đánh mất mình đi, nó chỉ được làm giàu thêm một bước. Đã có thể nói tới một chủ nghĩa hiện thực trong thơ, sự thuyết phục của chủ nghĩa hiện thực đó là điều không thể chối cãi.
Một hệ quả dễ nhận của việc mở rộng chất thơ: thơ hôm nay có sự gắn bó với các biến động lịch sử. Chính trị, thời sự đi vào đầy ắp trong thơ. Tư liệu, chi tiết thông tin trở thành một yếu tố trữ tình có vẻ đẹp riêng của nó. Tinh thần hướng thượng , những yếu tố phi thường cao siêu đã quen thuộc với anh hùng ca, nay được bổ sung cái đời thường của tư liệu. Mặt khác những vấn đề xã hội lớn lao tự nó đã có chất anh hùng ca, khi được sử dụng. Cố nhiên, sự kết hợp hai yếu tố này ở Neruda khác Hikmet, ở Hikmet khác Brecht, và so sánh ở Aragon với ở Eluard , thấy phân lượng của nó khác nhau. Ngay trong một người ở mỗi thời kỳ có sự vận dụng khác đi nhưng các nguyên tắc chung thì chỉ là một. Lời thách thức của Guillen “Tôi coi một nhà thơ là bất lực nếu không có khả năng chuyển qua mấy dòng trữ tình nội dung một bản tuyên ngôn, một cương lĩnh” thực ra có ý nghĩa khẳng định: thơ có thể làm được nhiều điều hơn là người ta tưởng.
Xét về khâu gia công chất liệu, cũng có thể quan sát thấy một sự mở ra về tất cả mọi phía rất rộng rãi. Nói rằng thơ ngày một trần trụi hơn, cái đó rất đúng, nhưng ngay sau đó, người ta phải nhấn mạnh là thơ đang ngày trở nên ước lệ hơn, đa nghĩa hơn, uyên bác hơn. Có thứ thơ tìm tòi theo khuynh hướng “âm nhạc là trên hết” trong đó rất nhiều thơ gần với dân ca, gần với bài hát – riêng ở Pháp ngày hôm nay thôi, từ J. Prevert đến G. Brassens… đã có bao nhiêu ví dụ. Nhưng lại có thơ đang văn xuôi hoá, thơ không cần vần, thơ lảng tránh mọi nhạc điệu dễ nhận bên ngoài để tìm thấy một chất nhạc bên trong rất chắt lọc, mà những thể nghiệm của Brecht là một trường hợp đột xuất . Thật khó tưởng tượng thơ thời đại hiện nay mà lại thiếu đi những vần thơ rất độc đáo trong xử lý chất liệu thơ, ý chúng tôi muốn nói đến thơ Mỹ la tinh, thơ da đen, thơ á Đông, tất cả những thứ phi Âu châu mà các nhà thơ uyên bác như P. Valéry, E. Pound và T.S. Eliot đều nhận là nó sẽ bổ sung rất nhiều cho văn hoá Tây Âu. Đó chính là sự mở ra trong thơ theo chiều ngang, một sự mở cửa để hấp thụ vào thơ thế giới các nền thơ dân tộc khác nhau. Thơ Garbiela Mistral của Chilê và thơ Ruben Dario của Nicaragua, thơ Isikawa Tacubocu của Nhật và thơ Gheorgos Seferis của Hy lạp… tài sản thơ của nhân loại không ngừng được bổ sung. Nghiên cứu về bản sắc dân tộc của mỗi nhà thơ người ta ngạc nhiên nhận ra cái điều mà một chính khách lớn của thế kỷ này đã nhận xét: “chỉ có các dân tộc và các cá nhân là quan trọng nhất”. Bởi càng gia nhập vào cộng đồng thế giới, cái chất dân tộc ấy càng trở nên rõ rệt. Nêruda chỉ trở thành con đẻ thực sự của châu Mỹ la tinh sau khi đã đi vòng quanh thế giới và tiếp thu được những thành tựu cao sâu khác của thơ châu Âu, từ Witman đến Maiakovski . Brecht rất gắn bó với thơ phương Đông, từng dịch Bạch Cư Dị và Tô Đông Pha, nhưng đến mức ấy, chất Đức của ông vẫn trộn không lẫn, đủ biết trong ông nó rất bền chắc. Biết bảo N. Hikmet và Y. Ritsos là phương Đông hay phương Tây – những câu hỏi kiểu ấy rất khó trả lời… song điều chắc chắn là họ rất Thổ Nhĩ Kỳ và rất Hy-lạp!
Có một trục khác cũng đã hình thành trong việc tìm tòi xử lý thơ, đó là cái trục dọc lịch sử, sự quay về với những truyền thống quá khứ. “Quá khứ luôn luôn thay đổi, mỗi một thế hệ các nhà nghiên cứu lại tư duy về nó khác đi và vận dụng nó một cách mới mẻ, tuỳ theo mức độ tiến tới tương lai của thời đại và của chính họ” – cái nhận xét mà chúng tôi tìm thấy trong một cuốn sách viết về khoa học tự nhiên, xem ra cũng đúng đối với các nhà thơ mà chúng ta đang nói. Nếu như nhiều bậc thầy về hội hoạ ở thế kỷ này coi J. Bosch (1450 hoặc 60-1516) với những hình tượng rất fantastic là người đương thời của mình, thì trong thơ , Fr. Villon (1431-1465) cũng có vai trò tương tự. Nhưng có điều quan trọng hơn: hầu như ở nước nào, cũng có những F . Villion như vậy. Trong khi tìm về tương lai, rất nhiều nghệ sĩ phát hiện lại quá khứ và tìm thấy đồng minh của mình trong quá khứ, nhiều quan niệm về thơ, cách hiểu về chất thơ và lối xử lý thơ tưởng đã bị chôn vùi từ lâu, thậm chí bị công kích là kỳ quặc, không thơ… nay đều được chấp nhận. Đó không phải là ý muốn của riêng ai. Đó là sự mở rộng những “bậc tự do” trong thơ mà chỉ thời đại này mới cho phép.
Tổng hợp cả hai hướng tìm tòi nói trên, nền thơ thế giới hôm nay trải ra trên một khu vực địa lý cực rộng, và bộ mặt của nó có những đổi mới khiến những người quen với lối hiểu thơ trước đây phải bàng hoàng. Hầu như tất cả các yếu tố của thơ đều được khảo đả thể nghiệm lại. Với một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ là Apollinaire, tận hạt nhân kết cấu của ngôn ngữ thi ca đã bị bắn phá, làm đổi thay cả cách viết, cách in, cách chấm phẩy ở hình thức câu thơ, chẳng khác những đổi mới mà Picasso mang lại cho hội hoạ. Sự liên tục trong thơ hôm nay, ở một số nhà thơ bậc thầy, là một sự liên tục đứt đoạn, y như sự tuôn chảy của một dòng ý thức đã được khởi về tận nguồn, và có vẻ miên man mà trào ra vậy, song suy cho cùng vẫn là một cái gì được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Có cái đẹp giản dị, mực thước, nhưng lại có cái đẹp đầy đặn đến thừa thãi, bề bộn và rất giàu yếu tố trang trí. Có sự cầu kỳ đi đến quyến rũ ở người này lại có sự huyền bí rất gần gũi với thiên nhiên ở người kia. Mỗi nhà thơ thực thụ mang lại một định nghĩa mới về thơ. Có người sục tìm những lối so sánh kỳ lạ, có người thích vận dụng các phép chuyển nghĩa mới mẻ, có người tạo nhịp “phi truyền thống”. Tất cả mang lại cho những điều họ nói độ đậm đặc, rõ ràng đến chói mắt, và khả năng in sâu vào trí nhớ của người đọc. Tính tích cực thẩm mỹ là một đặc trưng chung của thơ hiện đại, song những hình thức của tính tích cực đó lại hiện ra mỗi người mỗi vẻ. Mọi biện pháp tạo hiệu quả đều được sử dụng, vì nói như Brecht “nhân dân hiểu những phương tiện biểu hiện dũng cảm, họ ủng hộ những cách nhìn mới họ sẽ khắc phục được những khó khăn về hình thức, nếu những điều viết ra đó đáng được họ quan tâm” (*)
Cũng liên quan nhiều đến nội dung và cách viết của thơ hôm nay là những con đường mà thơ đã gợi mở để đến với công chúng. Vốn là một ngành nghệ thuật hướng thẳng vào nội tâm con người , có một thời, thơ bị khuôn chặt vào trong các sa-lông, trở thành một công cụ xã giao, hoặc thuần tuý có tính chất thính phòng, nội thất. Vẫn coi xúc động tình yêu, những biến thái tinh tế của tâm hồn là những điểm phải đầu tư khai thác, nhưng thơ hôm nay còn dạy con người thấu hiểu cả thế giới và tìm ra cho được điều gì chung nhất giữa mọi người. Thơ tạp kỹ, thơ viết để dọc giữa đám đông quần chúng rất phát triển . R. Alberti có một tập thơ mang cái tên rất tiêu biểu nhà thơ trên quảng trường. Becher muốn thơ mình thành ra “những bài hát không tên ở giữa nhân dân”. Cách làm này vừa bắt nguồn từ những hình thức giao tiếp cổ xưa – hoạt động của những người đọc thơ rong, những người kể chuyện dân gian xưa kia — , vừa tận dụng được mọi công cụ của thông tin đại chúng, đang đặc biệt phát triển trong thời đại hôm nay. Cố nhiên, một bài thơ thật hay phải là đọc giữa đám đông đã hay, mà trở về “đơn độc với chính mình”, mỗi người đọc trong đó vẫn tìm thấy cái hay. Tính chất “quảng trường” không mâu thuẫn mà chỉ là một biến dạng của chất tâm tình mà thơ vẫn có.
Những chiến công… Thoạt nghe thấy hơi lạ tai, nhưng quả thật, những tìm tòi trên đây chính là những chiến công được nhiều thế hệ nhà thơ ở nhiều nước góp công góp sức chuẩn bị. Bởi lẽ, như người ta vẫn bảo, thời đại chúng ta có những yêu cầu vô cùng khắc nghiệt. Những chiến công lịch sử được hoàn thành không chỉ ở ngoài bãi chiến trường, trong các chiến luỹ, mà còn trong các trạm thuỷ điện, các bãi sa mạc, trong sự im lặng ghê gớm của các thư viện và các phòng thí nghiệm.

III
Y. Ritsos viết: “Tôi muốn nói bằng ngôn ngữ của tình yêu – một chuyện ngày nay không ai tin nữa”. B. Brecht nói thời chúng ta là thời bạc bẽo với thơ trữ tình: “Cái cây què cụt trong sân – chứng tỏ nền đất cỗi – ai đi qua cũng chửi cái cây què – mà chửi cũng đúng thôi “ Nhưng chẳng phải, sức mạnh lớn lao trong thơ Ritsos, cũng như thơ Hikmet, Lorca, là bắt nguồn từ sức mạnh của một tình yêu không ai không cảm động? Và thơ trữ tình Brecht, như thơ của Eluard, của nhiều người khác, đã là những chứng tích rực rỡ nhất của thời đại chúng ta đang sống.
Nghĩ về hướng đi của thơ mình, Neruda giải thích:
Bạn sẽ hỏi sao thơ tôi
Không nói đến những hoả diệm sơn hùng vĩ
Của đất nước quê hương
Hãy đến xem máu chảy trên đường
Hãy đến xem
Máu chảy trên đường
Hãy đến xem máu chảy
Trên đường.
Đào Xuân Quý dịch
Đấy cũng là bước đường mà nhiều nhà thơ trải qua. Nhưng cái dấu vết để lại trong thơ họ, thì lại mỗi người một khác.
Hai đơn vị cơ bản trong văn học nghệ thuật là tác giả và tác phẩm. Để viết lịch sử một ngành nghệ thuật nào đó, bên cạnh lối biên niên và những khái quát về từng thời kỳ hoặc trào lưu, trường phái, v.v… vẫn thấy có một lối viết cực kỳ giản dị, mà có thể khai thác mãi không cạn là lối viết bám vào các tác giả và tác phẩm chủ yếu. Khuôn mặt cá nhân nào mà chẳng mang dấu ấn của thời đại, song càng ở những nhân vật lớn, người ta càng thấy những dấu ấn đó đầy đủ hơn, rõ rệt hơn. Nếu có sự bố trí hợp lý, để hình thành nên một thứ chân dung nhóm, trong đó mỗi muôn mặt một vẻ mà cái nọ lại bổ sung được cho cái kia, thì đó chính là một điều kiện tốt để nhận thức cả thời sự, cả lịch sử.
Sau khi đã phác qua vài nét về những đổi mởi của thơ thế kỷ nói chung, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại những khuôn mặt thơ tiêu biểu và những người kề cận họ, để minh xác lại những nhận xét nói trên đồng thời khẳng định lại những đóng góp của họ . Bởi lẽ mỗi nhà thơ đều gắn bó chặt chẽ với nền thơ dân tộc mà từ đó học hình thành, nên đây cũng là dịp điểm qua – dù là rát sơ sài – những khu vực quan trọng thường được kể tới trong thơ thế kỷ.
Nếu như ngay từ cuối thế kỷ XIX, với Rimbaud, Verlaine, Mallarme, thơ Pháp đã tỏ ra đặc biệt nhạy cảm với thế kỷ XX đang tới, thì trong những thập niên đầu thế kỷ những băn khoăn nhằm đổi mới cách viết và rộng hơn, nhằm định nghĩa lại thơ, mang lại cho thơ những năng lượng mới – những băn khoăn ấy càng cháy lên mạnh mẽ. Aragon, Eluard (và mở rộng ra ngoài nước Pháp cả Nezval…) chính là những ví dụ nổi bật về mối quan hệ giữa nhà thơ và các trường phái mà họ tin theo:
Một mặt mỗi người đã đến với các trường phái đó rất nhanh, để rồi từ biệt nó cũng rất nhanh “Lịch sử chủ nghĩa siêu thực là lịch sử các thành viên quay mặt lại với nó” – một nhà nghiên cứu xô viết đã hóm hỉnh nhận xét .(*)
Mặt khác, mãi về sau ,các trường phái này còn để lại dấu ấn lâu dài trong họ, và là thành tố có mặt trong thơ họ, ngay khi họ đã trưởng thành. Cố nhiên, sự trưởng thành đó trước tiên được hiểu như là những nhận thức về vị trí của nhà thơ trong đời sống xã hội. Cả Eluard lẫn Aragon , cả P. Emmanuel lẫn R. Char đã là những người tích cực chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng nước Pháp. Con đường của Saint – John Perse hình thành hơi khác, song thái độ đúng đắn của ông đối với cuộc kháng chiến chống Đức cũng thường được nhắc nhở như một vinh dự. G. Milev ở Bungari, E. Ady ở Hung, V.Nezval ở Tiệp đều là những chiến sĩ của cuộc đấu tranh nhằm giải phóng xứ sở.
Toả ra theo nhiều hướng tìm tòi, song thật ra các đường dây chủ đạo mà thơ Pháp vươn tới vẫn là chủ nghĩa hiện thực. Apollinaire là người đi tiên phong trong việc này, những năm đầu thế kỷ. Mọi tìm tòi của Apollinaire (nhịp thơ tự do, sự phối hợp giữa nỗi âu lo, vẻ nồng nhiệt với tinh thần bi thảm và hài hước…) đều đã góp phần vào việc mở rộng khả năng hiện thực của thơ, như mọi dũng cảm ttrng việc tìm tòi phương tiện biểu hiện đã hỗ trợ đắc lực cho việc biểu hiện một cái nhìn mới về thế giới ở các nhà thơ kế tục ông. Khái niệm mà Aragon hay nhắc tới nhất là khái niệm chủ nghĩa hiện thực, với yêu cầu nhất quán: Thơ ca, phải trình bày cho hết tất cả sự phát triển phong phú phức tạp của đời sống ý thức con người trong thế kỷ này, để rồi, cuối cùng đi tới những khẳng định tích cực:
Tôi nghe tiếng gà trong cùng tận đau thương
Trong đổ nát tôi vẫn mang chiến thắng
Dù khoét mắt những vì sao xa vắng
Trong đêm dài tôi vẫn chói vừng dương
Tế Hanh dịch
Trong khi không cắt đứt khỏi mạch thơ cổ điển và văn hoá châu Âu nói chung, thơ Aragon là một ví dụ về việc thơ thế kỷ này trực tiếp tham gia vào việc biểu hiện các vấn đề của thời đại. Chất tư tưởng ở Eluard vẫn rất sâu sắc, song sau những năm tháng tìm tòi đau xót, cuối cùng, trong những bài thơ thành công của nình, chiến công chính của nhà thơ này là đã đưa thơ trở lại với cái gì như những thứ tiếng nói ban đầu của con người.
Đó là lời làm nên sự sống
Đó là lời vô tội trắng trong
Lời tin cậy và lời ấm áp
Lời tình yêu, công lý, tự do
Tên của hoa và tên của trái
Lời dũng cảm và lời phát hiện
Lời anh em đồng chí thân thương
Tên của người yêu, tên bao người vợ
Péri, tên anh, chúng tôi thêm vào đó
Nguyễn Quân dịch
Sau hết, cũng nên chú ý là ngay ở các khu vực dông tố của các “izmơ” như nước Pháp, thì truyền thống dân tộc vẫn là một cái gì có mặt ở những nhà thơ khác nhau. Cả Agagon, Eluard lẫn J. Prevert, mỗi người Pháp theo một kiểu. Aragon hào hoa, trang nhã trong khi Eluard trong sáng tinh khiết, và Prevert lại bình dân với tinh thần lịch sử kiểu Gavros hồi nào. Nhà thơ Tiệp hiện đại Taufer cũng cho rằng Nezval là một mẫu mực trong việc kết hợp giữa những tìm kiếm mới mẻ và phát triển bản sắc dân tộc. Truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại nào phải là những yếu tố không thể hoà hợp nổi !
Nhìn sang khu vực thơ Tây Ban Nha và Mỹ la tinh: Không phải ở đây thơ không có những vấn đề triết lý của nó – M. Unamuno một nhà thơ giữ vai trò chi phối cả nền văn học, đồng thời là một nhà triết học –nhận xét vậy . Nhưng do hoàn toàn cảnh lịch sử riêng, vấn đề các “izmơ” ở đây đặt ra không ồn ào như ở các nước phương Tây khác. Một cách rất tự nhiên như không thể khác, cả Hernandez, Machado, Alberti đều đã viết vì nhân dân, coi thơ mình là “ngọn gió của nhân dân”. X.Valeho, R. Dario tìm mọi cách để biểu hiện các vấn đề của các dân tộc rất trẻ ở Nam Mỹ đặt ra và giải quyết. Theo chúng tôi hiểu, đóng góp của thơ Tây Ban Nha và Mỹ la tinh ở thế kỷ này chính là ở cái chất thơ độc đáo mà nền thơ này mang vào thơ thế giới. ở Lorca, trong những tập thơ tiêu biểu của ông, người ta khó lòng phân biệt đâu là chất hiệp sĩ Tây Ban Nha, chất hào phóng và cũng rất bình dân của thơ di-gan. Vẻ hiện đại của Lorca ở dạng ẩn, kín đáo, quen thuộc, phải đặt vào hoàn cảnh thì mới thấy. Con người thu gồm trong mình truyền thống văn hoá châu Âu này từng viết những dòng hết sức cổ điển:

Bài ca kỵ mã
Cordu
Xa thẳm và đơn độc
Con ngựa đen, vành vạnh vầng trăng
Ôliu đầy túi
Dù ta thuộc hết đường hết lối
Chẳng bao giờ tới được Cordu.
Đi qua đồng, đi qua gió
Con ngựa đen, vầng trăng đỏ
Kìa kìa cái chết đã nhìn ta
Từ trên cao đỉnh tháp Cordu.
Ôi con đường mới dài sao
Ôi chú ngựa bao quí giá
Ôi cái chết , hãy chờ ta nhé
Đến bao giờ ta tới Cordu
Cordu
Xa thẳm và đơn độc
Theo bản dịch Hoàng Hưng
Tượng trưng cho châu Mỹ la tinh, thơ Neruda và Guillen cũng là những đóng góp về phương diện chất thơ; với họ, tao đàn thơ có thêm những giọng điệu mới, đúng hơn, những mảng sống mới, một thứ xương thịt mới khiến người ta có thể sửng sốt y như nhạc và tượng gỗ Phi châu, đồ gốm Trung Hoa và tranh khắc Nhật Bản đã gây ngạc nhiên với văn hoá châu Âu vậy:
Mảnh đất của những dãy núi màu xanh
Orientê, những dòng sông khản đặc
Cái tình lớn của ta, những vực sâu chóng mặt
Và trên lồng ngực người, vững chãi như đồng
Với mạch máu là những con đường
Rải bằng đá sỏi
Guillen ,Bùi Hồng Hải dịch

Em là con ngựa bằng đất đen, là cái hôn bằng bùn tối
Là tình, là hoa bằng đất sét.
Là cái ống đựng ưu phiền của tuổi thơ tội nghiệp
Là con chim gáy của hoàng hôn tung cánh trên đường
Neruda, Đào Xuân Quý dịch
Neruda là Nam Mỹ trầm hùng cuộn cuộn, Guillen là Cuba, là thơ của người mulat (lai) mang tấm lưng lực lưỡng đẫm mồ hôi của nhạc và dân ca da đen. Cùng với cái chất thơ mới, phải công nhận đây là cả một quan niệm về thơ không giống quan niệm duy lý chúng ta vẫn gặp, là cả một cách tư duy thơ tưởng như trời cho và không dễ gì học được, vì bắt nguồn từ một con mắt khác hẳn trong việc nhìn đất, nhìn trời và nhìn cuộc đời này. Đặt bên cạnh thứ tư duy thơ bác học ở Tây Âu, thì cách nghĩ về thơ ở đây trẻ trung đến hung bạo, mà hồn hậu tự nhiên như sông núi đã hun đúc cho người ta vậy.
Đứng về phương diện thơ, đóng góp của thơ Hikmet và Ritsos là gì, nếu không phải là vận dụng những thành quả lớn lao của thơ thời đại, để biểu hiện các vấn đề tưởng như đã giải quyết xong từ lâu, song ở nhiều nước, vẫn đang còn ám ảnh không thôi: quyền sống của con người, quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình của các dân tộc, khả năng xây dựng ngay trên mặt đất này một cuộc sống công bằng hơn, tốt đẹp hơn. Số phận hai nhà thơ này cùng có những nét giống nhau: trong một thời gian dài, họ cùng bị cầm tù. Trong những ngày ở tù, họ có dịp nghiền ngẫm kỹ hơn về thực tại xã hội nghiệt ngã và bần cùng mà từ đó họ lớn lên. Chất cát bụi, giọng tủi hờn cay cực của họ, làm ta liên tưởng đến miền đất nóng rang, khô cằn, và những con bò kéo chiếc cày gỗ nặng:
Cả ngày miệng đắng khô
Đến nỗi không còn đủ nước bọt
Để dán một con tem
Trên bưu thiếp gửi về cho mẹ
Và bụi, mù mịt bụi
Bụi bám vào mặt, bám vào lòng bàn tay
Bám cả vào trí nhớ
Ritsos, Bằng Việt dịch
Sự bình thản – và đôi khi, cả sự tưng tửng đùa cợt, ở các nhà thơ này làm ta nhớ tới những nhà thông thái cổ đại với lối nói rất giản dị, không giao đãi dài dòng. Họ nói chân lý gần lắm không cần phải suy nghĩ tưởng tượng đâu xa, nó ở dưới tay ta, như hạt cát, hòn đất… Chỉ những con mắt hồn nhiên mới nhìn ra nổi. Khi Hikmet viết:
Em là nỗi ràng buộc và niềm tự do của ta
em là thịt của ta bỏng cháy
Như thịt trần của đêm hè nóng dậy
Em, cao sang và đắc thắng
em là nỗi lòng ta hoài vọng
Khi ta đạt tới em
thì ta biết em là nơi không tới được bao giờ
Xuân Diệu dịch
Ta cảm thấy ông đã đạt tới tận cùng của tự do chân chính, cái tự do khiến cho nói thế nào cũng được, cũng bất ngờ, mà cũng gần gũi với con người. Mỗi nhà thơ có một cách riêng nhưng quả thật, thơ Ritsos và thơ Hikmet đã là những ví dụ tố về sự kết hợp giữa Đông và Tây, giữa truyền thống Trung cổ và nhịp sống hiện đại. Các dân tộc bị áp bức ở phương Đông, cuộc sống trầm trầm mà đau xót, trì trệ mà dai dẳng của họ còn là mảnh đất rất tốt để nuôi dưỡng thơ và tạo ra một thứ thơ riêng, không những có hình mà còn có bóng, không những có vẻ trần trụi trực tiếp, mà còn hàm súc, huyền bí, như thơ vẫn có từ xưa tới nay.
Nừu cần phải kể hai nhà thơ độc đáo nữa của thế kỷ XX thì nên nói tới Tagor và Brecht. Giống như hai cái cực của một thỏi nam châm, tính cách thơ của hai ông vô cùng xa nhau mà tư tưởng thơ toát ra lại gần nhau hơn hết. Cái vẻ bí hiểm siêu hình trong thơ Tagor không dẫn ta đến với Phật với Tiên mà đưa ta quay về với đời thường bình dị. Cái huy hoàng, lộng lẫy của dòng thơ lớn lao như sông ấn sông Hằng của ông đưa ta tới cái trần trụi cụ thể của mỗi kiếp người. ông như con người đã đi ra tới cái mép là của nhân loại, rồi lại quay vào để nhìn đọc cuộc đời con người bằng cái nhìn bao dung, độ lượng. Thơ Tagor chói loà một thứ ánh sáng siêu việt, thứ ánh sáng đó không lạ hoá sự vật trên mặt đất này làm thành những viên ngọc kỳ ảo mà làm ta nhìn rõ hơn, cụ thể hơn hòn sỏi, hòn đất, ngọn cỏ, lá cây, bông hồng và tiếng hát. Ông nói về một đứa con mới ra đời:
Con già hơn đất hơn trời
Mới tinh khôi mỗi ban mai hàng ngày
Đứa bé sơ sinh của ông hỏi mẹ: “ Trước khi sinh con ra mẹ nhìn thấy con ở đâu?” Đây là cái nhìn cụ thể vì là một câu hỏi tất nhiên mà tất nhiên không ai hỏi. Bà mẹ trả lời: “Từ thủa lên bốn lên ba, mẹ chơi đất sét, mẹ nặn ngai vàng, mẹ cài hoa xung quanh ngai đất và trên ngai vàng ấy mẹ đã trông thấy con” (Hoàng Hữu Phê dịch) Tagor như cầm ngọn lửa, vốn được coi là thần thiêng từ những hang nguyên thuỷ âm u mà tới thẳng thời chúng ta.
Brecht đi con đường ngược lại. Thơ ông thô như thanh sắt uốn, cụ thể như một khối bê – tông, sờ lên thì nhám, bóp vào đau tay. Tất cả trong thơ Brecht đều cụ thể. Ông cho tất cả — các mô-tip thi ca quen thuộc, những từ ngữ thi ca, những không gian trữ tình, những tính từ đỏm dáng, những kết cấu phức hợp cầu kỳ — đi lưu vong khỏi đất thơ của mình. Thơ ông như trích đoạn những lời nói hàng ngày khi thì là giọng của triết nhân, khi là câu chửi của anh cùng đinh, khi thì mách qué như người đàn bà lắm điều, khi như tiếng hô của đoàn biểu tình, khi lại cụt lủn như lời tỏ tình vụng về của anh chàng quá yêu, thật không bao giờ nói với cô gái được một câu trôi chảy. Thơ Brecht mạnh mẽ, hùng dũng mà mộc mạc. Tính chiến đấu rát bỏng song hành với thái độ bình thản đến hư vô. Brecht yêu cầu thơ phải là con sư tử để:
Những kẻ xấu sợ nanh vuốt ngươi
Những người tốt yêu dáng người uyển nhã
Ông cụ thể hoá những khái niệm trừu tượng của lý luận mac-xit đầy cảm xúc chân thành:
Kẻ nào không có gan đấu tranh
Là những kẻ có gan nhịn đói
Các thế lực tư sản được lạ hoá một cách chính xác thành núi lửa, động đất dòng sông cuồn cuộn:
Động đất có tiền trong túi ngực
Núi lửa đang bước xuống ô tô
Dòng sông trèo lên bờ, cuồn cuộn ra lệnh cho cảnh sát.
Phép biện chứng vốn là thành tựu hạt nhân của triết học Đức cổ điển được Marx nâng cao lên và được Brecht vận dụng như một thứ vũ khí hiện đại để tạo nên chất thơ. Chất thi nhân và triết gia gắn làm một ở con người ông. Brecht thương kẻ ác:
Những mạch máu hằn trên trán nhăn
Nói rõ, điều tôi rất cảm thông:
Làm người ác khó nhọc vô cùng
Ông định nghĩa chủ nghĩa cộng sản bằng một câu nói không hề có một thủ pháp thi ca nào:
Chủ nghĩa cộng sản là cái đơn giản khó lắm.
(Nguyễn Quân dịch )
Từ ngày hôm nay cụ thể , Brecht nêu những luận đề, những quan niệm, những xúc cảm bổ dọc lịch sử đưa ta về với những hang động nguyên thuỷ.
Xúc cảm và trí tuệ, giáo huấn và ngạo nghễ đùa vui, lời nói bình thường và chất nhạc lặn mãi vào trong tư tưởng… những gì từng làm nên thơ xưa nay đều có ở Brecht, chỉ có điều nó được sắp xếp lại, nên gây bỡ ngỡ: Hoá ra còn cái nguồn thơ đó mà không ai biết khai thác! Brecht rất tài, nhưng tài năng trước hết là ở quan niệm của ông về thơ. Nếu Tagor dùng ánh sáng thiên thần làm cho ta nhìn rõ hòn đất thì Brecht cầm hòn đất câm lặng lên lòng bàn tay để ta nhìn vào đó, thấy một thứ ánh sáng diệu kỳ. Cũng tương tự như vậy, nếu thơ Tagor là cái phần trời đất phú vào con người mà chừng nào lòng còn trong sạch, căn thức còn minh mẫn, ở chúng ta không bao giờ thơ hết dào dạt, thì Brecht là cái phần năng lực đã vào hẳn con người, trần tục như cõi đời hôm nay, mà cũng dài rộng khôn cùng. Cả hai cùng nói với chúng ta một điều: thơ là còn mãi với con người .

*
Tìm hiểu mạch thơ thế kỷ XX là chuyện có thể miên man đi mãi không hết. Thơ Mỹ trong thế kỷ này không có những nhân vật kỳ vĩ như O.Witman, nhưng sáng tác của R.Frost , R. Warren cũng gợi ra rất nhiều suy nghĩ, nhất là chung quanh việc biểu hiện các vấn đề của thời đại khoa học-kỹ thuật , trong khi L.Hughes đưa thơ da đen đến sự phát triển cổ điển, điệu blues nay đã được cả thế giới biết tiếng. Từ Ungaretro, Saba đến Quazimodo, … thơ ý nối tiếp thành một dòng nhất quán ở tính bác học cao và những suy nghĩ hàm súc. . Ngoài châu Âu và Mỹ la tinh là những khu vực tập trung, còn phải nói tới rất nhiều châu lục thơ khác. Bên cạnh Nazim Hikmet, trong thơ Thổ Nhĩ Kỳ, Orhan Veli Canic cũng rất nổi tiếng. Sau Tagor, những người hiểu thơ Ân Độ nhắc tới Suryakant Tripathi Nirala. Tiêu biểu cho châu Phi, phải kể Leopold Sedar Senghor và Agostino Neto – Đấy là chúng tôi chỉ mới nhắc những trường hợp tiêu biểu nhất .
Nhưng càng toả ra thành nhiều cành nhánh, thơ thế kỷ XX càng tự chứng tỏ nó đang bắt rễ sâu sắc vào đời sống tinh thần nhân loại. Rũ bỏ cái cũ, nảy lộc đâm chồi, sắc biếc hơn và bóng toả rộng hơn, nó đang thật sự trở thành tiếng hát của con người, cái tiếng hát mà N. Hikmet đã có lần nói là còn quí hơn con người nữa, vì sẽ còn mãi. Cái ngày mà Nezval ao ước, cái ngày các nhà thơ có thể yên tâm vì đóng góp của mình:
… Thì hãy uống thơ tôi như trà sữa
Bộ tách hoa pha rót sẵn sàng
… Thì hãy nếm thơ tôi trong đĩa lớn
Cái đĩa hoa xanh vẽ những củ hành
… Xin hãy cắn thơ tôi từng miếng nhỏ
Như bánh mì vừa mới nướng thơm ngon
Thuý Toàn dịch
Cái ngày tốt đẹp ấy, đã tới,đang tới.

Thành phố không mưa

Cái tên mang màu sắc ẩn dụ
Trong cách nói của người Trung quốc ( và có người bảo là của cả phương Tây ) , hình ảnh bức thành ban đầu nhiều khi được dùng để chỉ đời sống tình ái vốn là một phương diện tế nhị bậc nhất của con người ta, rồi mở rộng ra chỉ cái oái oăm phức tạp , vừa đáng yêu vừa chán ngắt của đời sống nói chung , nó khiến người ta “ khạc không ra nuốt không vào “ , mà vẫn phải sống và thường khi cũng ham sống nữa .
Trong cuốn Vòng đời vây bủa của Tiền Chung Thư ( tiểu thuyết này có tên trong một số cuộc thăm dò nhằm chọn ra 100 cuốn sách có ảnh hưởng nhất Trung quốc thế kỷ XX ) có một đoạn hai nhân vật bàn luận với nhau như sau :
Người thứ nhất : “ Tôi đã có lần nói chuyện với Bertie ( tức triết gia nổi tiếng Bertrand Russell ) về những cuộc li dị của ông. Ông dẫn một câu tục ngữ nói rằng hôn nhân như chiếc lồng sơn son thiếp vàng . Chim ở ngoài muốn làm ổ trong lồng mà chim trong lồng muốn bay ra ngoài . Người ta cưới nhau rồi li dị , li dị rồi lại cưới cứ như vậy không bao giờ hết cái trò ấy “
Và người thứ hai : “ ở Pháp cũng có một từ ngữ ý nghĩa giống vậy . Người Pháp không bảo hôn nhân là cái lồng son mà bảo là một toà thành bị vây , người ở thành muốn vào thành , mà người ở trong thành lại muốn ra ngoài “ .
Chúng tôi muốn nhắc lại câu chuyện đó để thử đoán ra ngụ ý nằm sau cái cách nhà văn Thiết Ngưng đặt tên cho cuốn sách của mình : Dường như ý bà muốn nói đây là một cuốn sách viết về tình yêu , nhưng là tình yêu hiện đại , tình yêu được sự hướng dẫn của lý trí , thành ra nó có vẻ hơi khô một chút . Khô theo cái nghĩa nó không được đẩy tới cùng , mà dang dở , không có hậu …( thật chẳng khác gì một thành phố không mưa !) . Song không sao , thời nay là vậy , con người hiện đại là con người biết vượt lên trên những yêu thích cá nhân để đóng cho trọn cái vai trò xã hội mà họ đã tự nguyện đảm nhận , và có do thế mà họ mang tiếng xấu như lừa dối , phản bội , thì cũng phải chịu .

Xu thế thời đại…
Có một cách nghĩ khá phổ biến cho rằng khi đã yêu nhau , con người phải biết hy sinh , tức là dám bỏ hết tất cả để sống cho nhau , nhờ vậy có dịp sống đúng sống hết cái phần nguyên bản trong trắng nơi mình . Lại có người nghĩ tình yêu là quan trọng , nhưng trong đời sống , có những cái còn quan trọng hơn , kẻ chỉ biết mê muội chạy theo tình yêu chính ra phải gọi đích danh là kẻ tầm thường . Bên này bảo bên kia lãng mạn cổ lỗ, trong khi bên kia cãi lại là sự thực dụng giết chết tình cảm . Nghe ra ai cũng có cái lý của mình , tuy nhiên , khách quan mà xét , phải nhận cái khuynh hướng thứ hai nói ở trên ngày càng trở nên phổ biến , bên trời Tây cũng vậy mà Trung quốc ngày nay cũng vậy . Đây cũng là cái kết cục phải tới của mối tình giữa người đàn bà say mê mang tên Hữu Giai và người đàn ông tỉnh táo ( đúng hơn là ban đầu cũng rất say mê , rồi sau mới tỉnh táo trở lại ) mang tên Vận Triết được miêu tả ở Thành phố không mưa . Theo ý tôi hiểu , cách giải quyết mà nhà văn Thiết Ngưng trình bày ở đây không phải là phát hiện hoặc đề xuất của riêng bà , chẳng qua bà chỉ làm công việc ghi lại một xu thế của thời đại . Cố nhiên tác giả đã làm việc này theo kiểu của một nhà văn , trong khi diễn tả sự chiến thắng của một xu thế suy nghĩ thì đồng thời cũng chỉ ra những đau xót mất mát mà nó mang lại , và cả cái vô nghĩa khi nó thắng thế . Sự trung thực của ngòi bút ở đây như vậy bao hàm sự thấu hiểu lẽ đời , nó cũng đồng nghĩa với sự đi sát được những vận động phong phú của đời sống .

…và cốt cách dân tộc
Trong văn hoá Trung Hoa , các ý niệm về tôn ty trật tự , nói chung là lý tính , vốn có vai trò chủ đạo . Nếu như người Việt nặng về tình , thì người Trung Hoa từ thời cổ thường đã có khuynh hướng vượt lên tình để nói tới lý , và một khi hướng hành động của mình theo sự tính toán lâu dài , có mang tiếng là tàn nhẫn , vô cảm , là lạnh là ác gì gì nữa , họ cũng không ngại . Thành thử cái sự giải quyết tình yêu kiểu như Thành phố không mưa không phải một sự học đòi phương Tây mà vẫn mang màu sắc Trung quốc . Cho đến cả người vợ nhà quê của Vận Triết cũng rất Tàu , với nghĩa bà biết thích ứng , biết chấp nhận , nhập ngay được vào cuộc sống mà từ trước bà chưa hề hay biết . Từ tất cả cái nền chung làm nên bằng toàn bộ các chi tiết được miêu tả trong tác phẩm ( chuyện làm giàu , chuyện đi tây , chuyện nước ngoài đến đầu tư , chuyện tham nhũng , và cả chuyện “khủng bố “ nữa , khủng bố theo kiểu dân gian … ) tính gộp cả lại , thì thấy Thành phố không mưa là bức tranh toàn diện về cuộc sống của con người Trung Hoa hôm nay . Sau một thời gian đóng cửa chỉ biết có mình , từ cuộc cải cách 1976, họ tự tin đi ra với thế giới , cái nội lực tích luỹ được trong nền văn hoá rực rỡ vốn có nay càng được dịp phát huy . Nhờ vậy , một trong những dân tộc già nhất của lịch sử lại đang trở thành một trong những dân tộc trẻ nhất của nhân loại hiện đại .

Ghi chú về tác giả
Tháng 8.1982, truyện ngắn Ôi, Hương Tuyết của cây bút nữ còn rất trẻ, hầu như chưa ai biết tên, xuất hiện trên Tạp chí Văn học trẻ, lập tức được bạn đọc và giới văn học Trung Quốc hết sức chú ý. Câu chuyện rất đơn giản: cứ chiều nào cũng vậy, các cô sơn nữ ở một bản miền núi hẻo lánh, xa xôi, lại ra đón chuyến tàu chỉ dừng lại ở quê mình đúng một phút. Chỉ một phút thôi, các cô gái trông thấy những thứ rất xa lạ với bản nhỏ quê hương như cái kẹp tóc, đồng hồ đeo tay, cái túi xách giả da, đôi giày, bộ trang phục của khách đi tàu… Tất cả đều là những câu chuyện để các cô gái bàn tán, suy tư. Trong sự hiếu kỳ kia là ước mơ vươn tới một cuộc sống tươi đẹp. Câu chuyện đậm chất lãng mạn, tâm lý nhân vật sâu sắc. Tác giả đứng ở góc độ một người thành phố để kể chuỵên, nhưng với một tâm hồn nhạy cảm, một tấm lòng đôn hậu, tỏ ra đồng cảm, yêu thương đối với nhân vật, nhận ra một thời đại mới trong cái non nớt, ấu trĩ qua tâm lý các cô gái miền núi kia. Truyện ngắn này là bước đầu tiên của Thiết Ngưng đến với sự nghiệp văn chương và các nhà phê bình văn học coi đó là tác phẩm “thành danh” của bà.
Sau đấy, tác giả cho ra đời một loạt truyện ngắn, truyện vừa khác khẳng định tài năng của mình như Người đàn bà chửa và con bò, Người con gái của dòng sông, Tấm áo đỏ không cúc (Giải thưởng truyện vừa xuất sấc năm 1982), Câu chuyện tháng sáu (Giải thưởng truyện vừa xuất sắc năm 1984), Đống rơm (Giải thưởng truyện vừa ưu tú năm 1986 – 1987). Thiết Ngưng còn có nhiều truyện vừa khác như Đối diện, Vĩnh viễn không xa (bản tiếng Việt đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài số tháng 1.2001) rất được hoan nghênh. Thời kỳ đầu, Thiết Ngưng thường viết về những con người và sự việc bình thường trong cuộc sống, bà đi sâu vào nội tâm nhân vật, từ đó nói lên được những mâu thuẫn và đau khổ, ước mơ và con đường vươn tới của những con người bình dị mà hầu hết là những số phận phụ nữ nông thôn.
Bộ tiểu thuyết Cửa hoa hồng xuất bản năm 1988 đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của Thiết Ngưng. Trong tác phẩm này, tác giả thông qua cuộc cạnh tranh sinh tồn của ba thế hệ phụ nữ trong một gia đình để chỉ ra những xấu xa, nhơ nhớp trong cuộc sống. Khát vọng thời con gái (Bản tiếng Việt do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản quí I – 2003) lại là nỗi khát khao được sống, làm việc, hưởng hạnh phúc chân chính, nhỏ bé của những người con gái lớn lên trong thời cải cách mở cửa và của lớp cha mẹ họ bị đoạ đầy khổ ải trong cách mạng văn hoá.
Một bài bình luận về Thiết Ngưng đăng trên Nhân dân nhật báo ngày 7.3.2001 nhấn mạnh: “Bất cứ một kỳ tích nào cũng có thể thấy ở Thiết Ngưng, bởi nhiều năm qua bà như một thầy phù thuỷ có sức cảm thụ nhạy bén, đầu óc tưởng tượng phong phú, khả năng khám phấ sâu sắc, trình độ hiểu biết và phân tích hiếm có cũng kỹ xảo tinh tế… Tác phẩm của Thiết Ngưng luôn luôn được người đọc trân trọng đón nhận. Hiếm thấy trên văn đàn một nhà văn nào có thể cuốn hút người đọc lâu bền đến thế…”
Thiết Ngưng sinh năm 1957 tại Bắc Kinh, bà là nhà văn trẻ nhất trong số các nhà văn xuất thân từ lớp “thanh niên trí thức” – những thanh niên học sinh, sinh viên phải về nông thôn lao động lâu dài để “giai cấp bần nông giáo dục lại”, theo cách nói hồi cách mạng văn hoá ở Trung Quốc. Hiện tại bà là Phó chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc.

Sơn Lê

Sự HấP DẫN BắT NGUồN Từ BảN NĂNG GốC

Nhân đọc Báu vật của đời

Tuyết có mùi tanh của máu ..óc người tung toé khắp mặt đất như bãi cứt chim mới ỉa…Gia đình này có năm đứa con trai cả thảy đều câm…Mụ chủ một công ti làm ăn phát đạt kia có cái hỗn danh chính xác theo nghĩa đen :Kim một vú…Cái kỳ dị của con người và cuộc sống có mặt trên nhiều trang sách Báu vật của đời và đấy là một trong nhiều yếu tố làm nên chất hiện đại của tác phẩm .Nhưng kỳ dị nhất mà cũng hấp dẫn nhất là cái góc nhìn riêng tác giả đã chọn để khái quát hiện thực . Nối tiếp nhau,chồng chất lên nhau,các sự kiện xã hội xã hội chính trị ào ào ập đến như tuyết tan như băng lở chỉ trong có vài chục năm mà ngỡ như đã qua hàng trăm năm .Thế nhưng điều thú vị là ở chỗ tác giả đã đặt chúng trong sự cảm nhận cụ thể của con người Trung Hoa .Trong khi hoặc chủ động hoặc bị động tham gia vào các biến động xã hội,mỗi nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này đều hiện ra với nhu cầu muôn thuở mà đời sống đã đặt vào họ . Ngay ở chương một ,việc quân Nhật tràn đến vùng Cao Mật được miêu tả đồng thời với việc bà Lỗ và con lừa nhà Thượng Quan cùng dở dạ đẻ mà cuộc sinh nở nào cũng nhớp nhúa nhày nhụa .Từ đó về sau,các sự kiện lớn lao khác từ cuộc chiến đấu chống Nhật tới những ngày kháng chiến thắng lợi rồi Cách mạng văn hoá,rồi Cải cách mở cửa …đều được con người tiếp nhận với cái khí chất cụ thể và những ràng buộc giới tính ngàn đời sẵn có ở họ . Những mối quan hệ sinh lý là một phần không thể thiếu cuả đời sống;trong khi làm mọi việc lớn lao người ta không ai có thể quên nổi cái bản năng gốc,hơn thế nữa,theo cách miêu tả của tác giả thì chính cái ham muốn thường trực ấy là nguồn động lực chi phối họ hoạt động và làm nên vẻ cao đẹp của họ .Không phải nguỵ biện mà thực ra một nhân vật trong truyện đã nói một cách chính xác rằng làm tình là một hành vi cực kỳ nghiêm chỉnh (tr.534 )Bởi vậy,mặc dù những cuộc ăn nằm chung chạ và hình ảnh những bộ phận nhạy cảm trong cơ thể phụ nữ được miêu tả dày đặc trong hơn 800 trang sách,song chúng không gợi cảm giác bẩn thỉu hay kinh tởm mà lại có thể làm nảy sinh trong lòng người đọc ý nghĩ về sự huyền diệu của đời sống.Lại nhớ những lời ca ngợi của W.Durant trong cuốn Lịch sử văn minh Trung quốc do Nguyễn Hiến Lê dịch ,theo đó ,dân tộc Trung Hoa vốn mạnh mẽ về thể chất và tinh thần tới mức có thể nói “không có dân tộc nào lực lưỡng hơn và thông minh hơn” họ “chống được bệnh tật mạnh hơn,lấy lại sức lực mau hơn sau một tai hoạ hoặc những đau khổ” , “chết rồi lại hồi sinh “. Báu vật của đời cũng như nhiều cuốn tiểu thuyết khác như Phế đô góp phần khẳng định thêm những điều mà mà Durant đã nhận xét.Chắc chắn một dân tộc như thế sau những tai hoạ lớn thì sức bật dậy cũng không sao dự tính nổi .

Quạ đen

Những nhọc nhằn của kiếp người vốn là một chủ đề được văn học xưa nay ưa chuộng , và trong cuốn tiểu thuyết sau đây các bạn sẽ đọc , nhà văn nữ Cửu Đan ( sinh 1968 ) cũng đi theo con đường đó .
Tuy nhiên , cái cách khai thác chủ đề này của Cửu Đan thì lại mang đậm dấu ấn thời đại .
Câu chuyện xoay quanh những vui buồn của nhân vật chính Vương Dao , khi cô rời Bắc Kinh sang Singapore học tiếng Anh , đồng thời tính chuyện làm lại cuộc đời .
Nhân vật xưng tôi ở đây đã trải qua những thử thách cay nghiệt . Đã lê la trong sự thiếu thốn vô phương khắc phục . Đã có lúc phải làm những công việc theo con mắt thông thường phải gọi là dơ bẩn. Đã khi vô tình khi cố ý lừa dối tống tiền ăn cắp … Thế nhưng theo tôi hiểu , điều khiến nhân vật vừa cay đắng vừa hào hứng sống chính là ở chỗ cô không sao từ bỏ được mình . Vẫn sáng suốt nhìn nhận cuộc đời , biết ai yêu mình ai ghét mình . Vẫn tiêu tiền một cách thông minh. Vẫn chìa bàn tay nâng đỡ bạn bè những lúc khó khăn . Vẫn kiêu hãnh tự trọng , bởi biết rằng trong mình có cái phần tuyết sạch giá trong không bao giờ bị cuộc đời phàm tục làm hỏng . Nhất là trái tim cô vẫn còn thổn thức thực sự . Trong truyện , cô rất hay khóc mà không bao giờ đẻ lại cảm tưởng đó là tiếng khóc sướt mướt giả tạo .
Một mặt ai cũng thấy tình yêu của Vương Dao với Liễu Đạo là một tình yêu không bình thường , tình yêu có nhiều khía cạnh quái gở bệnh hoạn , tình yêu mà lúc đầu cô chỉ nghĩ là chỗ dựa để có tiền . Song mặt khác phải nhận cô đã hết mình với cuộc tình này , đã rất hạnh phúc vì nó để rồi cuối cùng dám làm tất cả để giữ được nó (trong cơn bột phát , Vương Dao đã giết con người mà cô yêu dấu , chỉ cốt để vĩnh viễn giữ được người đó thuộc về mình — dù không có ý thức hoàn toàn nhưng ít ra thì trong vô thức là như vậy ) .
Thú thực , ấn tượng sâu sắc hơn cả còn mãi trong tôi khi đọc một số tiểu thuyết Trung quốc dịch ra tiếng Việt mấy năm qua như Phế đô ( Giả Bình Ao ) Báu vật của đời ( Mạc Ngôn ) … và giờ đây Quạ đen không phải là một hai tính cách nào đó mà là cái phẩm cách của con người Trung Hoa nói chung . Quyết liệt . Cực đoan . Liều lĩnh . Sòng phẳng . Đầy tình cảm nhưng cũng đầy lý trí . Và nhất là cái sự tự tin bẩm sinh không biết sợ là gì , cái cảm giác thường trực về sự sang trọng của bản thân mình dòng giống mình : Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng không để người ta coi thường , không hèn kém không phụ thuộc , mà cũng không chai lỳ hưởng thụ theo nghĩa nhặt nhạnh xin xỏ . Nhất là khi trước mặt ta lại là một người phụ nữ Trung Hoa thì cái sự đàng hoàng sang trọng ấy thật có sức lôi cuốn , như lúc này đây tôi bị Quạ đen lôi cuốn , và càng về cuối tiểu thuyết càng bị lôi cuốn , đến mức rời quyển sách , vẫn phải nghĩ mãi về cái ấn tượng mà nhân vật để lại trong tâm trí . Ban đầu tôi cũng chỉ xem Quạ đen như một thứ hàng chợ , nếu có hấp dẫn thì may lắm chỉ là ở chỗ đi vào một đề tài lạ . Song càng đọc , càng thấy cuốn tiểu thuyết này không tầm thường chút nào . Lại chợt nhớ lời khen mà người ta thường dành cho Người đàn bà và con chó nhỏ của Tchékhov : trong khi xử lý một đề tài đã quá cũ kỹ sáo mòn , tác giả vẫn biết mang tới cho nó một ý nghĩa nhân bản cao đẹp. Hình như ở đây, trong chừng mực nào đó , tác giả Quạ đen cũng đã làm được một việc tương tự .