Category Archives: CHÂN DUNG NHÀ VĂN

TÔ HOÀI -nhìn từ một khoảng cách gần

*Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm

*Những cuộc trò chuyện với nhà văn

*Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác

*Người khác nói về Tô Hoài

Đọc tiếp

Đọc thêm: Tô Hoài và Hà nội  –   Tô Hoài trong CB và ĐHD -Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du -Tô Hoài và thể hồi ký– MỘT THỂ VĂN TẬP CHO NGƯỜI VIẾT NHIỀU NÉT QUÝ -MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ -VẪN ÔNG DẾ MÈN ẤY -MỘT CÁCH SỐNG TRONG TUỔI GIÀ -MUÔN MẶT NGHỀ VĂNCUỘC PHIÊU LƯU GIỮA TRẦN AI CÁT BỤI–Những chuyện lỗi hẹn

Những thích ứng với hoàn cảnh đã làm nên sự thay đổi lớn lao trong số phận một nhà thơ.

Với Cách mạng và kháng chiến, một Xuân Diệu từng mang tiếng là quá Tây không chỉ trở thành một nhà thơ công dân sôi nổi mà còn là nhà thơ tình có một cảm quan rất thực tế, luôn biết chăm sóc những cái nho nhỏ trong đời sống và đặc biệt nhạy bén với những xúc cảm bình thường ở con người. Tiếp tục đọc

Nguyễn Du như một thi sĩ

15.3.2005

Lý do để sống

“Trong tư thế xếp bằng trên chiếu trải giữa nền đất, ông ngồi trước một ấm nước chè xanh và một ngọn đèn vặn nhỏ bằng hạt đậu. Lúc này ông không hề để mắt ngó qua đến sách vở, cũng chả hút thuốc vặt, mà chỉ so vai lại, thu cả hai bàn tay vào lòng như một người suốt cả đời luôn cảm thấy rét, hai con mắt lim dim nhìn xuống chiếu đang nghĩ.“ Tiếp tục đọc

Lời con đường quê

Nhà Tế Hanh ở bên Nguyễn Thượng Hiền mà cơ quan tôi ở ngay bên Nguyễn Du, từ nơi nọ qua nơi kia, đi bộ chỉ mất dăm bảy phút. Bởi vậy gần như sáng nào, từ bên nhà mình, Tế Hanh cũng rẽ qua chỗ chúng tôi một lúc. Mà cái cách đến chơi của ông cũng lạ. Có khi, anh em đang họp đông đủ, Tế Hanh chỉ vẫy một người nào đó ra thầm thì một câu rồi đi Tiếp tục đọc

Các nhà văn được miêu tả như thế nào?

Xuân Diệu từng có hai câu thơ được nhiều người nhắc nhở. Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt – Cơm áo không đùa với khách thơ. Trong nhiều truyện ngắn, Nam Cao cay đắng kể lại tình thế bất lực và nông nổi dễ bị bắt nạt của người cầm bút. Tiếp tục đọc

CHỊ ƠI! EM CƯỚI MÙA XUÂN NHÉ

Xuân và Tết trong thơ Nguyễn Bính

Số lượng và chất lượng
Thử ghi lại tên một số bài thơ mà Nguyễn Bính đã viết, trong đó có nói đến xuân là tết.
Lỡ bước sang ngang: Mưa xuân
Tâm hồn tôi: Xuân về
Một nghìn cửa số: Thơ xuân, Mùa xuân xanh
Mười hai bến nước: Xuân tha hương
Mây tần: Tết của mẹ tôi

Đây nữa, các bài thơ lẻ mới đăng báo mà chưa in vào tập nào: Vườn xuân, Xuân thương nhớ, Tết biên thuỳ.
Tiếp đó, nếu dừng lại kỹ hơn ở các bài thơ khác không thật trực tiếp song vẫn nói đến cùng một đề tài (như Cô lái đò, Quán trọ, Khăn hồng, Vài nét rừng) thì người ta phải công nhận với nhau rằng Nguyễn Bính, trong số các nhà thơ hiện đại, là một trong những người viết nhiều về xuân và tết hơn ai hết.
Nếu lại biết rằng Nguyễn Bính qua đời vào một ngày cuối tháng giêng 1966, tức cuối năm ất Tỵ, trước khi chuyển sang năm Bính Ngọ, thì người ta càng có quyền để cho sự liên tưởng được đẩy đi xa hơn nữa. Giai thoại Nguyễn Bính kể: một người bạn của Nguyễn Bính là Trần Lê Văn cho rằn tác giả Lỡ bước sang ngang đã tiên liệu trước cái chết của mình ngay từ thời viết mấy câu thơ trong bài Nhạc xuân:
Năm mới tháng giêng mùng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Chúng ta có thể không hoàn toàn nghĩ như Trần Lê Văn song phải nhận là giữa Nguyễn Bính với cái thời khắc trời đất giao hoà này, đúng là có mối duyên nợ thầm kín nào đó.
Mùa xuân và tết đã được Nguyễn Bính miêu tả như thế nào?
ở bài Xuân về, ta bắt gặp: gió, trời trong, nắng, lá non, hoa bưởi, hoa cam, cánh bướm.
ở vài Vườn xuân: gió, bướm, mưa bụi, búp non.

Khi tả tết (như ở các bài Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ) Nguyễn Bính lại cũng nói đến pháo, hoa, rượu, những nét son trên môi thiếu nữ.
Đại khái, đó là những chi tiết thông thường mà mỗi chúng ta hình dung ra, khi nghe nói đến xuân và tết. Về mặt thi liệu mà xét, chúng không có cái lạ, cái choáng ngợp, của những gì thật mới, thật độc đáo. Chỉ có điều là những chi tiết đơn sơ ấy được Nguyễn Bính thổi vào một sức sống, khiến nó hiện lên thành những bức tranh tự nhiên, đồng thời gợi lên trong lòng người đọc những xúc động mà hầu như ai cũng có, nhưng lại không hay biết.
Thế còn ý nghĩa mà mùa xuân và tết để lại trong lòng người?
Bài Thơ xuân nhắc đến đủ loại người, và ở mỗi loại xuân lại có một ý nghĩa riêng.
Với các em nhỏ, xuân là đùa vui nhí nhảnh. Với các cô gái, xuân gợi chuyện ái ân. Với các chàng trai, ngày xuân cũng là những ngày bắt đầu của một mơ ước cao rộng: thi cử, đỗ đạt.
Ngược lại, với các cụ già, xuân là thời gian để chiêm nghiệm việc đời.

Có thể dự đoán một bài như bài thơ Thơ xuân được viết để “góp tên góp tuổi góp chất lượng” cho một số báo tết của một cố nhân nào đó trong làng báo, nên nặng tính cách giao đãi (tất nhiên, giao đãi của Nguyễn Bính, thì cũng đã rất tài). Còn như muốn tìm cái phần thật là chân chất của Nguyễn Bính, cái phần xuân và tết riêng của ông, thì không gì bằng đọc lại những bài như Mưa xuân. Mượn lời tâm sự của một cô gái đi xem chèo không gặp người yêu, bài thơ cô kết lại ở những cảm giác âm thầm và rạo rực mà mùa xuân mang lại trong lòng mỗi người. Đây là thời gian của gieo cấy ấp ủ của tin yêu và chờ đợi. Sau cái mưa bụi kia, trong không khí lành lạnh của những thoáng mùa đông đang còn sót lại, thực ra là bao hy vọng mơ hồ được đánh thức, nó làm cho mỗi con người, nhất là những người tuổi trẻ “ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng”, và mặc dù đôi khi dó chỉ là những hy vọng hão, những ước mong không được đáp ứng, song nó vẫn bền chặt trong lòng người, cả đến khi đau đớn, con người ở đây vẫn không nản lòng, vẫn gắng công chờ đợi, vì ngày xuân còn dài, và theo nhịp tháng năm, sau xuân này còn có những xuân khác.
Xuân tha hương
Trở lên là những bài thơ xuân Nguyễn Bính đã viết khi mới từ nông thôn lên thành thị, mới bắt đầu cuộc đời của một thi sĩ với bao náo nức.
Chỉ vài năm sau thôi, khi gió bụi kinh thành mang lại cho Nguyễn Bính nhiều chua xót, và những ngày giang hồ đôi khi đồng nghĩa với cuộc lưu đày bất dắc dĩ, thì một mô típ khác bắt đầu xuất hiện: xuân và tết gắn liền nỗi nhớ quên, nhớ những kỷ niệm êm đẹp ngày trước. Giờ đây, nhìn ngày vui của mọi người, chàng thi sĩ chợt nhận ra mình quá đơn độc. Sống giữa cái tết của người ta, chàng mong những cái tết của mình. Và trước khi làm thơ xuân cho người, chàng làm cho mình những vần thơ xuân thật đau đớn, thật tê tái. Đấy là âm hưởng toát ra qua những bài thơ như Xuân tha hương, Quán trọ, Bài hành phương Nam viết sau 1940.
Nếu trước đây, thơ xuân Nguyễn Bính thường nói đến những buổi sáng, thì nay trong thơ xuân của con người ấy có những buổi chiều, những đêm tối.
– Thơ suông rượu nhạt, quán cơm nghèo
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều
– Đây lời tâm sự cùng ai tỏ
Một lạnh đêm xuân chiếu lạnh giường.

Theo hướng phát triển này, giọng thơ Nguyễn Bính có dịp tự đổi khác khá bất ngờ. Trước đấy, thơ như một thứ quà tặng mà thiên nhiên ban phát cho người nghệ sĩ tài ba, và chàng chỉ việc giơ tay ra là hái ngay được để trao tặng cho đời. Nay ta bắt gặp một sự dụng công hơn và những gì tâm huyết hơn – thơ là sản phẩm của chính con người Nguyễn Bính, kết quả của sự từng trải riêng Nguyễn Bính mới có, thơ như những giọt nước mắt đã cố kìm giữ mà cứ trào ra trên gương mặt phong trần của chàng thi sĩ. Có thể nói, những vần thơ đanh quánh rắn rỏi có hơi hướng thơ biên tái (một dòng trong thơ Đường) này như là trình ra một Nguyễn Bính mới, và cái điều mà Nguyễn Bính vẫn tự hào, là được theo đòi bút nghiên, học chữ Hán từ lúc nhỏ, điều đó đã được chứng thực một cách thuyết phục.
Nhưng có lẽ những bài thơ xuân tha hương buồn bã chỉ có tiếng vang trong lòng một lớp công chúng chật hẹp.
Với đa số bạn đọc, Nguyễn Bính vẫn là tác giả của những câu thơ đắm say tha thiết với mưa xuân, những câu thơ chúng chiều chuộng người ta mơn trớn người ta, và phải nói là khá phù hợp với những ảo tưởng tốt đẹp mà mùa xuân thường gợi ra trong lòng bất cứ ai, kiểu như:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Trời ở trên cao lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Hoặc:
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.

Người ta biết rằng Nguyễn Bính, con người rất nhạy cảm với phụ nữ, dễ yêu và cũng rất dễ là khổ phụ nữ này, trong đời riêng, khá bất hạnh. Cái hạnh phúc thông thường – một tình yêu trung hậu, kết thúc bằng một cuộc hôn nhân bền chặt – nhiều người bình thường có thể có, song chính Nguyễn Bính lại không có. Có lẽ vì thế người thi sĩ của chúng ta không khỏi có lúc muốn tìm tới trong thơ cái điều không đạt tới trong cuộc đời: trong cơn say sưa đã mấy lần ông gọi mùa xuân là một người con gái, và sẵn sàng đi đến cùng, trong mối quan hệ với người con gái ấy. Nhân trò chuyện với người chị ở xa là chị Trúc, ông cả quyết:
Chị ơi em cưới mùa xuân nhé!
Để rồi một dịp khác ông sẽ diễn tả những luống cuống trong tình yêu và niềm khao khát tận hưởng tình yêu với người con gái – mùa xuân trong những câu thơ thuộc loại hay nhất của mình.
Xuân đến tình tôi náo nức quá
Như người giai tế tối tân hôn
Vì say sưa quá, cho nên đã
Đánh đổ trời xuân xuống suối hồn.

TỪ NGƯỜI CHỊ LỠ BƯỚC SANG NGANG TỚI CÔ LÁI ĐÒ

Nếu nghĩ đến nước Anh, người ta nhớ tới Hamlet, để hình dung ra Tây Ban Nha, người ta liên tưởng ngay đến chàng hiệp sĩ mặt buồn Don Quichotte, thì nghĩ đến xã hội Việt Nam, nhiều người nghĩ ngay đến nàng Kiều, đến Xuý Vân… Những người phụ nữ ấy “rằng tài nên trọng mà tình nên thương”, thông minh nhạy cảm tuyệt vời là thế, nhưng số phận đâu có nuông chiều họ. Suốt đời đeo đẳng họ như cái bóng là những nỗi “đoạn trường” họ phải gánh chịu. Tiếp tục đọc

THẾ GIỚI HÔM QUA

Một huyền thoại về nông thôn Việt Nam qua thơ Nguyễn Bính và lý do dẫn đến sự ra đời của huyền thoại ấy

Vào thời điểm Nguyễn Bính lớn lên và bắt đầu làm thơ – tức là những năm 30 của thế kỷ XX – quá trình Âu hóa của xã hội Việt Nam đã qua được một chặng đường khá dài. Chung quanh bộ máy cai trị của thực dân đã thấy hình thành nhiều trung tâm hành chính và buôn bán lớn . Một tầng lớp công chức mới ra đời mà với họ cách sống tối rượu sâm banh sáng sữa bò trở thành tự nhiên, tưởng như bao đời vốn vậy. Ngày một quen hơi bén tiếng với văn minh phương Tây, người ta dễ dàng cảm thấy mình gần với các đô thị tư bản hơn là các phố chợ phong kiến. Và chính lúc đó, nhiều người bắt đầu nhớ nhung tới cái cội nguồn nông thôn hôm qua của mình. Không gì khác, giọng thơ Nguyễn Bính được yêu mến, nhiều bài thơ của ông được người đương thời thuộc lòng, bởi nó đáp ứng được sự lưu luyến thường trực của những cư dân thành thị với cội rễ hôm qua của họ. Có thể nói rõ sự ưu ái của dư luận đối với một số bài thơ của Nguyễn Bính trong Lỡ bước sang ngang, Mây tần, Mười hai bến nước… đã đánh dấu sự trở về của một thời với những gì mà con người thời đó vừa đánh mất. Và do chỗ đây chỉ là sự trở về trong tâm tưởng, lại ở lĩnh vực thơ ca, cho nên cái nó hướng tới không phải là một nông thôn có thực mà là một nông thôn trong hoài niệm, một nông thôn đã được lý tưởng hóa ít nhiều. Hơn thế nữa, đồng thời với sự trở về trong không gian còn có sự đi ngược thời gian, để tìm tới tận cái nông thôn thanh bình thời xưa. Trước mắt chúng ta, xảy ra một quá trình hoài niệm song đôi, hoài niệm kép, nên tự nhiên là nó nối tiếp miên man, không biết đến đâu là dứt.

Cuộc sống thanh bình êm ả

Trước tiên, cái cuộc sống nông thôn mà những vần thơ Nguyễn Bính đưa người ta trở lại là một cuộc sống hài hòa, êm đẹp. Trời đất thiên nhiên yên lành, thanh sạch, còn con người thì bình thản mà sống, tự tin mà sống. Công việc, người ta tự nguyện nhận làm. Bổn phận, người ta sẵn sàng gánh vác. Và ai nấy dường như đều luôn luôn biết tìm ra trong nhịp sống hàng ngày những niềm vui, những điều tốt đẹp. Và con người lao động ở đây không có cái vẻ lam lũ nhọc nhằn, ngược lại ở họ luôn luôn toát lên vẻ đẹp, cùng sự ý nhị, duyên dáng.
Nhà tôi có một vườn dâu
Có giàn đỗ ván có ao cấy cần
Hoa đỗ vẫn nở mùa xuân
Lứa dâu tháng tháng lứa cần năm năm
Ngoài cuộc sống hàng ngày, ở con người nông thôn (xin nhắc lại đây là hình ảnh con người nông thôn qua sự lý tưởng hóa của cả kẻ ở lại làng quê lẫn kẻ xa quê) lại không thiếu những phút thăng hoa cao đẹp. Đó là tình yêu của họ với làng xóm, những xúc động thuần phác trong quan hệ của họ với tự nhiên, mà nảy nở đầy đặn nhất là vào những ngày hội hè, đình đám. Hoặc mở ra giữa những đêm trời cao gió cả, trăng như ban ngày hoặc khai trương mùa diễn vào những ngày xuân mưa bụi, hội hè thường khi là những dịp để con người thoát ra khỏi bao lo buồn hằng ngày, mà yên tâm sống, sống thật hồn nhiên, thật cởi mở với mọi tình cảm có thật trong mình. Nói chung, trong tâm thức con người nông thôn thì cuộc sống bao giờ cũng vận động theo vòng quay đều đặn của tự nhiên. Sẽ không có thay đổi gì thật lớn! Cũng không có những tai họa bất thường đổ sụp xuống đầu người ta!

Sự ưu thắng của những giá trị tinh thần

Một khía cạnh khác làm nên sắc thái riêng của cái nông thôn lý tưởng Nguyễn Bính đưa ta trở lại: ấy là nếp sống đậm chất Nho giáo. Đây không phải thứ đạo Nho trung hiếu tiết nghĩa hà khắc của người có học, mà là một ít quy định, một ít giả thiết, một ít niềm tin… về một cuộc sống lý tưởng mà người ta noi theo, nó khiến cho những sinh hoạt hàng ngày được chiếu rọi một ánh sáng mới, có thêm những nét trau chuốt hơn, tinh tế hơn mà đôi khi cũng rạng rỡ hơn. Xã hội trong thơ Nguyễn Bính là một xã hội có sự phân công rõ rệt: nếu người phụ nữ tượng trưng cho cuộc sống cần cù, chăm chỉ, và cả những khao khát tốt đẹp, thì những người đàn ông chính là kẻ thực hiện những khao khát đó. Bao nhiêu công phu bỏ ra, những người mẹ, người chị, người vợ cũng không ngại, miễn sao các anh học trò yên tâm dùi mài kinh sử. Họ – đám học trò dài lưng tốn vải – sẽ phải học hành trong sự thúc đẩy ngấm ngầm của những người thân ấy. Và họ sẽ phải đi thi để những mơ ước dai dẳng kia có ngày trở thành sự thực. Hầu như bất cứ bài thơ nào của Nguyễn Bính mà có chút hơi hướng liên quan tới sự lập nghiệp trong tương lai, đều có nhắc đến chữ trạng. Anh lái đò mơ đỗ trạng, cô gái chăn tằm ước ao chồng mình có ngày thành trạng, cho đến các cô gái tước đay dệt võng thì cũng chỉ chăm chăm có một điều là đay này dệt võng để các ông trạng vinh qui. Khoảng cách tưởng là xa vời – từ cái ngày thường hàn vi, đến một ông trạng hay chữ nhất nước – hóa ra lại rất gần gũi trong tâm khảm mọi người đến mức tưởng như ai cũng có thể trở thành trạng được, nếu như chăm chỉ, cần cù, và có … một người vợ hiền thúc đẩy. Lạ một điều là cái sự đỗ trạng ở đây không đi kèm với tiền bạc, hay quyền bính, hay sự hưởng thụ. Nó chỉ là một thứ giá trị tinh thần, và cả người nhận, lẫn chung quanh, đều lấy làm đủ mà không thắc thỏm gì thêm. Từ khía cạnh này mà xét, phải nhận cái thế giới hôm qua Nguyễn Bính ca tụng là một thế giới cao thượng. Ở đó, cái chiếm vị trí ưu thắng không phải là vật chất, mà là tinh thần.

Văn chương như một cách thế vượt lên đau khổ

Không chỉ Nguyễn Bính, thật ra trong văn học tiền chiến có cả một mạch văn đi vào nuối tiếc và luôn luôn hoài niệm cái không khí thanh đạm của thời quá khứ. Nguyễn Nhược Pháp có Ngày xưa, Vũ Đình Liên có Ông đồ, Lưu Trọng Lư gợi lại một thời đã mất trong Khói lam chiều, trong Chiếc cáng xanh. Đến cả Xuân Diệu “tây” là thế, mới mẻ là thế, mà cũng sớm quay về sống lại không khí cổ xưa qua những phác họa đời sống tinh thần lúc ấy:
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm
Hây hây thục nữ mắt như huyền
Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Dẫu sao, phải nhận rằng so với mọi người thì niềm hoài vọng này ở Nguyễn Bính vừa dai dẳng, lại vừa tự nhiên hơn.
Tại sao lại như vậy? Chẳng những nhiều lần dông dài với Nguyễn Bính trong những chuyến giang hồ vặt kiếm ăn, Tô Hoài còn đã có dịp trở lại với làng quê Nguyễn Bính nữa. Và đây, dưới con mắt Tô Hoài, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của tác giả Lỡ bước sang ngang hiện lên với vẻ trần trụi vốn có :
Làng Thiện Vinh thật có giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình. Đâu đâu cũng xơ xác. Nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cồn lên, quần lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối. Mỗi năm mất mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương.
(Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính, 1986)
Sau khi cực tả như thế, Tô Hoài đi vào cắt nghĩa: tại sao trên cái thực đến se lòng đó, lại nảy sinh thơ Nguyễn Bính:
Từ những dằn vặt, những mơ tưởng nhỏ nhoi đọng lại. Mùa này mất trắng lại mong cho đến mùa sau lại được thấy mặt hạt thóc. Cái củi rều trôi quá ngoài sông, không vớt được cũng tiếc. Vợ chồng cãi nhau, người vợ ôm mặt than thở: “Giá như ngày ấy theo cái người dưới Đông thì chẳng đến nỗi nào, khổ cái thân tôi…”. Hoa xoan và mưa bay giữa hội chèo làng Đặng đã sinh ra từ những như thế. Người ta than thân trách phận, nhớ tiếc, ước ao, ở giữa làng mà tưởng ra quê mình tận đâu đâu kia.
Với tư duy sắc sảo của người viết văn xuôi, Tô Hoài thật đã chạm tới một vấn đề lớn của các sáng tác văn chương trong quá khứ. Chúng ta đều biết tuy cái tình cảnh vùng đất đồng chiêm trũng nói ở đây, là riêng của quê hương Nguyễn Bính, song nhìn rộng ra, nó là nét phổ biến trong xã hội trung đại Việt Nam, và kéo dài cho tới đầu thế kỷ này. Khắp đồng bằng Bắc bộ, do nơi quan hệ sản xuất không hợp lý, và kỹ thuật canh tác cổ lỗ, ngay cả những nơi đồng đất mỡ màu, thiên nhiên ưu đãi, đâu đâu cũng là một đời sống khó khăn, xã hội thì im lìm bất động, sự trì trệ kéo dài đến mức trở thành một ám ảnh, và người ta không thể nghĩ được điều gì tốt đẹp, ngoài cái cảm giác chung rằng cuộc đời mãi mãi là thế này, không thể thay đổi. Và để tự vệ, để tìm thấy niềm vui sống, người ta phải dựng tạo cho mình một cõi tâm linh riêng, đó là cái thế giới mộng mơ với bao điều tốt đẹp. Bởi lẽ, niềm mơ ước ấy là của chung mọi người, nên nó dễ dàng lan tỏa, nó được hầu như mọi người chia sẻ. Như thuật ngữ bây giờ hay nói, rồi từ cái đời sống bế tắc đó, một huyền thoại được hình thành, huyền thoại về một cuộc sống hài hòa êm đẹp, có chỗ cho tất cả mọi người. Không ít sáng tác dân gian – một kho tàng nghệ thuật phong phú ở đồng bằng Bắc bộ – đã nảy sinh trên cơ sở huyền thoại dai dẳng kia. Nó trở thành một bộ phận của đời sống người ta, vỗ về an ủi người ta. Và nó lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đến lượt mình, các sáng tác của Nguyễn Bính chính là bước tiếp nối cái mạch của người đi trước và nâng nó đến độ hoàn chỉnh, tức tạo ra cho nó một vẻ đẹp vốn chỉ có ở các vần thơ dân gian ưu tú nhất .

HAI CUỐN TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN BÍNH

Báo Văn Nghệ số 7 (18-2-06) có in bài viết của Đặng Hồng Nam giới thiệu tiểu thuyết Không nhan sắc của Nguyễn Bính . Dưới đây , chúng tôI xin đề cập tới hai tác phẩm văn xuôI khác đều có nhiều yếu tố tự truyện của tác giả .
Nhiều nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến thường đồng thời có viết văn xuôi. Thâm Tâm đã viết Thuốc mê; Trần Huyền Trân đứng tên sau các tiểu thuyết Sau ánh sáng, Bóng người trên gác kinh; Anh Thơ có Răng đen. Về phần mình, Nguyễn Bính từng cho in nhiều kỳ trên báo rồi in thành sách hai tác phẩm tương đối dài hơi là Ngậm miệng và Hai người điên giữa kinh thành.
Ngậm miệng (tròn 100 trang) là một thứ tiểu thuyết độc thoại. Nhân vật xưng tôi trong truyện tự kể lại mối tình của mình với một cô gái tên là Oanh. Nhưng đó là tình yêu một phía, tình không được đáp lại. Thậm chí người con trai cũng chưa một lần dàn mặt trò chuyện với người mình yêu. Hết đứng đón để được thấy bóng dáng của nàng, chàng lại qua nhà đêm tối, trời mưa cũng đứng gần nhà nàng, chờ trong nhà… tắt đèn. Giận dỗi vì bất lực, hai lần chàng bỏ đi. Lần lên Thái Nguyên rồi ốm tương tư đã gần chết. Lần vào tận đồng đất Nam bộ xa xôi. Nhưng đi xa ít lâu chàng lại về trong tuyệt vọng. Vì Oanh vẫn không hề đoái hoài. Đúng ra, Oanh không thể gọi là một nhân vật trong Ngậm miệng đơn giản là vì Oanh không tự thân xuất hiện. Phần đầu tác phẩm, có đoạn tả Oanh đi lấy chồng, khiến tôi đứng nhìn mà xiết bao đau đớn. Nhưng đó không phải cảnh thật mà chỉ do chàng yêu quá, ngồi tưởng tượng ra. Gần cuối truyện có chương Động phòng hoa chúc dạ, tả ngày cưới của hai người nhưng chẳng qua cũng là câu chuyện ở trong giấc mơ, khi một mình chàng thi sĩ đang lăn lóc ở nơi phương trời xa lạ nằm mơ rồi vẽ ra trong đầu. Cuối truyện, tôi giận dữ nói với một người bạn: “Nếu bây giờ tôi gặp Oanh, câu đầu tiên của tôi là bảo với nàng rằng: “Oanh ơi! Oanh có biết không? Quả thật tôi không yêu Oanh một tí nào cả”.
Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội dài hơn (139 trang) và có vẻ nhiều chất tiểu thuyết hơn. Hai nhân vật chính trong truyện là Tuấn và Điệp. Cả hai là những thi sĩ trẻ, nhưng đã trải qua nhiều đau đớn trên đường tình ái, nên rất bi quan mỗi khi bàn về phụ nữ. Theo Điệp và Tuấn “linh hồn họ đục như bùn và lòng họ đen như than” (họ đây là phụ nữ nói chung!) Một lần, chán quá, hai người nghĩ ra trò chơi kỳ cục: mua hoa xuống nghĩa trang thành phố – bấy giờ là nghĩa trang P.T ở gần Bạch Mai để xem có cô gái trẻ nào mới chết thì… đặt hoa lên mộ. Từ đó, cả Tuấn và Điệp đều hết lòng yêu Hoàng Lan, cô gái mà họ không hề biết mặt và đã chết từ mấy tháng trước. Điều này khiến bạn bè của họ như thi sĩ Trần, Quang… đều bảo họ điên. Tình cờ, một lần xuống mộ, hai chàng gặp mẹ và em gái Hoàng Lan. Họ mời Tuấn cùng Điệp đến chơi, rồi về gia đình trọ luôn thể. Nhưng đang sống trong mộng, bỗng nhiên một lần Điệp bắt gặp trong tấm gối cũ của Hoàng Lan – mà chàng thường gối – một xấp thư và ảnh. Hoá ra, trước khi chết, Hoàng Lan đâu phải trong trắng như Điệp đã tưởng. Báo tin cho Tuấn biết chuyện này mà lòng Điệp đau như dao cắt.
Oanh là một người có thật và quả rất không bằng lòng vì việc mình bị trở thành nhân vật nói tới trong thơ văn . Nhưng mặc kệ , cáI tật của các nhà thơ và của dân mê thơ mang đậm chất làng xã ở ta là thế , họ cứ truyền tay nhau và hồn nhiên mang các bàI thơ có nhân vật Oanh ra in . ( Nhân đây bản thân người viết bàI này cũng xin có lời cáo lỗi , vì xem đây đã là một chi tiết văn học sử . ) . Trong tập Xuân tha hương , Đỗ Đình Thọ đã chép vào mấy bàI : Oanh , Nhớ Oanh, Trở lại Hà Đông . . Trong hồi ký Những gương mặt, ở bài viết về Trúc Đường, Tô Hoài người đã chứng kiến mối tình si còn kể lại: “Một hôm, vào lúc chập tối, đương đi ở phố Hàng Bông, Nguyễn Bính bấm tôi: Oanh đấy! Oanh đấy! Tôi nhìn sang bên kia hè. Trời ơi! Oanh! (…) Một cô gái mặt tròn như chiếc bánh đúc chít khăn sa tanh đen kiểu các cô bán cau khô, hàng xén chợ tỉnh. Mà cái chàng “khách thơ” Nguyễn Bính đâu có quen biết gì người ta cho cam! Hình như chỉ biết là con một ông ách ông quản gì đó ở Hà Đông. Thế mà cứ rối cả lên”.
Nhưng ở đây, chúng ta không bàn đến chuyện Oanh xấu hay đẹp, Oanh có yêu Nguyễn Bính hay không. Điều quan trọng hơn đối với người nghiên cứu lịch sử văn học: qua mối tình này con người Nguyễn Bính được bộc lộ khá rõ : nông nổi , vơ vào , nói như các cụ xưa là chỉ toàn hươu vượn , chứ chả sung sướng nỗi gì !.
Nếu sự vắng bóng của Oanh trong Ngậm miệng có vẻ làm hại tới tác phẩm về mặt tiểu thuyết, thì để bù lại, nó tạo ra một khoảng trống để buộc Nguyễn Bính khai thác bản thân tỉ mỉ hơn. Qua thiên truyện này, ta được đọc những trang ông tự kể về quê quán ông (làng Thiện Vinh, có “thổ sản” rau cần và chuyên nghề làm bún), gia cảnh ông (mẹ mất sớm, thiếu người chăm sóc, lúc nào cũng cảm thấy “bị chôn sống giữa một gia đình hiu quạnh như bãi tha ma”). Lá thư nhân vật xưng tôi gửi cho ông anh Hữu Cương – có thể hiểu là thư Nguyễn Bính gửi cho nhà viết kịch Trúc Đường – là một đoạn tự bạch thành thực và cảm động. Trong khoảng 8 trang sách, Nguyễn Bính đã nói gần như đầy đủ về mình và gia đình mình. Ngoài ra, trong nhiều trang sách, người ta bắt gặp những ý tứ mà sau này Nguyễn Bính sẽ đưa vào thơ. Chẳng hạn ở trang 22 tiểu thuyết Ngậm miệng Nguyễn Bính viết: “Tôi phụng thờ nàng hơn các vị tăng ni phụng thờ đức Phật, tôi tôn sùng nàng gấp mấy người ta tôn sùng một tôn giáo. Tôi luôn luôn tụng kinh vì nàng, nhưng là tụng kinh ân ái”. Đọc đoạn này, người ta không khỏi nhớ tới mấy câu kết bài Lời yêu đương.
Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một trường đình
Thờ riêng một vị thần linh là nàng.
Điều này, người ta cũng thấy rõ trong tiểu thuyết Hai người điên giữa kinh thành.
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh Hai người ..là ở chỗ khác.
Theo nhà thơ Hoàng Tấn cho biết, Nguyễn Bính thường tự nhận tiền thân của mình là bướm, và từng lấy bút hiệu là Điệp Lang. Trong thơ ông, mô típ con bướm nhởn nhơ phong tình thường trở đi trở lại. Nhân vật Điệp trong Hai người điên giữa kinh thành có nhiều nét nhang nhác con người Nguyễn Bính hàng ngày: cũng lối dễ xúc động “trông người con gái nào cũng thấy đẹp”, “gặp người con gái nào cũng nói ầm cả lên là yêu tha thiết yêu mặn mà”; cũng những cảm giác sâu nặng về truyền thống, vừa nhìn rặng hoa hoè điểm chấm vàng đã nhớ ngay chuyện ngày xưa sĩ tử đi thi.
Vậy đã rõ Điệp chính là Nguyễn Bính. Thế còn Tuấn, và Trần, Quang, hai người bạn làm thơ khác?
Theo chúng tôi tìm hiểu, Tuấn ở đây chắc chắn là hình ảnh của Thâm Tâm. Tên thật của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình, thì chữ Tuấn chắc rút ở đấy ra, đấy là một lẽ. Lẽ thứ hai quan trọng hơn:
Tuấn ở đây, cũng như Thâm Tâm ở ngoài đời, đều là loại người khắc khổ, nhìn đời một cách bi quan. Đặc biệt, Tuấn cũng từng yêu một cô gái trẻ, tên là Khánh, trong tình yêu cũng xen vào hình ảnh những bông hoa ti-gôn “dáng như tim vỡ”, rồi cô gái cũng bỏ đi lấy chồng, khiến Tuấn đời đời ôm hận. Tóm lại, toàn là chi tiết mượn từ đời riêng Thâm Tâm, trong đó có mối tình Thâm Tâm với T.T.Kh. Còn Trần thì không ai khác, là Trần Huyền Trân. Bộ ba Nguyễn Bính- Thâm Tâm- Trần Huyền Trân gắn bó với nhau từ hồi viết Tiểu thuyết thứ năm và báo Bắc Hà, một mối gắn bó mà Nguyễn Bính từng mô tả “không đào viên kết nghĩa – nhưng cũng thành tam anh”. Vả chăng, thời tiền chiến nếu có một thi sĩ nào mà thơ “điêu luyện, cổ kính, đẹp như một bức tranh Tàu”, như Nguyễn Bính tả trong Hai người điên giữa kinh thành, thì người đó phải là Trần Huyền Trân. Sau hết, còn ai là Quang, một người bạn nữa của Tuấn và Điệp, chỉ hiện ra với mấy nét thoáng qua trong tác phẩm? Tác giả cho biết “Quang có gia đình êm ấm ở Hà Nội, nhưng lại thích đi giang hồ. Giang hồ đây chỉ có nghĩa là đi liêu biêu, nay đây mai đó để được làm thơ nhớ quê hương, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ tình nhân và nhớ hết mọi người.” Đây nữa, là chi tiết “thân hình anh to nhớn như voi, nhưng tính khí lại như đàn bà, rất hay khóc”. Nhà văn Tô Hoài nói với tôi: Quang đây là Phạm Quang Hoà một cây bút của nhóm Bắc Hà.
Ngoài tiểu thuyết, Nguyễn Bính còn viết truyện ngắn. Một nhà nghiên cứu cho biết năm 1944, trong thời gian ở Sài Gòn, Nguyễn Bính có truyện ngắn Không đất cắm dùi in ở tờ báo Thanh niên Đông Pháp, được báo này tặng giải nhất trong một cuộc thi. Trước đó, hồi nhà thơ đang ở Hà Nội, tác phẩm văn xuôi ký tên Nguyễn Bính in rải rác trên các báo cũng có khá nhiều. Bản thân chúng tôi mới sưu tầm được một truyện ngắn độc đáo của Nguyễn Bính mang tên Nước hồ sen. Tác giả đề rõ mình viết truyện này ở đền Yên Phú, Hà Đông và cho in năm 1940.
Nhưng hãy trở lại với Ngậm miệng và Hai người điên giữa kinh thành, ngoài giá trị tự thân, cả hai cuốn tiểu thuyết này là những tài liệu đáng tin cậy , giúp ta hiểu thêm Nguyễn Bính và bạn bè cùng làm văn nghệ đương thời.

CÁT BỤI VÀ ÁNH SÁNG

CÁT BỤI VÀ ÁNH SÁNG
Cuộc đời Nguyên Hồng thực sự là món quà tặng của lớp người cần lao cho văn học Việt Nam hiện đại

Ngay từ 1945 trở về trước, trong không khí sinh hoạt tinh thần hiu hắt của một xứ sở thuộc địa lắm người cơ cực, văn chương Việt Nam đã không mấy khi được khai thác theo hướng đi vào những triết lý cao siêu nhằm thỏa mãn đám người cao sang giàu có. Ai muốn tìm tới văn hóa thuần túy, xin mời đọc sách báo tiếng Pháp. Những hy vọng người ta trông chờ ở mấy tờ báo, mấy cuốn tiểu thuyết in bằng quốc ngữ trên giấy đen xỉn sản xuất bấy giờ giản dị hơn nhiều. Thứ quà không mấy cầu kỳ này được ngầm quy ước là phương tiện của người nghèo để an ủi người nghèo. Tinh thần dân chủ tự phát hoạt động ngay trong quy trình sản xuất và thưởng thức văn chương. Một nhà văn thật dễ được thông cảm nếu như bạn đọc biết rằng anh ta thường quan tâm tới những cuộc đời như mình, gieo neo, vất vả.
Nơi “dưới đáy” thiêng liêng
Về phương diện ấy mà xét, văn phẩm của Nguyên Hồng là một đáp ứng gần như trọn vẹn. Xuất hiện có phần hơi muộn trong một giai đoạn rực rỡ của văn học Việt Nam (mà nay thường được gọi là văn chương tiền chiến), song Nguyên Hồng thật đã tận dụng được tinh thần dân chủ theo nghĩa trên đây vừa nói, để mang vào một thứ chất lạ trong văn học – cái chất chắt ra từ cuộc sống của đám người mà theo cách gọi của Gorky, là dưới đáy của xã hội. Nguyên Hồng viết gì? Ông viết về tình yêu và cuộc đời truân chuyên của một đôi vợ chồng lưu manh trùm ăn cắp (Bỉ vỏ). Về trường hợp một gã học trò bỏ học đi dạy tư không đủ sống, có lần nhịn ăn mấy ngày, sau đói quá, đêm ngủ ở nhà người quen, phải lục cơm nguội, và sung sướng nhận ra vị ngọt ngào kỳ lạ của thứ cơm nguội ấy (Ngọn lửa). Về những thèm khát nhớ nhung cuộc sống bình thường của một con người ở tù (Cuộc sống)… Đọc Nguyên Hồng, do thế là được sống những niềm vui trần thế ở dạng ban sơ nguyên chất. Là được yêu gió lành, nước mắt, và ánh nắng chói chang. Là được tha thiết đắm say với cuộc sống, được khổ vì nó, ứa nước mắt vì nó. Dù trong thâm tâm đã biết chắc rằng thật ra mình sống chẳng sung sướng gì, song qua những trang sách hay nhất in trong Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Miếng bánh… người ta vẫn cảm thấy được an ủi rằng dẫu sao, cuộc sống vẫn còn những điều gì đó thiêng liêng quyến luyến, mà ta chưa biết. Tinh thần nhẫn nhục cơ đốc giáo – một nhân tố có ảnh hưởng đến tâm tính Nguyên Hồng ngay từ thời nhỏ – cộng với một nỗi niềm ham sống mang tính cách dân gian đã đem lại cho nhiều trang viết rối rắm của Nguyên Hồng một tinh thần lạc quan hồn nhiên về cuộc sống ở ngay trong những bộn bề nhếch nhác. Trong khi cực tả những đau khổ mà các nhân vật của mình từng phải gánh chịu, Nguyên Hồng vẫn cho thấy ở họ có một cái gì run rẩy, mà lại mạnh mẽ, rắn chắc. Luôn luôn, họ dám là mình và chỉ trung thành với chính mình. Sau này, vào những năm cuối đời, Nguyên Hồng sẽ dồn hết kinh nghiệm sống để viết nên Cửa biển. Cuốn sách có tới 4 tập, mỗi tập ba bốn trăm trang gộp lại làm nên một bộ tiểu thuyết thuộc loại dài nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Ở đây có tới hàng trăm con người lui tới. Song dù quay cuồng trong khung cảnh Sóng gầm, của một Thời kỳ đen tối, giữa lúc Cơn bão đã đến, các nhân vật ấy vẫn giữ nguyên những khao khát mãnh liệt được làm người, được sống – nó là cái nhiệt tình người ta từng chứng kiến ở các nhân vật trong Lò lửa, Địa ngục…
Người khách tự do
Hơn nửa thế kỷ trước, tức khoảng 1938-1939. Sau khi xuất hiện chói lọi với Bỉ vỏ, Nguyên Hồng lại cho in dần trên tuần báo Ngày nay – tờ báo văn nghệ sang trọng bậc nhất lúc ấy – thiên tự truyện Những ngày thơ ấu. Mấy năm sau, khoảng 1942, khi viết bộ Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan kể lại rằng “đọc tập tự truyện của Nguyên Hồng, tôi đã tưởng có dưới mắt quyển sách của một nhà văn Anh hay nhà văn Nga”. Ý Vũ Ngọc Phan muốn nói tới sự thành thực, mà cũng là sự dũng cảm của ngòi bút tác giả Những ngày thơ ấu, trong việc tự thú, tự bạch. Những tưởng cây bút đã viết nên những trang sách “tân kỳ”, “táo gan” như thế, vượt lên hẳn so với thói quen của người đương thời như thế, hẳn là một con người rất hiện đại, tiếp thu được cái học vấn sâu sắc của Âu Tây, đặc sệt chất thượng lưu quý phái.
Nhưng không, Nguyên Hồng tồn tại trong văn học Việt Nam như một nhà văn có cuộc sống rất gần với các nhân vật của mình, nghĩa là cũng đủ cay đắng cơ cực, như bất cứ cuộc đời dưới đáy nào khác.
Trong số các ý thích lặt vặt mà bạn bè đồng nghiệp bắt gặp ở Nguyên Hồng cho đến lúc già, và thường thích nhắc lại như một kỷ niệm vui vui, có chuyện nhà văn này rất thích bóng đá, có thể hàng giờ đồng hồ ngồi bên chõng tre, nghe chiếc máy thu thanh cà khổ tường thuật một trận bóng đá. Ngẫu nhiên chăng? Có thể. Nhưng nếu nhớ rằng trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng từng kể lúc nhỏ, mình mê đáo ra sao, điệu nghệ trong nghề chơi đáo và đã dùng cái nghề ấy làm một thứ cần câu cơm thế nào, thì người ta có thể nghĩ khác: hình như ông bắt gặp ở nhiều cầu thủ bóng đá hình ảnh của chính mình. Đó là lối lập nghiệp dựa hẳn vào năng khiếu, khả năng từ cuộc sống lam lũ, vỉa hè, góc phố… vươn tới những đỉnh cao vinh quang, được cả xã hội nể trọng. Có điều, giữa Nguyên Hồng với những người chân đất ấy vẫn có một chỗ khác cơ bản: ông không bao giờ trở nên giàu có. Trước 1945, nhóm văn nghệ trưởng giả bậc nhất là Tự Lực văn đoàn đã dang rộng cánh tay để đón nhà văn trẻ này hơn bất cứ ai. Tên tuổi Nguyên Hồng chỉ thật sự nổi tiếng sau khi Bỉ vỏ được Tự lực văn đoàn trao giải thưởng. Một số truyện của ông được đăng lần đầu trên Ngày nay kèm theo lời khen ngợi của Thạch Lam. Và trong lịch sử tồn tại của nhà xuất bản Đời nay, số lần in sách của các nhà văn không thuộc nhóm này chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong đó đã mấy lần dành cho tác giả Bỉ vỏ. Nhưng chỉ có thế! Trên nét lớn khi hình dung lại đời sống lớp lang rõ rệt của văn chương tiền chiến, người ta vẫn thấy Nguyên Hồng thuộc hẳn về cánh Tân Dân, nghĩa là cái khối tạp nhạp gồm nhiều cây bút viết văn viết báo như làm thuê làm mướn để kiếm sống. Từ sau 1945, hoàn cảnh có khác, mà với Nguyên Hồng vẫn có chút gì không khác. Lúc trở thành “ông đốc Hồng”, trông nom trường bồi dưỡng nhà văn trẻ, lúc làm báo, làm xuất bản, lại có chức danh là chủ tịch Hội văn nghệ Hải Phòng, song tâm trí ông vẫn dành cho sáng tác, và vẫn sống lam lũ vất vả như cũ. Từ 1957, giống như một thứ “lưu đày” tự nguyện, ông dẫn gia đình bỏ Hà Nội lui về sống hẳn ở một xóm núi Bắc Giang. Mối nguy hiểm đã đủ sức tiêu diệt nhiều tài năng chân đất là vinh hoa, tiền bạc…, Nguyên Hồng hầu như không bao giờ biết tới. Trước sau, ông vẫn là tù nhân của nghèo khó, hay nói đúng hơn, kẻ sống tự do trong nghèo khó.
Cái chết giống như cuộc sống
Một người chứng kiến cho biết, đám tang Nguyên Hồng giống như đám tang một người cả đời làm nghề nông hơn là một cây bút có nhiều cống hiến cho văn hóa. Sơ sài quá, thanh đạm quá! Người ta muốn kêu lên như vậy, nhưng rồi chợt nghĩ ngay: thật ra, cái chết ấy rất giống cuộc sống của Nguyên Hồng, nó là của ông, không thể khác.
Lại nhớ con người tác giả Bỉ vỏ lúc sinh thời. Hình như tất cả những gì được nhắc tới trong văn Nguyên Hồng đều đã để lại trên con người ông những dấu vết rõ rệt. Dáng người nhỏ thó. Nét mặt trầm ngâm. Giọng nói thất thanh thỉnh thoảng lại bất chợt thảng thốt cất lên vài câu ngớ ngẩn, vì thật ra ông thường xuyên chìm đắm trong thế giới nhân vật của mình. Chỉ hiếm hoi lắm mới thấy trên nét mặt ông thoáng qua một nụ cười, những lúc ấy cả con người ông chợt rạng rỡ hẳn lên, nó gợi lại cho những ai từng đọc ông nhớ tới cái ánh nắng mà ông thường say đắm miêu tả. Với một Nguyên Hồng như thế, đám tang ông là cuộc trở về tự nhiên “thân cát bụi lại trở về cát bụi”, chẳng có gì phải ăn năn cả.

BIỆN HỘ CHO XUÂN TÓC ĐỎ

Trong thực tế giao thiệp ,cũng như khi tiếp xúc với các tác phẩm văn chương , người ta rất dễ quan liêu , tức là mặc sức cho những ấn tượng ban đầu thao túng , từ đó , tạo nên những huyền thoại , kể cả huyền thoại về những con người được xem là tốt , lẫn những con người bị gán cho đủ mọi thói xấu . Và việc lật lại các huyền thoại bao giờ cũng mang trong nó tính chất một cuộc thể nghiệm , cần được trao đổi nghiêm chỉnh .

Sự trùng hợp kỳ lạ

Trong chương mở đầu Số đỏ, Vũ Trọng Phụng có đoạn tả lại cái cảnh Xuân đi xem bói , và khi ông thày bảo khai ngày sinh tháng đẻ , thì nhân vật này — tạm gọi là nó như Vũ Trọng Phụng thường gọi — đáp lại gọn lỏn “ Hai mươi lăm tuổi đấy bố ạ . Tháng mười , ngày rằm , giờ gà lên chuồng “ .Trong cuộc hội thảo vào dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng (10—2002) , nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải có một tham luận (1) phát hiện ra sự liên hệ thú vị : những con số nói trên liên quan đến người đã tác thành ra nhân vật chính của Số đỏ . Tức ngày sinh tháng đẻ của Vũ Trọng Phụng cũng là ngày sinh tháng đẻ của Xuân . Cho đến ngoại hình của tác giả cũng có những nét của nhân vật . Không cần là người thạo tử vi , chỉ theo lẽ thường mà suy, người ta đã có thể nghĩ : giữa nhân vật chính của Số đỏ và tác giả như vậy là có một mối duyên nợ kỳ lạ . Nhân vật không còn là một thứ chúng sinh bình thường , một thứ công cụ để ông trình bày tấn trò đời . Mà phải nói cái anh chàng mà ông thác sinh ra đó có một mối quan hệ riêng với ông , nó là một phần con người cuả ông . Đây là loại nhân vật có lô – gích nội tại , có quy luật phát triển riêng ; sau khi đã đẻ ra nó, nhà văn không thể đứng từ một khoảng cách rất xa để tuỳ tiện điều khiển , mà phải nhập thân vào nó , coi nó như người có thật , tìm hiểu , lắng nghe , đối thoại với nó . Đến lượt mình , người đọc cũng phải có cách nghĩ khác về Xuân . Lâu nay khi bàn về một con người , hoặc nhân vật của một tác phẩm văn học , ở ta có một thói quen là cố tìm cách sắp xếp xem nhân vật hay con người đó thuộc vào dạng tích cực hay tiêu cực , được tác giả đưa biểu dương hay phê phán . Với Xuân , người ta có thêm cơ hội để gắng đi tới một hệ thống phân loại cận nhân tình hơn . Việc tìm ra và xác định rõ cái chất người ở Xuân đòi hỏi một cái nhìn cởi mở , vượt qua mọi thành kiến mà hàng ngày ta không để ý .

Chưa hẳn đã là lưu manh thứ thiệt

Cái danh hiệu “quý hoá” mà nhiều người nghĩ tới và không ngần ngại gán cho Xuân tóc đỏ gói gọn lại trong hai tiếng lưu manh . Theo cách hiểu thông thường , nhân vật lưu manh thường là loại người sống bên lề xã hội ; lưu manh đồng nghĩa với những gì xấu xa : hư hỏng , lừa bịp , dối trá . Như vậy , Xuân bị gán cho những tội vạ nặng nề nhất . Thậm chí có thể nói , trong tâm trí của nhiều người , ngay đến Chí Phèo suốt ngày say khướt và mang mọi người ra chửi , sẵn sàng gây vạ cho cả làng Vũ Đại , xem ra còn có gì đó dễ chấp nhận hơn là Xuân tóc đỏ . Thành kiến này , cố nhiên, có cái lý riêng của nó . Chính tác giả đã sớm tóm tắt cho người đọc biết trước mặt họ là một con người hoàn toàn vô giáo dục ( câu đầy đủ trong nguyên văn như sau : “ Cảnh ngộ tạo nó nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục , tuy nó tinh quái lắm thạo đời lắm “ ) . Đúng là trong suốt cuốn truyện , Xuân có làm vài việc dễ gây phản cảm . Nhưng Xuân không hoàn toàn hư hỏng như người ta thường nhầm và khái quát một cách vội vã . Trong cách ăn nói và trước tiên là cách nghĩ của Xuân không có dấu hiệu của sự hèn mọn , đểu giả (2) . Thứ nữa , một thói xấu thuộc loại khó chấp nhận nhất của lưu manh là lười biếng , không chịu làm việc thì Xuân không mắc . Khi tham gia vào việc phục vụ các bà các cô ở tiệm Âu hoá , cũng như khi trở thành nhân vật của giới thể thao quốc gia , nó chỉ làm những việc mà nó thông thạo và có năng khiếu .(3) Rồi khi ngẫu nhiên tham gia vào việc chữa bệnh cho ông già tám mươi tuổi thân sinh của cụ cố Hồng , nó đâu có tự đứng ra khoác lác , chẳng qua bị giới thiệu là sinh viên trường thuốc với ông đốc thì nhận tràn đi , mà không cải chính , thế thôi ; cũng như cái việc chữa cho ông cụ bằng thuốc thánh xin ở đền Bia , thì đó là do thói quen mà làm , chứ không thể nói Xuân cố tình bịp bợm .
Chung quanh hai chữ lưu manh , cùng lúc tồn tại những cấp độ ý nghĩa khác nhau . Đúng là nói tới lưu manh , người ta nghĩ ngay tới những hành động cụ thể . Nhưng trong sự giao tiếp hàng ngày, lưu manh còn được dùng với nghĩa sâu sắc hơn . Đó là tinh thần khinh rẻ đồng loại , bỏ qua những chuẩn mực thông thường , bất cần , nổi loạn . Đứng đằng sau các hành động lưu manh thường là một triết lý có màu sắc hư vô : Chúa đã chết , chẳng còn có gì là lương tâm thiêng liêng nữa , và cái gì con người ta cũng có quyền làm . Bởi vậy , không chỉ thấy ở dân vô học mà trong nhiều trường hợp , tinh thần bất chấp đạo lý toát ra cả trong hành động cũng như tư tưởng của những người có bằng cấp cẩn thận , và hai tiếng lưu manh hoàn toàn thích hợp để gọi họ . Như trong Hoàng Lê nhất thống chí , một nhân vật là huyện Trang trong cảnh hỗn loạn , công khai làm chuyện động trời là bắt vua lấy thưởng , nhân vật này đã tự giải thích hành động của mình bằng câu “ triết lý” xanh rờn : “ Sợ thày không bằng sợ giặc , yêu chúa không bằng yêu thân “ . Sự bất cần ở đây đã lên đến mức cùng cực , và phải gọi đó là một triết lý lưu manh . So sánh với các nhân vật loại “ có học “ như vậy , thì Xuân của chúng ta chưa đến nỗi . Nó không ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa tới mức đi ngược đạo lý thông thường . Đứng trước cuộc đời , nó còn biết sợ . Còn đây , một sự so sánh khác : trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam , có hẳn một chùm truyện viết riêng về hai nhân vật nổi tiếng là Ba Giai Tú Xuất . Vốn họ cũng là người có được học hành đàng hoàng , thi cử đâu ra đấy , song sống trong một hoàn cảnh ngang trái , cụ thể là hoàn cảnh một xã hội nhố nhăng hỗn loạn ( thuở giao thời khi Việt Nam vừa mới trở thành thuộc địa của người Pháp ) , niềm tin của một trí thức ở Ba Giai cũng như Tú Xuất tan nát hoàn toàn . Họ lao ra đường làm bậy . Gặp ai họ cũng tìm cách trêu chọc thậm chí hạ nhục . Nói như cách nói của những năm đầu thế kỷ XXI này , phải gọi Ba Giai Tú Xuất làm nên một cặp bài trùng , chuyên nghề khủng bố lẻ , cười cợt ngay trên nỗi đau khổ của người khác . Nhân vật ở đây thực đã rơi xuống vũng bùn của thứ chủ nghĩa hư vô ở dạng thấp hèn , trong cơn tuyệt vọng tự cho phép mình tha hồ phá phách . Xuân tóc đỏ xa lạ với những cách cư xử kiểu ấy . Nó không bao giờ làm những việc đáng để gọi là bất nhân bất nghĩa . Ngược lại ,ở nó chỉ có một ám ảnh là làm sao ra khỏi tình trạng khốn quẫn và tìm cho mình “ một chỗ đứng dưới ánh mặt trời “ . Nên biết thêm rằng bản chất lưu manh không chỉ thể hiện ở tình trạng bần cùng hoá về đường vật chất , mà còn bao hàm thái độ khinh miệt đối với trí tuệ và các giá trị tinh thần , kể cả kiến thức và sự uyên bác . Sự khinh miệt này làm cho các nhân vật lưu manh trở nên đối lập hoàn toàn , tức một thứ khắc tinh của những người trí thức chân chính ; sự thắng thế của tư tưởng lưu manh góp phần vào việc huỷ diệt niềm tin nơi các trí thức ấy , làm cho họ không còn tin ở mình , ngấm ngầm khuyến khích họ biến chất , tức cũng chung một triết lý sống với những kẻ vô học càn rỡ , láo lếu . Nhìn lại , thấy những “ ưu điểm” loại này cũng không có chỗ đứng trong tâm trí Xuân . Liều lắm , nó chỉ suồng sã vỗ vai đùa bỡn với đốc tờ Ngôn hoặc Josef Thiết , nhưng dừng lại ở đó , và trong bụng vẫn dành cho họ sự kính trọng , khi cần thì thành thực nhờ họ giúp đỡ .

Một người lập nghiệp

Các nhân vật được xếp vào loại tích cực ( với nghĩa đáng khen đáng noi theo ) trong văn học cổ cũng như văn học hiện đại ở Việt Nam thời kỳ 1932-45 thường là những người yếu đuối , bị chèn ép . Như trường hợp chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố . Trong sự cảm thụ thông thường , nhân vật này thường được xem như có nhiều phẩm chất tích cực , đáng biểu dương ca ngợi . Nhưng hãy thử đọc lại tác phẩm : Nét nổi bật ở chị Dậu là thương chồng thương con . Nghĩa là người đàn bà nông dân này có một đời sống tình cảm thuần phác và đôn hậu . Song , khi chỉ vào đời với những phẩm chất ấy , người ta rất dễ chuốc lấy bất hạnh . Về nhiều phương diện , trong chị Dậu thấy lặp lại cái phần thiếu xót nằm sâu trong tính cách cô Kiều thân thiết của tất cả chúng ta : Họ đều là những người không có được sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh xã hội nói chung , về tình thế của mình nói riêng , do đó trên đường đời nhiều phen rơi vào bị động bất lực . Trong Truyện Kiều , khi gia đình khó khăn thì Kiều chỉ biết có cách khóc lóc rồi sẵn sàng bán mình cứu cha , dấn thân vào cuộc sống phong trần ; cũng như sau này , qua ít ngày theo Từ Hải ngang dọc , Kiều khuyên Từ Hải ra hàng . Còn trong Tắt đèn , hành động khá nhất của chị Dậu là dám túm lấy cổ cai lệ đến thu thuế, ấn dúi hắn ra cửa , tiếp đó túm tóc lẳng cho tên người nhà lý trưởng ngã nhào ra thềm , rồi bị giải lên phủ , cuối cùng phải đi làm vú lấy tiền trả nợ . Nhìn lại các nhân vật được nhiều cảm tình của bạn đọc như Mai trong Nửa chừng xuân của Khái Hưng , cô hàng xén hoặc mẹ Lê trong các truyện ngắn của Thạch Lam , chúng ta cũng thấy những nét tương tự .Dù hiện ra với nhiều tính tốt , như mau mắn , tử tế , nhân hậu , song thật khó lòng nói rằng đó là những nhân cách trưởng thành và đạt tới một triết lý sống chắc chắn . Trong khi khâm phục giá trị đạo đức của họ , đồng thời phải nhận rằng cái tư cách nạn nhân có làm cho họ bé nhỏ đi ít nhiều .
Một loại nhân vật khác cũng gần với Xuân là những Tám Bính , Bảy Hựu … trong các tác phẩm của Nguyên Hồng . Ở đây , các vai lưu manh được miêu tả với đủ chuyện kinh thiên động địa . Chủ ý của Nguyên Hồng là nhấn mạnh rằng ở những con người tưởng như đã tha hoá ấy , cái phần lương tri tốt đẹp vẫn còn . Nhưng cũng chỉ có thế . Nhân vật của Nguyên Hồng chưa ra khỏi thế giới nhỏ hẹp chật chội của lớp người bần cùng . Còn Xuân của Vũ Trọng Phụng thì được ném vào một trường hoạt động mới , để gia nhập vào cái thế giới rộng lớn mà người ta tưởng như chẳng liên quan gì đến nó . Biết mình xuất thân hèn hạ , Xuân không mặc cảm , mà vẫn hồn nhiên tham gia vào những việc có vẻ như rất trọng đại . Và nhất là vẫn giữ được một sự chủ động hiếm có . Đằng sau câu chuyện mê tín ( vốn là một thói xấu dễ tha thứ ) , việc Xuân đi bói hé ra cho thấy một ám ảnh ghê gớm trong lòng nhân vật : Nó muốn có một ngày mai khác với hôm nay . Và nó tin rằng nếu biết cố gắng , thì cái hậu vận tươi sáng đó trước sau sẽ đến . Đây là một nét tâm lý chỉ thấy ở những con người có lòng tự tin mạnh mẽ . Bàn về Chí Phèo như một siêu mẫu , nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cho rằng qua anh Chí , Nam Cao đã thâu tóm được một khát vọng nóng bỏng của con người trong mọi thời đại , đó là khát vọng hoàn lương , khát vọng đổi đời (4) . Trở lại với Số đỏ , có thể thấy cả hai khát vọng đó cũng nằm sâu mãi trong tâm trí Xuân và dần dần được thực hiện . Trong chương XVI , khi dẫn Xuân đi khai tên ở Tổng cục thể thao ( ngày nay gọi là đi đăng ký dự thi ) , Văn Minh đã giúp chúng ta khái quát một chân dung . Chẳng những nhác trông thấy Xuân , Văn Minh đã thầm nghĩ ngay rằng “ ừ cái mặt thằng này thế mà cũng đỡ ma cà bông rồi đây”—, ở đoạn dưới , ông chủ cửa hàng Âu hoá còn nói thẳng với Xuân : “ Từ khi anh về giúp việc cho chúng tôi, là địa vị anh cứ dần dần thay đổi , cho đến bây giờ thì anh đã nghiễm nhiên là một người khác “ . Sự đổi đời không còn là cái ao ước xa vời . Mà với Xuân nó đã trở thành hiện thực ! Có dễ trong văn học Việt nam từ 1945 về trước , ít có nhân vật nào thành công một cách chính đáng như vậy . Để đạt mục đích , đúng là Xuân có gặp may , nhưng sự may mắn đó chỉ đến với những con người có sự chuẩn bị đón nhận . Sự đổi đời ở đây là một kết quả hợp lý , nó là phần thưởng sau bao kiên trì nỗ lực . Cái ý thức “mình cũng có thể như mọi người , thậm chí làm hơn mọi người “ đã ăn sâu vào Xuân để rồi cộng với những nỗ lực thích đáng , tự nó làm nên những cú vượt thoát ngoạn mục .

Một bước phát triển
trong đời sống tinh thần

Để có thể thành công trên đường lập nghiệp , một cá nhân phải có sự trưởng thành trong trình độ làm người . Trên nhiều phương diện , Xuân của Vũ Trọng Phụng đã đáp ứng nhu cầu đó . Nghe ra có vẻ hơi kỳ , nhưng vẫn có thể nói Xuân là một tính cách chắc chắn , ổn định , ít nhất là trên mấy khía cạnh sau đây :
1/ Xuân rất nhạy cảm , nên thường nhận thức rõ tình cảnh mà mình rơi vào và có sự đáp ứng khá hợp lý . Vừa sống , nó vừa nhìn vào những người chung quanh lo học hỏi và tìm cách đáp ứng cái vai trò mà mọi người trông chờ ở mình . Vả chăng , đó không phải là cách thích ứng hèn hạ , thích ứng với bất cứ giá nào đến nỗi tha hoá , tức đánh mất mình. Với cái vẻ “ thạo đời và tinh quái sẵn có “ , dù phải làm gì thì Xuân vẫn là Xuân , nếu như không nói là dần dà nâng được địa vị của mình lên một cách đàng hoàng . Đọc những câu như “ Xuân trầm tư mặc tưởng “ , hoặc “ tự nhiên nó quá đứng đắn , rất có ý tứ “ , mới đầu nhiều người có thể bỏ qua , tưởng chỉ là một câu đùa giỡn của Vũ Trọng Phụng , song những nét chấm phá đó hoàn toàn nhất trí với tính cách Xuân nói chung. Thành thử có thể nói nếu có đùa thì đó là một trò đùa rất nghiêm chỉnh . Và cả cuốn Số đỏ được viết theo kiểu “ đùa rất nghiêm chỉnh “ ấy .
2/ Xuân sống tự trọng . Nhiều lần ta bắt gặp ở nó “cảm giác hổ thẹn “. Hứa với ai điều gì , là nó lo thực hiện . Ai làm ơn cho nó , nó đều nhớ . Có lỗi với ai ( kể cả cái lỗi lớn là chiều ý bà Phó Đoan khi về ở nhà bà ) , nó áy náy không yên và tìm đủ cách chuộc lỗi . Vậy là có một chút gì đó thuộc về lương tâm vẫn còn sống mãi trong lòng Xuân . Chính tác giả cũng đã mấy lần viết những câu tạt ngang đại loại “Vốn là người cũng có lương tâm nó nhận thấy rằng …” hoặc “ Nó hiểu ngay ra nghĩa chữ tín ở đời “ .Với niềm tự tin sẵn có , Xuân sẵn sàng đối mặt với sự thật : Thấy có người nói xấu mình , nó đi hỏi bằng được . Tức là nó muốn tìm tới một sự sòng phẳng , một điều mà người ta hay nghĩ rằng những ai xuất thân hèn hạ và thiếu tự tin không bao giờ có .
3/ Ở Xuân sớm hình thành một thói quen , đúng hơn một định hướng sống khá chính xác : Nó không nhẫn nhục cam chịu sống với cái vị trí mà người ta đẩy nó vào hoặc khép mình theo những chuẩn mực mà xã hội áp đặt cho loại người lưu manh . Những nền nếp cũ không hề có mặt để trói buộc nó . Một cách chủ động , nó dám sống khác với thói thường , miễn thấy đó là phải . Nói cho to tát , tức nó muốn sống theo đúng tầm vóc của con người nói chung. Trong việc này , cái lý lịch “trên không chằng dưới không rễ “ của nhân vật trở nên một điều kiện thuận lợi . Nó dễ dàng tìm cho mình một sự tự do với đúng nghĩa của từ này. Trên đường lập nghiệp , nó không sớm cầu an và dừng lại giữa chừng , mà quyết đoạt được tới hiệu quả cao nhất có thể có . Việc Xuân vươn ra ở trình độ quốc gia ( dù là trên lĩnh vực thể thao ) , cho thấy về căn bản , định hướng sống của nó là đúng .
4/ Một điều kiện nữa giúp Xuân thành công mà cũng là dấu hiệu cho thấy nó đã đạt đến trình độ khá cao trong sự phát triển lý tính , ấy là việc Xuân rất hiểu mình cũng như vị trí của mình trong con mắt mọi người . Có lần tả Xuân cáu , tác giả bảo rằng “ lúc ấy Xuân quên hẳn mình . Nó đã bất tự tri .” . Một lời chê nhỏ như vậy thực ra là một lời khen lớn : Tức là hàng ngày Xuân vẫn tự tri , cái sự tự tri ( tự biết chính mình ) ấy đã thành một bản tính tự nhiên , chỉ thỉnh thoảng nó mới quên . Hãy đọc lại đoạn Văn Minh báo với Xuân cái việc định gả em gái là Tuyết cho nó . Những tưởng đang trong cảnh long đong kiếm sống , vớ được vợ giàu chẳng khác chết đuối vớ được cọc , Xuân phải túm ngay lấy cơ hội . Đằng này không , Xuân lập tức trả lời là mình không dám nhận . Và trước mặt ông anh vợ tương lai, nó nói thẳng rằng mình “không cha không mẹ , lêu lổng từ bé , nhặt ban quần , bán phá sa , đã làm nhiều nghề hèn “ . Nói như các cụ ngày xưa , vậy là Xuân thuộc loại tri kỷ tri bỉ , biết mình biết người ; hoặc theo thuật ngữ của tâm lý học , ở nó có một sự tự ý thức khá đầy đủ . Nó không quên quá khứ, càng không mắc bệnh hoang tưởng . Trong cái năng lực tự ý thức ấy , có mặt cả sự tự tin , tỉnh táo , lẫn sự lương thiện , bấy nhiêu lý do cùng lúc khiến cho người đọc buộc phải nhận rằng mặc dầu thuộc loại ở mãi dưới đáy xã hội nhưng Xuân chưa bị làm hỏng . Chẳng những thế , còn có thể nói nó đã hấp thụ được một trong những cách nghĩ mới mẻ mà xã hội hiện đại vừa mang tới cho con người đương thời . Sự tỉnh táo của Xuân lúc này có thể sánh ngang với Chí Phèo khi Chí cãi lại Bá Kiến “ Không được ! Ai cho tao lương thiện …Tao không thể là người lương thiện nữa . Biết không ! “ mà nhiều người vẫn ca ngợi .

Con người hiện đại , anh là ai ?

Sau khi kể lại tỉ mỉ việc Xuân gia nhập vào xã hội của những bà phó Đoan, Văn Minh , đến chương XIV , Vũ Trọng Phụng để hẳn mấy trang nói riêng về việc Xuân tóc đỏ được mọi người đánh giá ra sao . Điều này không chỉ là nhu cầu của người trong cuộc mà còn là của chính độc giả theo dõi câu chuyện . Thế nhưng rút cuộc Xuân là người thế nào ? Chịu , những người thường xuyên tiếp xúc với Xuân mỗi người một ý , không ai xác định được cho chính xác . Người yêu người ghét , người này thấy Xuân vô tích sự , người khác lại thấy Xuân được việc . “Người chê Xuân vô học , người lại quả quyết rằng về học thức của Xuân thì đã mấy ai bằng “. . Và tác giả chốt lại bằng một câu buông lửng : “ Sau cùng thì không còn một ai biết rõ cái giá trị của Xuân là đáng khinh trọng thế nào nữa “ . Việc một nhân vật trở nên một cái gì người ta không kết luận được như thế này không chỉ khiến cho câu chuyện đọc thêm hấp dẫn , mà suy cho cùng , nó càng chứng tỏ nhân vật có phần vượt khỏi tầm tay của tác giả như phần trên chúng tôi đã lưu ý . Hơn nữa đây cũng chính là một đặc điểm người ta thường thấy ở loại nhân vật hiện đại trong văn học . Những ai có dịp tìm hiểu văn học phương Tây thế kỷ XX hẳn biết nhân vật trong các tiểu thuyết thời nay có sự phát triển khá lạ lùng . Nói chung , không bao giờ họ nằm yên trong những cái khung xã hội mà người đọc quen hình dung . Họ vào đời như dấn thân vào những cuộc phiêu lưu . Dường như mỗi người bị đẩy đi giữa một đám đông hỗn độn và toàn bộ nỗ lực của họ là tìm cách tự khẳng định mình trong sự hỗn độn đó . Có khi họ thấy đời là một cuộc chơi và quá trình chơi thú vị hơn kết quả . Lại có khi họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ điều gì cũng có thể xảy ra đối với mình , cả điều xấu nhất lẫn điều tốt nhất . Khi giả thiết rằng thế giới này là điên rồ và mình cũng chẳng thoát khỏi cơn điên ấy , con người trong tiểu thuyết hiện đại không còn bị ám ảnh quá đáng bởi lương tâm và các vấn đề đạo đức . Đường đời của nhiều nhân vật lúc này phần lớn phụ thuộc vào việc họ tự chế ngự những mặc cảm cuối cùng còn sót lại trong người , để hiện thực hoá cho được những tiềm năng sẵn có . Bảo rằng họ thành công cũng được , thất bại cũng được .
Không cần khiên cưỡng gì lắm , cũng có thể nói rằng người ta dễ dàng tìm thấy một số đặc điểm trên đây trong tính cách và số phận Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng , và chắc chắn là rồi đây , khi cần nghiên cứu kỹ càng đầy đủ hơn vấn đề hiện đại hoá của con người Việt Nam thế kỷ XX , Xuân còn được nhắc tới như một dẫn chứng độc đáo .
Sở dĩ văn học thế kỷ XX đưa ra loại nhân vật nói trên , bởi ngay trong đời sống , những con người loại này đã hình thành , và chính sự đổi khác của đời sống buộc tiểu thuyết phải khác trước thì mới biểu hiện được cái đời sống đã thay đổi đó . “ Nay là thời mà lối viết trữ tình hoặc để cho dốc bầu tâm sự không còn được thịnh hành , và một khi bị mang áp đặt , thì cả những tình cảm tốt cũng dễ bị dị ứng” . “ Những hài kịch phi lý , đó là cách tốt nhất để viết về cái thế giới kỳ cục mà người ta đang sống” . “ Tính hiện đại mang trong nó sự giải phóng cá nhân , sự thế tục hoá toàn bộ những tiêu chuẩn giá trị , sự phân hoá không thể kết hợp của chân thiện mỹ “ — những nhận định loại đó rất dễ gặp trong các tài liệu nghiên cứu viết về phương Tây hiện đại .
Tương tự như vậy , có thể nói sở dĩ Xuân tóc đỏ có thể có mặt và tự do đi về trong kiệt tác của Vũ Trọng Phụng , ấy là bởi chính sự phát triển của hoàn cảnh đã mở ra những tiền đề cho loại nhân vật này phát triển . Từ chỗ là một thực thể cổ lỗ ngưng đọng , xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã trở thành một xã hội hiện đại một cách nhanh chóng đến mức tự nó cũng kinh ngạc về sự biến chuyển của chính mình . Trong lúc chưa thể tự nhận diện một cách chính xác , người ta đành tạm bằng lòng với những giả thiết chung chung , kể cả những nhận thức tưởng là gần đúng mà thực ra là lầm lẫn . Ở chương VII của Số đỏ , tác giả kể khi cụ tổ tám mươi ốm , có một người con ( cũng đã già ) gọi là ông Hai ở nhà quê ra chơi , và Vũ Trọng Phụng không quên nói rằng trong con mắt của ông Hai mọi chuyện lúc bấy giờ thật là kỳ quặc . Quả thật , hai chữ kỳ quặc đã diễn tả chính xác cái ấn tượng mà nhiều người bình thường có được từ cuộc sống và con người ở Hà thành khoảng những năm ba mươi của thế kỷ trước . Bởi suy cho cùng cái nhìn của ông Hai nói ở đây có liên quan tới cái nhìn của những người nông thôn , là nơi mà công cuộc hiện đại hoá chỉ tác động tới một cách hời hợt . Điều quan trọng hơn là cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, đầu XXI , cái nhìn loại này vẫn được nhiều người vô tình lặp lại . Thành thử , những thành kiến kéo dài với một nhân vật như Xuân tóc đỏ từ trước đến nay kể ra cũng là tự nhiên , và chỉ có cơ thay đổi khi tiến trình hiện đại hoá mà Xuân đã sống , đã vùng vẫy để tự khẳng định , được chúng ta nghĩ lại cũng như đánh giá lại ./.

Vương Trí Nhàn

—————-
Chú thích
(1) Một phần tham luận này đã được in trong Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm Vũ Trọng Phụng NXB Văn học 2003 .
(2) Ngay từ 1990 , Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ đã sớm nhận xét “ Xuân tóc đỏ thực sự không chơi đểu với ai cả , chẳng qua những người chung quanh nhầm hoặc lợi dụng y “ . Bài viết in trong Vũ Trọng Phụng , tài năng và sự thật , NXB Văn học 1998 , tr 110 .
(3) Khi sửa chữa lại bài trên và cho nó một cái tên khác là Dị ứng với cái rởm một phương diện của trào phúng Vũ Trọng Phụng ( in trong Bản sắc hiện đại … , sđd , tr 91 ) Hoàng Ngọc Hiến nhận xét : “ Xuân là sinh viên trường thuốc rởm là”thượng lưu trí thức “ rởm , là thi sĩ rởm … nhưng năng lực đánh quần vợt của Xuân là tài năng thực , hơn nữa một tài năng xuất chúng “
(4) Khả năng tái sinh của Chí Phèo , bài viết này có in lại trong Nam Cao, con người và tác phẩm , NXB Hội nhà văn ,2000, tr 283 .

BƯỚC ĐI TỰ PHÁT Ở MỘT NGÒI BÚT GHI CHÉP LỊCH SỬ

Ấn tượng sâu sắc nhất mà có lẽ tất cả bạn đọc đều chia sẻ khi đọc Số đỏ, ấy là cái sự nhố nhăng nhảm nhí của đời sống được nhà văn phác hoạ theo lối châm biếm . Nói như Lưu Trọng Lư , ngòi bút Vũ Trọng Phụng đã “ chế nhạo tất cả những cái rởm cái xấu cái bần tiện cái đồi bại của một hạng người một thời đại “ . Hiện đại ở đây đồng nghĩa với sự tàn phá nhân cách , làm hỏng con người. Hiện đại là một bước đi không thể chấp nhận được .Thế nhưng liệu đã có thể nói đó là tất cả cái cuộc sống trên đường hiện đại hoá được nói tới trong tác phẩm Số đỏ ? Có phải xã hội đương thời chỉ có tàn lụi mục nát vô phương cứu vãn hay thực ra nó đang vận động theo một phương hướng đầy triển vọng và chính ngòi bút Vũ Trọng Phụng cũng đã tham gia vào việc ghi chép lại cái quá trình đổi khác đó — một việc chắc chắn là chính ông cũng không ngờ tới ?

Hiện đại hoá là gì và ý nghĩa lịch sử của nó
Đặt xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX trong toàn bộ sự vận động chung của lích sử dân tộc , chúng ta thấy nó là một bước rẽ ngoặt mà nội dung căn bản là hình thành nên một xã hội kiểu mới khác hẳn xã hội VN từ đó về trước . Trong cả sử học lẫn các bộ môn khác của khoa học xã hội , trong đó có lịch sử văn học , người ta thường gọi đó là quá trình hiện đại hoá .
Trong một bài viết mang tên Tìm nghĩa khái niệm hiện đại (có in trong sách Nhìn lại một thế kỷ văn học , NXB Chính trị quốc gia , H.2002 ) chúng tôi đã có dịp trình bày cách hiểu về quá trình này ,dưới đây là mấy nét tóm tắt :
— Đó là sự chuyển biến từ kiểu xã hội phong kiến trung đại sang một xã hội công nghiệp hoá , có đô thị phát triển . Bắt đầu từ cơ sở kinh tế , cuộc chuyển biến này kéo theo hàng loạt biến động , nhiều quan niệm của con người về bản thân mình cũng như về thế giới có thay đổi . Đồng thời với sự trưởng thành của ý thức xã hội thì con người cá nhân trong họ cũng được giải phóng .
— Bởi đây là sự chuyển biến từ một xã hội theo kiểu phương Đông sang một xã hội xây dựng theo mẫu hình phương Tây lúc ấy , nên người ta còn gọi nó là Âu hoá . Thực chất của hiện đại hoá trong điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XX chính là Â. u hoá . Không chỉ ở VN mà ở Trung quốc và ở nhiều nước châu Á khác , hiện đại hoá đều được sử dụng với nghĩa cụ thể như vậy . ( Còn tới cuối thế kỷ XX nó vẫn được dùng nhưng có hàm nghĩa mới thì đó lại là chuyện khác . )
— Muốn hay không muốn cũng phải xem đây là một bước tiến bộ . Tính đến hoàn cảnh đương thời , thì đây là công thức duy nhất có thể đưa xã hội ra khỏi điểm chết mà sự vận động của lịch sử trước đó đẩy tới . Không phải hiện đại hoá hoàn toàn đối lập lại quyền lợi chính đáng của dân tộc . Ngược lại , chính trong hoàn cảnh hiện đại hoá mà ý thức dân tộc ,vốn có từ trong quá khứ , bắt đầu mang một nội dung mới thích hợp hơn do đó trở nên hoàn thiện và có sức thúc đẩy lịch sử tiến tới . Đặc biệt với công cuộc công nghiệp hoá , ý thức dân chủ có dịp nảy nở mạnh mẽ .
Một trong những tư tưởng cơ bản được trình bày trong Văn minh tân học sách của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục ( tổ chức tập hợp những bậc trí giả thức thời hồi đầu thế kỷ XX ) , đó là tình trạng lạc hậu cổ hủ của xã hội VN trước khi tiếp xúc với văn minh Tây phương . Đến một nhà yêu nước như Phan Chu Trinh thì tư tưởng đó là cả một ám ảnh . Theo Phan Chu Trinh , sự lạc hậu nếu không được nhận thức và được khắc phục thì mọi nỗ lực dành lại độc lập đều vô nghĩa . Trong Thư gửi chính phủ Pháp ,ông viết “Nước Nam đã lâu nay học thuyết sai lầm , phong tục hư hỏng , không có liêm sỉ ,không có kiến thức .. Trong một làng một ấp cũng cấu xé lẫn nhau , cùng nòi cùng giống vẫn coi nhau như thù hằn ; có dẫu ai có muốn lo toan việc lớn ,chưa kể rằng không có chỗ mà nương thân , không có khí giới mà dùng , không có tiền của mà tiêu , giá phỏng Chính phủ ( đây là chính phủ thực dân Pháp — VTN chú ) cho mượn dăm nghìn khẩu súng , cấp đất vài tỉnh cho ở , không thèm hỏi đến ,tha hồ muốn làm gì thì làm , chẳng qua vài năm nếu không báo thù lẫn nhau thì cũng tranh giành địa vị với nhau , nếu không cướp đoạt tiền tài thì cũng giành giật tước vị, tự chém gết nhau đến chết hết mới thôi (….) ” ( 1)
Có thể nói sự sáng suốt của những người vừa yêu nước thương nòi vừa nhìn xa trông rộng và có tư tưởng canh tân xã hội trên đây đã có sức chi phối đối với sự phát triển của xã hội VN mà quá trình hiện đại hoá nói ở đây là bằng chứng . Dù công cuộc hiện đại hoá đó tiến hành dưới sự kiểm soát của bộ máy thực dân , song vẫn phải ghi nhận một sự thật dẫu sao quá trình đó đã xảy ra . Không có quá trình hiện đại hoá này thì không có xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX như chúng ta đã thấy , không những không có đô thị , nhà trường kiểu mới , đường sắt , bưu điện , báo chí …, mà cũng không có sự tiếp xúc bình thường giữa VN và thế giới . Nói cho hết lẽ , phải thấy không có quá trình hiện đại hoá thì không có luôn cả sự phân hoá giai cấp như các nhà nghiên cứu lịch sử thường phân tích , không có giai cấp công nhân và một bộ phận trí thức kiểu mới , không có sự du nhập của ý thức hệ Mác Lê- nin , dẫn đến những biến động có tính chất bước ngoặt từ sau Tháng Tám 1945 .

Hiện đại hoá đã tự phát có mặt trong tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng như thế nào ?
Hãy bắt đầu bằng một chi tiết nhỏ trong chương II của Số đỏ , cái đoạn tả cảnh xảy ra tại một bóp cảnh sát khi một viên quản ngồi than thở sự đời với một thày cảnh sát dưới quyền , thày min đơ ( 1002) :
—Thày có tiếc cái thời buổi ngày xưa ,cách đây mười năm không ?
— Tiếc lắm ! Mười năm trước đây, dân ta còn ngu ..
— Ngày nay dân ta văn minh mất rổi rõ thảm hại ! Thày phải biết là xưa kia , xã hội tinh nhứng du côn với nặc nô , tinh những người bất lịch sự chỗ nào cũng phóng uế ,cũng đánh nhau . Hồi ấy có khi bốn người ngồi một xe ! Họ chửi nhau hàng nửa giờ ,đánh nhau vỡ đầu, nhà cửa của họ thì rác rưởi , nước cống nước rãnh tung toé ,ngập lụt . Chó của họ cũng chạy ra ngoài đường nhông nhông… Xe đi đèo , hay không đèn là nhan nhản . Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả .
…..
Điều bất ngờ là ở chỗ đằng sau câu chuyện mà tác giả thuật lại để chế giễu tự nó có một ý nghĩa khác .Không gì khác ,cái thời buổi ngày xưa mà hai nhân vật nói ở đây chính là xã hội VN trước hiện đại hoá ,với một nếp sống phải nói là lạc hậu và chẳng có gì là đáng ước ao , nếu không nói rằng đáng từ bỏ . Còn thay thế nó lại là xã hội nền nếp quy củ . Và sự thay đổi mà các viên cảnh sát than phiền là hỏng là đáng chê trách thì theo lương tri thông thường , lại là một sự thay đổi theo hướng tiến bộ hợp với tinh thần của nhân văn và đạo lý .
Nếu tiếp tục khảo sát tác phẩm theo hướng này , người ta sẽ thấy Số đỏ vô hình trung đã phác hoạ một khuôn mặt khác của xã hội trong một giai đoạn lịch sử có những đảo lộn hàng trăm năm chưa từng có . Từ đầu thế kỷ XX trong lòng xã hội phong kiến ,những nhân tố của một xã hội theo kiểu phương Tây đã nảy sinh và tới những năm ba mươi có thể nói cái nền nếp mới ấy đã trở nên ổn định thay cho nền nếp xưa “thế là hết nhẵn nhụi “ . Đóng vai trò đầu tàu cho lịch sử là những đô thị mới vừa hình thành . Trong kiến trúc trong đường xá cầu cống trong kiểu ăn ở đi lại .. của con người , chúng khác hẳn so với cái gọi là đô thị thời trung đại . Phân công lao động trong xã hội đã khá cao , nhiều nghề mới nảy sinh , không phải chỉ có me tây đĩ điếm như nhiều người thích bêu riếu , mà quan trọng hơn có người đi du học , có luật sư bác sĩ , có các loại cửa hàng và khách sạn đầy đủ tiện nghi , có cả các loại sân thể thao được xây riêng trong từng gia đình và thày dạy đánh quần vợt . Đặc biệt ý thức công cộng của mỗi thành viên trong xã hội được nâng lên một bước . Đằng sau cái câu nói đơn sơ “Lúc này đến cả thằng phu xe cũng biết luật “ là một sự thật : xã hội đã vượt qua giai đoạn tự phát mạnh ai nấy sống . Làm gì người ta cũng phải chú ý xem phản ứng xã hội với mình là như thế nào . Báo chí có mặt ở mọi nơi mọi chỗ.
Cũng nên lưu ý thêm là theo sự miêu tả của tác giả thì Xuân tóc đỏ có lúc ăn vận theo kiểu hề Charlot để gây chú ý , cũng như ông Joseph Thiết có nhắc đến Léon Daudet — họ là những nhân vật nổi tiếng mà xã hội VN thời thuộc địa có biết và tên tuổi thường xuất hiện trên mặt báo ; ấy là không kể có cả một buổi hội thảo không chính thức về học thuyết của Freud ( đoạn đầu chương XIII ) . Những mẫu hình của văn hoá hịên đại đã xuất hiện để thay thế cho những khuôn vàng thước ngọc dẫn lại từ thời Nghiêu Thuấn mà mọi người đều đã ngán đến tận cổ !
Ở trên chúng ta đã nói rằng con người trong Số đỏ hiện ra với nhiều nét khó coi ,ồn ào học đòi , tham lam dâm đãng . Song suy cho cùng những thói xấu ấy vẫn là bề ngoài . Nếu không xem các tiêu chuẩn đạo đức vốn có từ thời phong kiến là bất biến mà xét kỹ cái trình độ sống của con người , nhất là văn hoá chung sống của những con người đó , cái ý thức của họ về sự tiến bộ chung của xã hội , chúng ta thấy gì ? Rõ ràng , đặt bên cạnh những con người đơn giản , sống cầm chừng , chậm rãi rời rạc của xã hội trung đại , thì con người lúc này luôn hiện ra với vẻ gấp gáp linh hoạt , sẵn sàng thích ứng với mọi biến chuyển lúc nào cũng có thể xảy ra. Mọi người , từ Xuân đến bà phó Đoan, từ vợ chồng Văn Minh đến ông TYPN (Tipphờnờ ) … và cả mấy người già như cụ cố Hồng đều có ý thức về cuộc đời mà họ đang sống , muốn sống theo những tiêu chuẩn mới mẻ mà họ tin tưởng chứ không phải thế nào cũng được muốn đến đâu thì đến .
Đây là lời bà Văn Minh giảng giải cho một khách hàng về ý nghĩa của cửa hàng Âu hoá do hai vợ chồng bà ta chủ trương :
— Thưa bà chúng tôi chỉ tiến theo luật tiến hoá chung của xã hội . Giữa buổi canh tân này cái gì là bảo thủ thì bị đào thải đi . Bà có biết rằng từ khi chúng tôi mở cửa hiệu này ra thì đã bao nhiêu người vợ được cứu vớt ,tìm thấy lòng yêu của chồng , lại được hưởng hạnh hạnh phúc gia đình rồi đó không ?
Còn đây , cái quan niệm về ăn mặc mà cửa hàng của bà ta noi theo :
— Thưa bà ,những nguyên tắc về y phục đã thay đổi . Chúng tôi mà có chế ra kiểu này cũng là vì theo cái quan niệm y phục của các nhà thợ may lớn ở Tây phương . Quần áo để tô điểm ,đẻ làm tăng sắc đẹp chứ không phải để che đậy …
Đặt trong mạch chung của tác phẩm thì đây có vẻ như lời lẽ mòn sáo của một kẻ học đòi . Nhưng thử tách nó ra như một văn bản độc lập , chúng ta thấy đây là những ý tưởng nghiêm chỉnh ( một số điều đến nay chúng ta cũng đang áp dụng ) . Con người bấy giờ đặc biệt có ý thức về một cuộc sống khác với những gì họ sẵn có chứ không một chiều nệ cổ . Họ đã nhìn rộng ra cả thế giới chứ không chỉ chăm chăm quay đầu về cái sân nhà mình hoặc cái làng con con của mình . Họ lại đã có được ý thức đúng đắn về thời gian và mối quan hệ giữa thời gian và bản thân mình . “Nó cảm thấy đời nó từ nay mà đi dễ thường đã vào một kỷ nguyên mới .” — Không nên một chiều cười giễu cái câu tự nhủ ấy của Xuân tóc đỏ , ngược lại nên ghi nhận ở nhân vật cả cái ý chí lập nghiệp lẫn một sự tiên cảm chính xác về tương lai .
Số đỏ kết thúc bằng việc Xuân nhường chức vô địch quần vợt cho đối thủ người Xiêm La . Câu chuyện có vẻ hoàn toàn bịa đặt song đằng sau nó cần phải ghi nhận một điều : một cá nhân như Xuân đã biết làm chủ hành động của mình , và sự tính toán ở đây chẳng những là hợp thời mà còn là khôn ngoan .
Trong khi làm lại cuộc sống , cố nhiên ,trong tiềm thức , con người VN nửa đầu thế kỷ XX tự hiểu rằng mình có một quá khứ hết sức nặng nề . Trên mọi phương diện , họ đều nhận ra một sự đối đầu giữa cũ và mới , giữa lối cổ và lối kim . Nếu như thường xuyên chúng ta bắt gặp ở họ cái vẻ huyênh hoang thì chẳng qua cũng chỉ là một cách nói to lên những điều lớn lao để tự động viên mình . Sự thay đổi quá nhanh không khỏi dẫn tới những sự vội vã ép uổng , những nét kệch cỡm , nhưng không phải vì thế mà đáng sổ toẹt tất cả .

Có hai con người trong một Vũ Trọng Phụng
Âu hoá không chỉ là tên gọi của cái cửa hàng thợ may nơi nhân vật Xuân trong Số đỏ đến học việc và bắt đầu một cuộc tiến thân . Âu hoá cũng chính là nội dung của quá trình chuyển biến của cái xã hội nho nhỏ mà tất cả các nhân vật của cuốn tiểu thuyết này — từ những nhà cải cách xã hội như vợ chồng Văn Minh , các trí thức như ông Josef Thiết ,ông đốc tờ Trực Ngôn … đến lớp người mạt hạng như Xuân cùng mấy ông thày bói mấy cô bán hàng mấy chị vú em — bị cuốn hút theo .
Suy rộng ra , dễ ước đoán là qua cuốn tiểu thuyết , tác giả muốn làm một cuộc tổng kết cơ bản , khái quát cả quá trình chuyển biến của xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX .
Đã rõ là có hai tầng hiện thực khác nhau được ghi nhận trong các trang sách của nhà văn họ Vũ : một đằng là cái đời sống ở cái vẻ nó đập ngay vào mắt mọi người ; và một đằng nữa là cái đời sống ở bề sâu , cái phần ẩn giấu và chỉ bộc lộ ra một cách tự phát , người đọc cũng dễ bỏ qua .
Thái độ của tác giả với hai mảng hiện thực ấy cũng khác nhau rõ rệt . Có vẻ như với Vũ Trọng Phụng , cái phần xấu xa của đời sống đương thời là đáng quan tâm hơn cả . Ông tố cáo . Ông lên án . Toàn bộ kiệt tác Số đỏ của ông được xây dựng trên cảm hứng phê phán đó . Ngược lại ,cái mảng hiện thực thứ hai có vẻ nằm ngoài ý thức của ông . Ông chỉ nhân tiện mà nói tới . Sự chểnh mảng của ông với cái phần đời sống này rõ rệt đến mức mà người ta chỉ nắm được nó bằng cách tách sự việc đứng riêng ra , để chúng độc lập bên cạnh cái nhìn của các nhân vật vốn là nhân vật phản diện , thậm chí độc lập với tác giả .
Có điều không phải vì thế mà nó cái đời sống ở bề sâu ấy không hiện ra một cách rõ rệt . Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả . Một câu như vậy quả đã thâu tóm được quá trình biến đổi của xã hội , và ở chỗ này có thể bảo Vũ Trọng Phụng là một người chép sử trung thành , mặc dù ông không có ý thức đầy đủ khi làm công việc ghi chép quan trọng ấy .
Đọc các nhà văn cổ điển cỡ như Balzac , người ta đã được chứng kiến không ít trường hợp trong con người nhà văn có sự đối lập , trong khi thái độ ông ta đối với thực tế thế này thì bức tranh xã hội được ông vẽ ra lại có ý nghĩa khác hẳn .
Trường hợp Vũ Trọng Phụng ở đây cũng có gì na ná như vậy .

Thử giải thích cái nhìn và thái độ của Vũ Trọng Phụng :
yếu tố chủ quan …
Các nhà viết tiểu sử đã sớm ghi nhận Vũ Trọng Phụng thuộc loại dân nghèo mới từ bỏ làng quê để nhập tịch vào đô thị . Nhưng lên với Hà Nội ông và gia đình vẫn sống rất thanh bạch . Thay cho cái nghèo chân chất của người nông dân là cái nghèo nhếch nhác luộm thuộm của đám người nằm ở dưới đáy của Hà Nội băm sáu phố phường .
Có những người nghèo song cam phận , nhẫn nhục ,có cái nhìn nhân hậu đối với sự đời , song lại có những người do nghèo mà sinh ra cay nghiệt hằn học chỉ muốn đập phá hết cả . Vũ Trọng Phụng chính là thuộc típ người thứ hai .Dù đã nhọc lòng đi tìm sự thay đổi , song ông và những người như ông vẫn không tìm thấy miền đất hứa để có thể tạm bằng lòng với số phận mà sống trong thanh thản . Bởi vậy , ông nhìn mọi biến thiên xảy ra trong xã hội như là những chuyện vô lý . Sự đối mặt thường xuyên với mọi loại sa ngã hư hỏng bất công giả dối khiến ông đớn đau căm uất .
Nói cách khác , nhà văn thân yêu của chúng ta không thoát khỏi mình để có một cách nhìn khách quan với xã hội và xem tiến bộ xã hội như một tiêu chuẩn đánh giá đời sống . Khách quan mà xét , phải nói rằng ông bảo thủ , cố chấp . (2)
Qua các hồi ức của những người quen biết riêng với Vũ Trọng Phụng , từ lâu người ta đã biết rằng tác giả Số đỏ là một người , trong sinh hoạt hàng ngày , có nhiều phần nệ cổ chứ không mô-đéc như những người bạn của ông ( mà Nguyễn Tuân là một ví dụ ) .Tới đây chúng ta lại thấy ông nệ cổ cả trong cách nhìn đời nói chung. Từ sự bảo thủ trong quan niệm đạo đức tới bảo thủ trong quan niệm xã hội , kể ra cũng là một bước đi tự nhiên , không thế thì mới là chuyện lạ .

….. và yếu tố khách quan
Đặc điểm của hiện đại hoá ở VN là nó diễn ra không bình thường . Nó không nảy sinh như một sự phát triển nội tại mà là từ bên ngoài ấn vào . Mà yếu tố bên ngoài đây lại là nước Pháp thực dân , lúc đó đang đóng vai trò của một thế lực đi xâm lược . Một thời gian dài, với người Việt Nam , chấp nhận hiện đại hoá tức là chấp nhận hành động đồng hoá của bọn xâm lược . Điều đó trái với tinh thần quật cường chỗng ngoại xâm ( bằng bất cứ giá nào đẩy các thế lực ngoại nhập ra khỏi đất nước ) đã thành một truyền thống của lịch sử dân tộc .
Chẳng những thế , trong thực tế , công cuộc hiện đại hoá diễn ra trong máu và nước mắt . Xã hội VN cuối thế kỷ XIX đã quá trì trệ và con người quen lặn ngụp trong sự lạc hậu rất ngại thay đổi . Đổi mới đối với họ thường khi là một việc làm quá sức .
Bởi vậy ( kết hợp cả hai yếu tố trên ) , người ta không ngạc nhiên nhận thấy rằng ngay từ khi mới bắt đầu , hiện đại hoá đã không được người VN tiếp nhận một cách tích cực . Kẻ biết nhìn ra ý nghĩa tiến bộ của nó rất ít . Trong lòng mọi người , sự ngại ngần trở đi trở lại . Đủ thứ áo khoác mỹ miều được lôi ra sử dụng để che đậy cho sự thù ghét và sợ hãi cái mới . Đọc lại văn học VN đầu thế kỷ XX, người ta thấy với Tú Xương rồi Tản Đà tiếp đó là các nhà văn xuôi như Trọng Khiêm , Đặng Trần Phất …. , hiện đại hoá đều được miêu tả như một quá trình gây ra đau khổ cho con người . Tiếp đó , nhiều ngòi bút cùng thời với Vũ Trọng Phụng , những Nguyễn Công Hoan , Lan Khai, Nguyên Hồng ,Nam Cao … đều miêu tả đời sống theo cái cách ít nhiều lên án hiện đại hoá . Sự bảo thủ mà trên đây chúng tôi nói ở Vũ Trọng Phụng suy cho cùng cũng là nét bảo thủ của khá nhiều người, kể cả những người thuộc diện tinh hoa của xã hội . Thậm chí còn có thể nói nó là một thứ vô thức tập thể đang chi phối cách nghĩ một thời .Trong trường hợp này , các nhà văn thực sự chỉ là công cụ của lịch sử .

* * *
Chẳng những sinh thời Vũ Trọng Phụng , quá trình hiện đại hoá xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX được một số người xem là có ý nghĩa tiêu cực mà ở nhiều thế hệ tiếp theo , cho đến ngày hôm nay của chúng ta , lối nhìn nhận đó vẫn đóng vai trò chủ đạo . Có lẽ chính vì thế mà khi tiếp xúc với các tác phẩm ra đời trong thời kỳ này , người ta thường chỉ đọc ra cái phần có ý nghĩa phê phán , còn như cái phần mà ngòi bút chép sử của các nhà văn đã hoạt động một cách tự phát — như trong trường hợp của Vũ Trọng Phụng với Số đỏ – thì lại bị đẩy vào bóng tối quên lãng . Về phần mình , chúng tôi cho rằng nếu nhìn nhận về hiện đại hoá như trong bài này và trong một số bài viết trước đây chúng tôi đã thử đề nghị , thì ngay với Vũ Trọng Phụng người ta đã có thể đi tới những kết luận khác hẳn . Trong khi có vẻ làm giảm hào quang ở ngòi bút nhà văn họ Vũ do chỗ bộc lộ ở ông một ít yếu tố bảo thủ —, thì đồng thời cách nhìn nhận và đánh giá này làm cho ông , trước mắt chúng ta , trở nên sâu sắc hơn và những trang văn của ông cũng trở nên nhiều tầng nhiều lớp phong phú hơn . Dù không cố ý , song nhà văn này đã làm được cái thiên chức mà các nhà văn lớn của một thời đại thường được giao phó , đó là phản ánh được một phần , theo cái cách riêng của mình , những phương diện cơ bản cùng là cái xu thế phát triển của thời đại ( xin hiểu thời đại nói ở đây là khái niệm thời đại lớn mà nhà nghiên cứu văn học người Nga đồng thời là nhà triết học M.M. Bakhtin đề nghị ) . Riêng đối với con người VN hôm nay , trong một giai đoạn mới của công việc hiện đại hoá — trường hợp của Vũ Trọng Phụng vẫn đang là một bài học , ít nhất thì nó cũng có thể giúp chúng ta tham khảo rút kinh nghiệm để có được một cách nhìn đúng đắn đối với mọi biến thiên đang xảy ra trước mắt , phân biệt được những biểu hiện bề mặt vốn nhiều rác rưởi và cái xu thế lớn của lịch sử ./.

——————————-
Chú thích
(1 ) Dẫn theo Tuyển tập Phan Chu Trinh ,Nguyễn Văn Dương biên soạn ,NXB Đà Nẵng 1995 , các tr 352 , 353 .
( 2 ) Thực ra đọc lại đoạn đối thoại giữa thày quản và viên cảnh sát ở tr. 21-22 thì thấy những điều mà họ nói về thời đại trước Âu hoá tự nó với nhứng người có lương tri bình thường đã thành một sự phê phán , và lời than tiếc cuối cùng của họ rằng ” Cái thời tốt đẹp của các cụ nhà ta không còn nữa “cất lên có chút gì đó ngớ ngẩn và giống như một sự mai mỉa . Trong thực tế người đời dù có cổ hủ đến mấy chắc cũng không ai ăn nói như vậy . Có lẽ nên giả thiết thêm là trong sự lẫn lộn giữa đùa và thực , ngòi bút nhà văn đã có phần sa đà hơi quá ? Hay là ý thức bảo thủ đã vào sâu trong Vũ Trọng Phụng tới mức nó khiến ông bất chấp cả mọi lô-gích thông thường ?

VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ MỘT LỚP NGƯỜI THÀNH THỊ MỘT NỀN VĂN CHƯƠNG ĐÔ THỊ

Nhìn vào tấm ảnh Vũ Trọng Phụng còn sót lại và in ở tập I của Tuyển tập Vũ Trọng Phụng hôm nay, khó lòng có ai nghĩ rằng con người đó mất đi khi mới 27 tuổi.
Cái gì là thần thái chính hiện lên trên khuôn mặt đó? Một chút chán chường hoài nghi về thế thái nhân sinh toát ra sau cặp mắt mệt mỏi. Mà cái nhìn chậm rãi pha chút mệt mỏi ở đây lại như một điều cả quyết – không, sự chán chường của tôi là không thể nào cứu vãn được. Nó là kết luận tôi buộc phải rút ra từ cả cuộc sống sôi nổi với cái thế “day tay mắm miệng” quyết liệt của mình. Tôi đã định từ chối mà không sao từ chối nổi. Vậy tôi bằng lòng chấp nhận nó. Sống ngắn ngủi thế cũng đã đủ rồi. Ra đi không có gì phải nuối tiếc nữa. Dẫu sao cũng còn hơn chán vạn kiếp sống thiểu lực nhạt nhẽo khác.
Và Vũ Trọng Phụng đã toại nguyện.
Từ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng người ta cũng bắt gặp một cái nhìn cuộc sống tương tự như vậy – một cái nhìn đã ổn định, đã vững vàng, đã đủ cay đắng chua xót, cả hăm hở lẫn chán chường rồi, nên cũng coi như đã trọn vẹn và tất cả là không thể sửa chữa được nữa.
Một điều người ta thường ngạc nhiên mỗi khi nghĩ tới những trang văn của Vũ Trọng Phụng là sao con người này có thể biết nhiều đến thế. Chữ từng trải đối với ông hình như không hợp, phải nói là ông biết lắng nghe, biết tổng hợp, biết từ một cuộc sống hữu hạn của mình thu góp lấy tinh hoa của bao cuộc sống khác, nên mới có sự thông thuộc, sự thành thạo đối với nhiều mảng sống khác nhau vậy. Từ lễ phát chẩn đông hàng ngàn người trước cổng một nhà triệu phú đến một buổi tối sáng trăng, mấy người nhà quê ngồi bóc lạc luộc gẫu chuyện; từ những đám bạc, những đám hút xách, cảnh chơi bời của đám nhà giàu và công chức Hà thành, tới một buổi việc làng, một bữa cơm chạy lụt… tất cả bấy nhiêu khung cảnh, sự việc rồi là lời lẽ của con người, những chi tiết trong trang phục, thoáng lo lắng chợt hiện ra trong tâm tư một bà mẹ già… hầu như cái gì Vũ Trọng Phụng cũng biết, cũng mô tả một cách rành mạch. Stéfan Zweig nói rằng trong Balzac “có cả một thời đại, cả một vũ trụ, cả một thế hệ”. Đôi lúc đọc những Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây, Số đỏ, Giông tố… người đọc bất chợt nghĩ rằng cũng có thể nói về Vũ Trọng Phụng bằng một câu tương tự.
Ta sẽ ngạc nhiên hơn, nếu như nhớ rằng mặc dù trải rộng ra như vậy nhưng cũng như ở nhiều nhà văn lớn, thế giới của Vũ Trọng Phụng là một thế giới định hướng rõ rệt. Tác giả biết nhuộm cho cái nhân gian do ông vẽ ra một sắc thái chỉ riêng ông có. Trong khi chiếm lĩnh khách quan, văn chương của ông vẫn chủ quan đến từng chi tiết. Dù viết về cái gì ông cũng tìm ra được lý do để mang được cách giải thích nhân sinh của mình vào đó, và tạo ra đủ cớ để cho người ta phê phán ông là định mệnh, cay nghiệt, hoài nghi, và cả khiêu dâm nữa.
Dù viết về cái gì, ông cũng để lại dấu ấn con người mình, cách nghĩ mình, cả tính mình. Từ các trang sách, ông mỉm cười với hậu thế:
– Tôi là thế đấy. Tôi độc đáo và không lặp lại như một hiện tượng thiên nhiên. Tôi luôn luôn mời gọi người tới lý giải!
*
Nghị Hách và Xuân Tóc Đỏ, ông đồ Uẩn và cụ Cố Hồng, người tù chính trị được tha có tên là giáo Minh và ông già Hải Vân hành tung bí mật dám làm đủ chuyện ám muội. Rồi bà Phó Đoan, thị Mịch, Tuyết, Loan, cụ Cử, chị Tuất v.v… và v.v… Thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng khá đông và thuộc nhiều giới khác nhau. Khi được nâng lên đến mức điển hình, một số người trong họ là tài liệu quý, giúp đỡ đắc lực cho những ai muốn nghiên cứu về xã hội hoặc tìm hiểu tài nghệ ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Nhưng còn như để hiểu tâm sự người viết, cái phức tạp đa đoan của chính tác giả, thì có những nhân vật chỉ đóng vai phụ, hoặc có vẻ không tiêu biểu gì, thật ra lại là một thứ chìa khoá khá tốt, mà người nghiên cứu không có quyền xao nhãng.
ý chúng tôi muốn nói tới nhân vật Long trong Giông tố.
Vốn có một cuộc sống cơ cực, tủi nhục (đặc biệt về mặt tinh thần), lại tiếp thu được một ít kiến thức, và có lúc có cả triết lý nữa, nhân vật này giống như một thứ chất hỗn hợp. Chỉ có điều đáng tiếc là quá trình hỗn hợp ở đó đang dang dở, chưa hoàn thành. Khi lăn lộn ở “dưới đáy” xã hội, Long không tiếp thu được phần khoẻ mạnh của cuộc sống lao động. Còn như sự học của Long thì cũng nửa vời chắp vá nốt. Bởi vậy, càng có dịp tiếp xúc rộng – nay ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành, mai xuống Cảng, ngày kia ra ngõ Sầm Công… – Long càng chán chường, hoang mang, không tìm ra cuộc đời với cái nghĩa lý thật của nó.
“ – Thưa ông, hiện nay tôi có một điều khổ tâm không thể tả được. Tôi khổ lắm, tôi giận thân, giận đời lắm, tôi muốn liều lĩnh làm một điều gì xằng bậy, một điều gì càn dở, chỉ cốt được hả giận mà thôi (…)
– Tư tưởng phá hoại lạ.
– Vâng, chính thế. Tôi chỉ muốn được khổ sở cho nó bõ một thể.
– Ông Long, ông điên mất rồi.
– Thưa ông, chẳng phải tôi không biết như thế là điên đâu. Nhưng không hiểu vì sao tôi muốn điên lắm, không thì không chịu được nữa. Trời ơi, nếu ông có là tôi, thì ông mới hiểu được những nỗi đau đớn của tôi”
Nội dung cả đoạn đối đáp rõ, riêng câu cuối cùng của Long có một ý nghĩa đặc biệt. Nó hé ra cho thấy rằng ở Long cái ý thức về cá nhân đã lên đến cực điểm. Long mạnh, Long khác người vì phần ý thức ấy, nhưng Long cũng lại là nạn nhân của phần ý thức ấy.
ở chỗ này, Long rất gần Vũ Trọng Phụng.
Có những ngòi bút như Vũ Trọng Phụng trong văn chương vì có không biết bao nhiêu Long trong đời sống. Những điều như Vũ viết ra, như Long nói ra, là cái phần tự ý thức của một lớp người hỗn tạp, táp nham, đau đớn, ê chề, nhưng lại biết suy nghĩ và khổ vì sự bế tắc không lối thoát của mình: lớp dân nghèo thành thị.
*
Do những đặc điểm lịch sử, sự phát triển của chế độ phong kiến ở Việt Nam trải qua nhiều khuất khúc và không thể gọi là mang tính chất điển hình. Ngay vào thuở cực thịnh của chế độ đó, các yếu tố thị dân vẫn là một cái gì phát triển không bình thường. Những người thành thị được gọi bằng cái tên không mấy cảm tình, dân kẻ chợ (và xách mé hơn mà cũng đúng thực chất hơn, dân tứ chiếng) Trong văn học Việt Nam thời phong kiến, và rộng hơn, trong tâm lý phổ biến ở xã hội, trong đời sống tinh thần nói chung bao giờ cũng thấy đầm ấm một tinh thần lạc quan nó là cái đặc tính cố hữu của những người sống gần thiên nhiên. Một yếu tố bao trùm khác là xu thế ca tụng cái thanh cao, cái trong sạch của cuộc sống nông thôn, ca tụng thú điền viên, bài bác khinh bỉ cuộc sống thành thị, cho là ở đó, nhân tình thế thái điên đảo, đồng tiền làm hư hỏng con người.
Nhưng muốn hay không muốn, thành thị cứ phát triển. Con người kẻ chợ cứ hiện ra rõ nét dần trong văn học, hơn thế nữa, cũng ngày một rõ hơn, mạnh dạn, tự tin hơn là những tiếng nói văn học đại diện cho nếp sống, nếp nghĩ của lớp người kẻ chợ đó. Trong Cung oán ngâm khúc, người ta bắt gặp một triết lý bi quan ở dạng cô đọng; sự kết hợp giữa cung đình và thành thị đẻ ra lối nói kiêu sa pha chút nhục cảm, một thứ nhục cảm mới nẩy nòi, nên còn thô vụng (Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn – Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên…). Với Hồ Xuân Hương, các yếu tố nhục cảm được sử dụng một cách khéo léo hơn, đủ sức trêu trọc, chòng ghẹo người ta hơn, nghĩa là được tác giả quan niệm một cách tự nhiên hơn. Cái lý tưởng điền viên kia không có nghĩa lý gì với Hồ Xuân Hương cả. Trong thơ ca của người nữ sĩ sống nhiều ở Hà thành này, nhân vật trữ tình luôn luôn chon von trong một thế đứng đơn độc, mặc dù đang ở giữa mọi người nhưng không sao tìm được sự thông cảm của con người, và nhìn cái gì cũng ra kỳ hình, dị dạng (Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom – Oán hận trông ra khắp mọi chòm – Mõ thẳm không khua mà cũng cốc – Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om). Sự cô đơn cá nhân đó cũng là chỗ gần gũi giữa Hồ Xuân Hương với một người như Trần Tế Xương. Tuy là sống cùng thời nhưng nếu thơ Nguyễn Khuyến đi sát cái nhịp hài hoà bình thản thôn dã và không hề phân vân trong việc tìm lại sự yên tĩnh đã mất thì thơ Tú Xương là tiếng nói trực tiếp của những con người thành thị, với tất cả sự trắng trợn có thể có của nó (Vợ lăm le ở vú, Con tấp tểnh đi bồi…); tiếng nói ấy không ngại chua chát, cay nghiệt khi nói về một cuộc sống đã mất hẳn sự hoà điệu, sự thanh cao mà người ta hằng mong muốn.
Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương không phải những hiện tượng ngoại lệ. Làm nền cho họ là cả một dòng văn học liên tục. Từ dòng văn học đó, từ Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, từ Hoàng Lê nhất thống chí (nhân vật Tuần huyện Trang với câu nói nổi tiếng: – Sợ thày chưa bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân mình…) qua các truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn thời kỳ Nam phong… Chúng ta có thể tổng hợp lại để nêu lên một số nét tiêu biểu của các nhân vật thành thị trong văn học Việt Nam: ở họ, mối quan hệ quân bình với hoàn cảnh mà ta thường bắt gặp trong cả các nhân vật văn nhân hiệp sĩ lẫn người nông dân, mối quan hệ ấy không còn nữa. Những phẩm chất mà người ta hay ca ngợi – một tấm lòng nhân hậu, một chữ tâm bền bỉ, một thái độ an bần lạc đạo… chỉ còn trong ký ức. Thay vào đó là một lối sống ích kỷ, một thái độ chính trị có khi hoạt đầu, một chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Dưới sự hướng dẫn của những nguyên lý ấy, họ có lối sống mạnh, gấp gáp. Họ không cần được tiếng khen là chừng mực, thanh nhã. Họ thích những gì mạnh, gắt, đập vào cân não. Điều kỳ lạ là bất chấp bao nhiêu những bài báo, chê bai từ phía các bậc trí giả, các nhân vật đó vẫn sống, dòng văn học này vẫn có những đại diện của mình và suy cho cùng, gom góp lại, vẫn mang tới cho đời sống văn học những sắc thái mới lạ, cả nền văn học cũng nhờ đó, có thêm sức sống.
Đến Vũ Trọng Phụng, thì cái chất thành thị ấy cũng trở nên đậm đặc, và có thêm những biểu hiện mới. Người ta có thể cắt nghĩa điều này một phần bằng cái hoàn cảnh mà Vũ Trọng Phụng trưởng thành.
Từ một ít phố xá bé nhỏ bao quanh các thành luỹ quân sự trong thời phong kiến qua thời Pháp thuộc. Hà Nội nhanh chóng trở thành một thành phố với phố xá sầm uất hơn, nhà cửa khang trang hơn và nhất là dân cư đông đúc hơn. Đấy chính là một thứ chỗ trũng, thu hút người ở nông thôn ra, trong số đó có những người nghèo không cam tâm chết mòn sau luỹ tre xanh, những người bị đè nén bị oan ức, những người ngày hôm qua còn là những thầy đồ, thầy lang, thậm chí cả lý dịch nữa ( ) vì những cơ nhỡ như thế nào đó, rơi tụt xuống cái miệng vực ghê gớm, là thành phố. Từ nông thôn ra Hà Nội, họ làm đủ nghề, từ con sen thằng ở “cơm thầy cơm cô”, kéo xe, canh cửa, cho tới mở cửa hàng lặt vặt, dạy tư, làm thầy ký ở các hãng buôn. Và cả viết văn viết báo nữa! Nhà văn mà con nhà nghèo, lớn lên trong sự căm uất lớp người giàu có; nhà văn mà chỉ học đến tiểu học đi làm thuê làm mướn rồi do những tất nhiên ngẫu nhiên như thế nào đó, phá ngang đi viết báo, viết văn – có lẽ không ở nước nào có đội ngũ nhà văn kỳ lạ như vậy. Nhưng đấy là một sự thực. Chính từ một thực tế như thế, văn học Việt Nam trước 1945 có cái nét mặt bình dân với cả cái hay cái dở của nó, mà đến nay, chúng ta còn chưa gọi ra đầy đủ.
ở trên, trong khi nói qua về Nguyễn Gia Thiều, chúng tôi đã lưu ý rằng ở tác giả Cung oán ngâm khúc, chất thành thị gắn liền với chất cung đình. ở cả Hồ Xuân Hương, lẫn Trần Tế Xương, người ta cũng còn luôn luôn bắt gặp những vang bóng của một cuộc sống phong lưu ổn định – một thứ chất trí thức pha chút hiển quý. Còn Vũ Trọng Phụng? Chúng tôi không nhắc lại tiểu sử nhà văn ở đây. Chỉ biết rằng không thiếu những cây bút đương thời có hoàn cảnh xuất thân như tác giả Số đỏ: đó là những người làm nghề trí thức đời thứ nhất, trước họ, trong gia đình họ, chưa ai làm nghề này cả, và muốn hiểu họ, phải hiểu cả gốc gác xa xưa của gia đình họ nữa.
Do những điều kiện mà xã hội tư sản mới hình thành mở ra (trong đó có xu hướng dân chủ hoá không cưỡng lại nổi), đây là những dịp đầu tiên mà tầng lớp dân nghèo thành thị có được tiếng nói của mình trong văn học. Nhưng những con người thành thị mới một hai đời này cũng bộc lộ một sự không thuần nhất đến lộ liễu. Rời khỏi nông thôn họ có cái may mắn là cắt đứt khỏi sự trói buộc của hoàn cảnh quen thuộc, một hoàn cảnh vô cùng tù đọng, trì trệ. Cái ngưỡng tự do của họ được rộng mở. Với chút căn cốt của dân lao động vốn có, một số trong họ vẫn giữ được cái nhân hậu của con người, lòng yêu chính nghĩa, niềm tin và cả cái khoẻ mạnh trong ý nghĩ về cuộc sống (đương thời, Nguyên Hồng chính là người phát ngôn của tầng lớp dân nghèo thành thị với cái phần căn cốt tốt đẹp đó). Nhưng ở rất nhiều người khác, thì sau những năm tháng bị đày ải ở nông thôn, những gì tốt đẹp hầu như thui chột, rụi rọ đi, thay vào đấy, là lòng căm ghét con người, cái nhìn ghen tị, thù hận – những phẩm chất gắn liền với cái mà người ta gọi là chất lưu manh. Lưu manh nghĩa là không bị ràng buộc bởi một chuẩn mực nào hết. Lưu manh trong ý muốn đạp đổ tất cả.
Cũng phải công nhận rằng so với những người nông dân thì lớp dân nghèo thành thị ở chung quanh Hà Nội những năm trước Cách mạng 1945 được tiếp nhận một nền giáo dục đáng kể hơn nhiều. Nhưng kiến thức thì có mà căn bản văn hoá thì chưa. Những người có hiểu biết về nền giáo dục mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam trước đây đều biết rằng nó chỉ nhằm đào tạo ra những người thừa hành mà không hề muốn làm công việc mở mang trí tuệ như thực chất của giáo dục đòi hỏi. Ngay ở bậc cao học, kiến thức được truyền thụ cũng mang tính chất primaire, nghĩa là sơ đẳng, thực dụng. Còn nói chi việc học ở các bậc tiểu học là cái trình độ mà nhiều nhà văn của chúng ta được nhận! Để bù lại, sau này vào nghề văn, một người như Vũ Trọng Phụng đã học thêm rất nhiều (ai đó kể rằng ông thường có mặt sớm nhất bên những chuyến tàu chở hàng từ Pháp sang để đón sách báo). Nhưng nhìn chung, làm sao mà tránh khỏi chắp vá, què quặt? Nhiều lần trong các văn phẩm của mình, Vũ Trọng Phụng đã nhắc tới học thuyết Freud. Đúng ra, phải nói ông đã mang tiếng là tuyên truyền cho nó. Nhưng từ góc độ của ngày hôm nay mà xét, phải nhận cách giải thích về Freud của tác giả Số đỏ, Giông tố… nông nổi và mang màu sắc dung tục. Là một phát minh vĩ đại của thế kỷ này, phân tâm học của Freud và những người kế tục như (C.G. Jung) phong phú hơn, sâu sắc hơn, khoa học hơn và cũng … cận nhân tình hơn nhiều. Cách tiếp nhận Freud của Vũ Trọng Phụng chỉ là một ví dụ về khả năng tiếp nhận các vấn đề khoa học – tự nhiên cũng như xã hội – của nhiều người dân thành thị đương thời, kể cả những người hành nghề trí thức.
Người ta thường vẫn lấy làm lạ khi thấy một ngòi bút sáng suốt như Vũ Trọng Phụng lại mê tín và công khai trình bày sự mê tín của mình trên nhiều trang sách. Nhưng chẳng phải là chính đặc điểm đó lại thông báo chính xác hơn hết cái phương diện tinh thần ở Vũ Trọng Phụng và chỉ ra đầy đủ gốc rễ mà cũng là đặc điểm của tài năng văn học này: Ông là dân nghèo thành thị từ đầu đến chân. Với tầng lớp dân nghèo đó, khi ông gần gụi, khi ông căm ghét, nhưng bao giờ ông cũng vẫn là họ, chơi vơi và bế tắc, không tìm đâu ra lối thoát như phần lớn bọn họ.
*
Theo một con số thống kê đưa ra trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập 5 (bản in 1978), thì riêng năm 1937, ở Việt Nam có 110 nhật báo (gần như tất cả là báo tư), 159 tập kỷ yếu và các tạp chí. Trong các năm 1938-1939, số nhật báo sẽ lên tới 128, còn con số kỷ yếu tạp chí cũng tăng lên ít nhiều.
Khi báo đã nhiều như vậy, thì nghề làm báo cũng phát triển. Mỗi tờ báo trên thực tế, chỉ do vài người viết giúp. Những người này nếu viết được văn thì càng tốt. Bởi lẽ ngoài phần tin tức và quảng cáo vốn là lý do để tờ báo có bộ mặt một cơ quan thông tin đại chúng, báo còn thường cùng lúc đăng nhiều tiểu thuyết, ngày nọ tiếp ngày kia (thường gọi là phơi-ơ-tông) lấy việc cần phải theo dõi liên tục câu chuyện để kéo độc giả.
Từ một trường làm báo này, đã hình thành những cây bút vừa viết văn vừa viết báo, những nhà báo kiêm nhà văn có sức làm việc đều đều, và tay nghề vững chãi.
Chẳng những Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng mà Nhất Linh, Xuân Diệu, Thạch Lam… đều đã trưởng thành từ môi trường báo chí ấy. Đương thời, có lúc cũng một số báo Phong hoá đăng theo kiểu phơi-ơ-tông mấy tiểu thuyết của Khái Hưng. Bản thân Thạch Lam cũng từng làm thư ký toà soạn Ngày nay một thời, từ đó, viết nên Hà Nội ba sáu phố phường và nhiều tiểu luận văn học có giá trị.
Cố nhiên, đây chỉ là một sự giống nhau bề ngoài, nó là đặc điểm của những người làm nghề cùng thời (sau Cách mạng, không thấy cách tồn tại của các nhà văn như vậy nữa)
Còn trong thực tế, chỗ khác nhau giữa họ rất nhiều. Tất cả bắt đầu ngay từ câu hỏi dơn giản: Tại sao họ cầm bút?
ở chỗ này thì trường hợp một trí thức như Nhất Linh có ý nghĩa một bằng cớ để so sánh.
Đi du học về, rồi thấy cần phải mở mang dân trí nên Nhất Linh viết văn. Cùng với Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam v.v… ông lập ra nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Họ vừa viết, vừa làm chủ tờ báo và nhà xuất bản. Viết xong, đã có cơ quan in ngay tác phẩm của mình. Lỗ lãi không cần lắm. Đã có những nguồn lợi tức khác bảo đảm sinh kế cho họ và gia đình.
Khi không phải lo chạy ăn từng bữa, người ta tha hồ ngồi nghĩ đủ việc, cả việc lông bông lẫn việc lớn!
Trước đây, với lối nghĩ dung tục đã thành nếp, một số nhà nghiên cứu văn học ở ta thường bảo những nhà văn đó chỉ viết để phục vụ cho bọn trưởng giả, không được việc gì cho dân cho nước mà dễ dàng làm tay sai cho đế quốc phong kiến. Ngày nay rõ ràng không thể nghĩ hợm hĩnh vô lối như thế được nữa. Ngày nay chúng ta nói rằng sự bảo đảm vật chất cũng là một điều kiện quan trọng để nhà văn có thể tạo ra những tác phẩm có giá trị, còn cái căn bản trí thức thì thật cần, nó tạo cho người viết văn một cái phông vững vàng để chạy đường trường.
Chỉ có điều đáng tiếc là số nhà văn kiểu ấy trước Cách mạng đếm không đầy mười đầu ngón tay.
Về mặt chủng loại mà xét, đặt bên cạnh Nhất Linh, Khái Hưng, kiểu nhà văn như Vũ Trọng Phụng phổ biến hơn nhiều.
Trong số này, có người là nhà nho lỡ thời, không thi cử nữa, xoay ra viết giúp cho tờ báo nào đó, sống độ nhật. Có người trước cũng giàu có, nay thất cơ lỡ vận, thù đời mà đi viết văn. Lại có chàng trai quê, ngơ ngơ ngác ngác, trước chỉ lêu lổng rượu chè rồi làm thơ cảm khái, hoặc thơ… chọc ghẹo mấy cô hàng xén, nay nhận ra rằng hình như những điều gọi là tâm sự của mình đó, có người mua, thế là mang bán; mới đầu bán rẻ, sau khôn hơn, bán đắt hơn, đủ sống và có thể nhận cả đơn đặt hàng nữa. Thế là thành nhà thơ nhà văn.
Chỗ bi đát thứ nhất của lớp người viết văn kiểu này là họ buộc phải sinh nhai bằng ngòi bút. Qua những điều mà chính họ kể lại, cuộc săn tìm miếng cơm manh áo cho mình và gia đình mình lắm khi hiện ra như một quang cảnh vừa buồn cười, vừa ứa nước mắt. Bản thân những kỷ niệm mà các bạn văn của Vũ Trọng Phụng kể lại khi ông vừa nằm xuống đã chứng minh cho điều ấy.
Nhưng thực tế đời sống còn bi đát hơn ở chỗ mặc dù luôn luôn bị cái hàng ngày kéo xuống như vậy, các ông vẫn phải làm nhà văn, với tất cả những yêu cầu cao cả mà nghề nghiệp này đòi hỏi.
Thật vậy, cái trớ trêu của nghề văn là ở chỗ nó không biết đến điều kiện cụ thể của người viết và điều này có vẻ như đánh thẳng vào lớp nhà văn dân nghèo thành thị. Với cái vốn sơ học yếu lược khi vào nghề, họ phải luôn luôn nghĩ rằng những (A. France), (R. Rolland), (L. Tolstoi), (Dostoievski) là đồng nghiệp của mình. Trong những căn phòng tranh tối tranh sáng, hoặc là lúc nào cũng ồn lên tiếng chửi nhau đánh nhau… họ phải nói tới lương tâm chính nghĩa. Họ đã khổ, nhưng còn có lớp dân quê và những phu phen, thợ thuyền bên hàng xóm, còn khổ hơn, lúc nào cũng tính chuyện nhờ họ giải bày niềm oan uổng. Trong khi những chuyện mè nheo hàng ngày không ngừng giày vò họ, họ vẫn phải nghĩ rộng tới người khác, phải nghĩ mình có trách nhiệm chấn hưng phong hoá, giáo huấn người đời, và kín đáo tố cáo chế độ thuộc địa cũng là thức tỉnh lòng yêu nước, nếu có thể.
Trên đôi vai bé nhỏ của các nhà văn ấy chồng chất tầng tầng gánh nặng mà ở các nước, chỉ bọn trí thức no đủ mới làm nổi.
Biết bao nhiêu nhà văn nhà báo loại này đã đầu hàng, đã nhẫn nhục coi công việc viết lách như một nghề kiếm sống thuần tuý, đã viết nhanh, viết ẩu, viết theo thời thượng, cốt cho các ông chủ báo bằng lòng, rồi lại chán chường khinh bỉ công việc của mình. Một ngòi bút như Vũ Trọng Phụng không xa lạ với những đồng nghiệp như vậy. Nhưng Vũ Trọng Phụng đã đi xa hơn họ. đồng thời với việc làm nghề thành thạo, Vũ Trọng Phụng biết mang lại cho nghề văn một chút ý nghĩa mà nó thường có ở mọi thời và mọi nước:
Văn học là tiếng kêu khắc khoải của con người trước một thực tế đời sống không bao giờ họ cảm thấy bằng lòng và sự thật là không bao giờ hiểu hết.
*
Nếu biết nhìn kỹ thì mỗi một hiện tượng riêng lẻ đều mang những đặc điểm chung của chủng loại, nghĩa là đều có ý nghĩa tiêu biểu. Chỉ riêng nó thôi, cá nhân nào cũng mang sẵn trong nó chất điển hình rồi, điển hình ấy chỉ chờ ta đến khám phá.
Cái chân lý sơ giản ấy đã đúng cho mọi người thì cũng đúng cho các nhà văn. Một lúc nào đó, tôi ngờ rằng trong một cuốn từ điển làm riêng về văn học Việt Nam, người ta sẽ gọi Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tiêu biểu của thế kỷ XX. Nhà văn này xuất thân từ một tầng lớp đã cung cấp cho văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ đến 1945 nhiều cây bút nổi tiếng. Như một giống cây khoẻ, trong khi vươn lên mãnh liệt, tài năng của Vũ Trọng Phụng vẫn bắt rễ rất sâu vào cái khu vực tranh tối tranh sáng là cuộc sống lớp dân nghèo thành thị đã sản sinh ra ông. Và ông khai thác nó một cách triệt để. Với tất cả vẻ chua chát, phũ phàng, cay đắng hằn học khiến người ta vừa thích vừa ngại, giọng văn Vũ Trọng Phụng tưởng là xa lạ, thực ra là sự tiếp tục ở giai đoạn mới cái dòng văn học thành thị trong văn học Việt Nam, cái dòng văn học được làm nên bởi những tên tuổi như Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương và bao người khác.
Chẳng những thế, hiện tượng Vũ Trọng Phụng còn có ý nghĩa tiêu biểu ở một phương diện khác: qua ông người ta hiểu tâm tình, hoàn cảnh, lối làm việc, chỗ mạnh chỗ yếu của số đông những người cầm bút Việt Nam. Phần lớn họ sống lầm lụi giữa nhân dân lao động (cái điều người ta thường chê trách rằng họ sống xa nhân dân chẳng qua là một câu chuyện bịa đặt); bản thân việc cầm bút của họ trước tiên cũng là một thứ lao động cật lực. Nếu như đôi lúc, sau những trang văn phần lớn do sinh kế thúc ép mà phải viết vội ấy, họ có hiện ra như những người hàm hồ, lắm lời, nói quá nhiều chuyện tầm phào, thuyết minh cả những điều mình chưa biết cặn kẽ, để rồi sau đó lại chán ngán, buông xuôi, kêu to lên tiếng kêu bất lực , v.v… và v.v… thì ngẫm cho kỹ, tất cả đều đáng thông cảm. Vả chăng mặc dù, lẫn vào bao nhiêu trấu sạn và cả rác rưởi nữa, cái phần tinh hoa tốt đẹp của mỗi người vẫn là không gì thay thế được. ít nhiều công việc mà những người cầm bút như Vũ Trọng Phụng đã làm đều có gắn với hồn thiêng đất nước và cái mong mỏi khôn cùng là mong cho xã hội ngày một văn minh tấn tới. Đấy cũng là lý do khiến tác phẩm của họ sẽ còn lại mãi với lịch sử.
1989
Đã in Tạp chí văn học 1990 ,số 2

HIỆN THÂN CỦA THƠ MỚI

Tham luận hội thảo 90 năm sinh Xuân Diệu

Đi tìm một cách nói hợp lý
Xuân Diệu thường nói ông mang trong mình quê hương thống nhất.Cha đàng ngoài má ở đàng trong, — cái lý của ông thật cụ thể.
Mượn cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang trong mình nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX. Tiếp tục đọc

Nhân việc xuất bản toàn tập Xuân Diệu

Toà ngang dãy dọc đồ sộ ,
nhưng sau đó sao đây ?

Y nghĩ đầu tiên của tôi khi nghe tin Toàn tập Xuân Diệu được in ra là ở dưới suối vàng , Xuân Diệu chắc rất sung sướng.
Còn nhớ những quyển sách đầu tiên của XD mà chúng tôi được đọc sau khi Hà Nội đươc tiếp quản

.Măc dầu sách ra đời ngay trong lòng Việt Băc kháng chiến nghĩa là được in trên giấy dó làm theo lối thủ công chỗ dày chỗ mỏng không đều , mặt giấy nhiều khi còn lẫn cả một mẩu rơm như XD từng tả khi nói về những số Văn nghệ đầu tiên , và mặc dầu đó chỉ là những tập thơ mỏng , song sau trang một đề tên sách , lật đến trang hai , bao giờ chúng tôi cũng tìm thấy một dấu hiệu riêng của XD : phải có cái mục Cùng một tác giả ,ở đó XD trình với độc giả cho đến thời điểm ấy ông đã có bao nhiêu đầu sách.Sau này sách in đẹp hơn giấy trắng hơn thì việc liệt kê việc mình đã làm càng được XD xem trọng , và nhìn qua những cuốn sach ông soạn trong những năm cuối đời chúng tôi đôi khi phải bái phục chẳng riêng chỉ vì nội dung sách và khối lượng công việc – điều này thì tất nhiên rồi – mà phục ngay ở cái cách ông tận tuỵ với mình , ghi chép bằng hết những gì đã viết .
Từ những trang Cùng một tác giả đó,trong lòng chúng tôi, XD hiện ra như một người làm nghề chuyên nghiệp hơn ai hết . Trong khi nhiều nhà văn nhà thơ ở Việt Nam không thích nói nhiều về những gì mình đã làm ,họ muốn tỏ ra khiêm tốn , muốn chứng tỏ rằng mình nhìn đời một cách hư vô sao cũng được và cái chính là vì họ dừng lại ở một quan niệm khá tài tử về chuỵện cầm bút , thì XD không thế .Học theo Tản Đà hồi nào , ông có ý thưc rằng mình có quyền tồn tại như một thi sĩ , mình là người có nghề đàng hoàng và trong nghề này ai chăm chỉ siêng năng hơn người đó đáng đươc kính trọng hơn .
Có một câu nói XD hay nhắc lại với cánh chúng tôi – những người thường được mệnh danh là lực lượng trẻ trong những năm chống Mỹ đại ý : các cậu còn trẻ quá các cậu hay phung phí sức lực .Còn mình ấy ư ,XD này chỉ tồn tại nhờ biết dồn sức mạnh của năm ngón tay thành sức mạnh chung của một nắm đấm.
Và XD đã làm đúng như vậy .Điều mà ông sợ nhất là sự dang dở .Làm gì ông cũng muốn đào cùng tát cạn…
Lại nhớ một câu thơ tự thuật của XD : Rất tồi toán pháp khá văn chương .Có thể là điểm toán của ông khi đi học không cao nhưng sự tính toán của ông cho đời mình thì chẳng xoàng tí nào cả .Khả năng nhìn xa trông rộng ;sự lịch lãm trong nghề;vốn hiểu biết phong phú ;và thói quen lao động cật lực…bấy nhiêu yếu tố dồn cả lại làm nên một sự nghiệp mà ngày nay nhìn lại qua bộ toàn tập sáu cuốn mới in phải nói là một thứ toà ngang dãy dọc đồ sộ .
Trong từng lúc từng chỗ có thể nói con người này là một thi sĩ bẩm sinh luôn luôn mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây . Nhưng nhìn chung cả một đời người thì lại có thể nói là ông rất tỉnh.Ong tìm cách huy động tất cả những gì vốn có.Cũng tức là ông đã tìm ra được cái cách hữu hiệu nhât để vắt kiệt sức lực của mình .
Và ông muốn chung quanh ghi nhận cho ông cái nỗ lực ông đặt vào công việc : Ai đã từng có lần ngồi nghe XD nói chuyện thơ hẳn nhớ ông rất chú ý tạo không khí cho buổi trình diện của mình, phải thêm lọ hoa như thế này , phải đặt mi-cơ-rô như thế kia và sau những đoạn nói hay người nghe phải ủng hộ diễn giả bằng cách vỗ tay ra sao…
Thành thử những hình thức tổng kết về một tác giả như làm tuyển tập làm toàn tập là nằm trong sự tính toán của ông .Ong luôn ước ao một sự trình diện đầy đặn , một sự kỉêm kê chặt chẽ chính xác ngay về số lượng , tức những gì ông đã làm được mang bày hết và ông muốn có được cái hình thức tồn tại như nhiều nhà văn nhà thơ của thế kỷ này đã được hưởng.
Đến bây giờ mới thấy đây- Mà lòng đã chắc những ngày một hai – có thể mượn lại câu Kiều đó để diễn tả sự hoan hỉ mà XD dành cho toàn tập nếu như ông còn sống.
Thế nhưng sau khi đã thông cảm với niềm ao ước khôn nguôi của Xuân Diệu và mừng cho tác giả , có lẽ sẽ không có gì là quá nếu với tư cách bạn đọc , chúng ta thử nêu lên một ít điều ước ao thêm từ bộ sách sáu tập dày cộp này .
Những ngày đầu 1945,trong một buổi nói chuyện với các bạn sinh viên lúc ấy , XD có nêu một căn bệnh mà theo ông là phổ biến ở dân mình , ấy là bệnh chuộng hình thức , làm cái gì cũng muốn làm thật to , sơn phết cho thật hào nhoáng , và ông gọi đó là bệnh voi nan .Vậy mà , hỡi ôi , với căn bệnh mà ông chế giễu đó , ông đâu có tìm được vắc-xin miễn dịch !Ông từng có lý luận cái rễ của cây cúc cũng có mùi hăng hắc , nói nôm na là những gì do ông viết ra vẫn có cái duyên riêng mà phi XD không ai viết được .Có điều, tôi nghĩ việc gì rồi cũng phải có chừng mực .Mặc dù vẫn mang cái giọng riêng của XD, song những bài viết loàng xoàng dưới cơ so với tài năng của ông khi được đặt cạnh nhau , lại có cái phản tác dụng kỳ lạ .Mấy chục năm trước đọc đã mệt mỏi , đến nay , lại càng khó ai kham nổi !
Tôi kiên trì nhận xét này với cả những bài thơ yếu , lẫn những bài nói về kinh nghiệm làm thơ cũng như bình thơ mà ở đó ngòi bút XD rơi vào dài dòng kể lể .Cầu cho vong linh XD tha cho kẻ hậu sinh và cũng xin đừng ai bắt bẻ tôi theo cái kiểu “Anh đã viết đươc như thế chưa mà anh chê ?! “.Tôi không muốn phải chứng kiến những phút yếu đuối kém cỏi của con người mà tôi hằng yêu kính dù tôi biết rằng bất cứ ai , kể cả các thiên tài , cũng có những phút như thế.Và tôi muốn đối xử với XD không phải như một người đã qua đời cách đây gần mười sáu năm mà như một người đang sống và còn sống mãi trong lòng các thế hệ bạn đọc tương lai.
Nhưng đây là toàn tập cơ mà — có bạn sẽ nhắc .Vâng, đồng ý với bạn : một dịp kiểm kê tất cả những gì XD đã viết như thế này là một việc thiết yếu .Với những ai làm công tác nghiên cứu văn học thì toàn tập này là rất cần với điều kiện là đồng thời nhà nghiên cứu đó phải tự sưu tầm lấy nhiều bài viết lẻ rải rác đây đó của XD trong đó có những bài rất hay mà chưa từng được đưa vào tập sách nào .Còn đối với đa số bạn đoc,tôi cầu mong sớm có một người làm công việc gạn lọc để rút ra từ toàn bộ sáng tác của XD khoảng độ ngàn trang gì đấy mà toàn những trang tinh tuý bộc lộ hết cỡ tài năng của XD .Theo chỗ tôi biết , mặc dù rất chủ quan và hay lo vun vén cho bản thân , nhưng XD cũng là người trọng lẽ phải và biết phục thiện .Được thấy những cuốn sách xứng đáng gọi là tinh tuyển của mình như vậy , nhà thơ sẽ có cái hào hứng như Từ Hải gặp Kiều và sau khi khen cho con mắt tinh đời ,sẽ xem như một người tri kỷ.

VAI NET CHUNG QUANH TAP SACH

Toàn tập Xuân Diệu in ra ở NXB Văn học do Nguyễn Bao sưu tầm biên soạn và giới thiệu .Tập 1 ,1020 trang in lại toàn bộ thơ trong các tập từ Thơ thơ đến Thanh ca , nhưng do không chọn bài lẻ nên lại thiếu Thơ duyên,Hoa đêm, Hy mã lạp sơn .Tập 2 , 784 trang gồm các tập văn xuôi Phấn thông vàng,Trường ca , Việt Nam nghìn dặm,Việt Nam trở dạ,Ký sự thăm nước Hung,Triều lên,Dao có mài mới sắc .Tập 3 , 1144 trang gồm Thanh niên với quốc văn,Tiếng thơ,Những bước đường tư tưởng của tôi ,Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ , Phê bình giới thiệu thơ ,Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy . Tập 4 ,844 trang gồm Đi trên đường lớn,Và cây đời mãi mãi xanh tươi,Mài sắt nên kim .Tập 5 , 676 trang gồm Công việc làm thơ và một số tác phẩm lẻ giới thiệu mấy nhà thơ Nadim Hitmet ,Tagor ,Tú Mỡ ,Huy Cận…Tập 6 , 896 trang ,gồm các bài giới thiệu các nhà thơ cổ điển và cận đại ,từ Nguyễn Trãi tới Trần Tuấn Khải .