Monthly Archives: Tháng Chín 2009

Nghĩ về những người giầu ở Việt Nam hôm nay

Nhân bài viết Cọp, gấu và đại gia

Một người ăn mày, trong cơn đói, phải tranh ăn với con chó của một gã nhà giàu, lỡ tay đánh gẫy của con chó hai chiếc răng. Gã nhà giàu nọ lên xe ôtô phóng đuổi theo người ăn mày với ý nghĩ:
– À, mày đánh gẫy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng. Bất quá ba chục bạc là cùng! Tiếp tục đọc

Advertisements

Trong cái rủi có cái may

1. Sự kiện PMU nghiêm trọng quá khiến cho không ai khi theo dõi không đau đớn xót xa. Tuy nhiên thỉnh thoảng các nhà báo cũng cung cấp cho bạn đọc những chi tiết vui vui. Ai cũng biết nếu không có vụ theo dõi tình hình cá độ và bắt được trùm Hưng thì cơ quan điều tra không phát hiện được Bùi Tiến Dũng đánh bạc và không có mọi việc tiếp theo. Tiếp tục đọc

Chế giễu bài bác trí tuệ

Một người bạn tôi bảo phần lớn truyện cười dân gian VN là những câu đùa cợt qua lại của mấy anh đói. Nghe cũng có lý. Ở đây, đề tài ăn uống chiếm tỷ lệ khá lớn .
Chỉ có một bộ phận nhỏ truyện tiếu lâm đi vào ghi nhận tư duy của người Việt , chúng ta nông nổi, chúng ta hay lý sự cùn… Đòn đánh khá trúng.
Tiếp tục đọc

(trao đổi với Vương Trí Nhàn)

Với độc giả chúng ta là người không có lỗi!

(trao đổi với Vương Trí Nhàn)
Nguyễn Hữu Hồng Minh

Trước hết, xin được nói rằng trong suy nghĩ của tôi, Vương Trí Nhàn là một nhà phê bình sáng giá, ít ra nhiều bài viết của ông vẫn còn đọc được trong tình hình văn chương hiện nay. Và vì thế, bài viết này tôi muốn với tư cách là một nhà văn trẻ, xin được đối thoại trao đổi với ông về vai trò của nhà văn, một vấn đề được ông đặt ra cụ thể qua bài trả lời phỏng vấn Với độc giả chúng ta là người có lỗi vừa qua. Tiếp tục đọc

Trao đổi cùng ông Vương Trí Nhàn

Trao đổi cùng ông Vương Trí Nhàn về chuyện ‘Với độc giả, chúng ta là người có lỗi’

Hà Quảng

Xin nói ngay, ông Vương Trí Nhàn là một cây bút phê bình mà chúng tôi yêu mến, vì rất nhiều bài viết vô tư và sắc sảo. Tuy nhiên trong bài trả lời phỏng vấn (có tựa đề: Với độc giả, chúng ta là người có lỗi) của ông gần đây trên báo Văn nghệ Trẻ có vài điều chúng tôi chưa thật thỏa mãn, xin mạnh dạn trao đổi. Tiếp tục đọc

‘Với độc giả chúng ta là người có lỗi’



– Thưa anh Vương Trí Nhàn, chuyên mục
Hỏi chuyện văn chương của Văn nghệ Trẻ xin được phỏng vấn anh – một nhà phê bình văn học, lại gắn bó lâu năm với công việc xuất bản – về mối quan hệ giữa văn chương và độc giả hiện nay. Trước tiên xin anh cho biết độc giả giữ vai trò như thế nào trong suy nghĩ hàng ngày của anh về nghề nghiệp?

– Không rõ những người viết văn khác thế nào, riêng tôi, bao giờ viết tôi cũng thường nghĩ đến độc giả. Bảo rằng tôi rất e sợ họ nữa cũng được. Trước họ, tôi chẳng có một thứ gì gọi là quyền hành. Rất có thể họ chỉ cầm trang báo có bài viết của tôi lên rồi lướt qua rất nhanh và bỏ luôn. Mà như thế thì tủi thân lắm. Vậy phải viết làm sao để họ có nhu cầu đọc mình. Chẳng những thế, lại còn có thể tìm ở họ những tác động ngược để giúp mình viết tốt hơn.

– Thường thì anh thích viết cho loại độc giả nào?

– Chỗ này phải nhận là tôi hơi tham. Tôi thích viết thế nào đó để cho những người khác nhau cũng có thể đọc được. Có thể đó là những ông giáo sư, tiến sĩ tôi quen biết (tôi là cái anh không có bằng cấp gì, nhưng cũng có đi lại chuyện trò với một số người như thế, và nếu tôi không lầm, thì họ cũng coi tôi như một đồng nghiệp, chứ không phải mình chơi trèo hay học làm sang đâu!). Mà cũng có thể đó là những người làm đủ các loại nghề khác, không có quan hệ trực tiếp tới văn học. Không loại trừ trong số này có cả người đạp xích lô, người bán hàng rong. Chinh phục được loại thứ hai này cũng thú vị lắm. Ngay từ những năm 1968-1970, nhà văn Nguyễn Khải có lần nói với tôi rằng nói chuyện với thanh niên là khó nhất. Họ vội vã sống. Họ không có thì giờ để nghe những chuyện cà kê dài dòng và khi không thích là họ bỏ đi liền. Cho nên nói chuyện thế nào để thanh niên nó nghe được mới thấy sướng. Viết cũng tương tự như vậy.

– Anh có thể giải thích cụ thể về cách mà bạn đọc tác động tới anh?

– Mong có nhiều người đọc, nhưng lúc viết tôi thường hình dung như bên cạnh mình có một độc giả rất là khó tính, rất là uyên bác, mà cũng rất là thạo đời… để lấy đà phấn đấu. Người độc giả lý tưởng này biết tất cả. Họ biết chỗ này tôi nói dối, chỗ kia tôi không đọc mà cứ nói liều, chỗ khác nữa thì suy nghĩ không kỹ, chẳng qua cũng chỉ là diễn lại vài ý người đời ai cũng biết. Tôi thường đặt ra một loại độc giả rất cao như vậy rồi xác định viết để đối thoại với họ. Khi nghĩ được rằng vẫn còn một người nào đấy tin mình, chờ mình, phải viết sao để đáp ứng lại sự chờ đợi của người đó, tự nhiên người ta có cớ để cố và bớt viết những cái lăng nhăng đi.

– Nhận xét của anh về độc giả hôm nay?

– Đạo diễn sân khấu Nguyễn Đình Nghi có lần bảo tôi: cái căn bản của sân khấu ngày trước là rất nghiêm túc, còn bây giờ lắm khi vào rạp người ta cắn hạt dưa, rồi cười nói rúc rích thì còn ra sao nữa. Chúng ta đang thiếu cái gọi là “công chúng chọn lọc”. Lớp “công chúng chọn lọc” này đóng vai trò dẫn dắt những công chúng khác. Chính họ là cái người đối thoại với tác giả. Quay trở về với lĩnh vực văn chương, thời bao cấp, chúng ta có một loại độc giả rất là tốt, chịu đọc, chịu nghĩ nghiêm túc. Mà nay thì không có, hoặc đúng hơn cũng có, lúc nào cũng vẫn còn, nhưng hình như ngày một ít đi, ngày một lép vế.

– Tức là, như người ta hay nói, văn hóa đọc ngày nay giảm sút?

– Hồi trước số đầu sách thì ít nhưng số lượng in của từng cuốn lớn lắm. Người ta săn sách kinh khủng. Chúng tôi cũng vậy, mỗi lần đi công tác các tỉnh, thế nào cũng sục vào các hiệu sách xem có cuốn nào hay còn sót thì mua. Lúc nào cũng trong tình trạng đói sách. Còn gần đây, độc giả có tình trạng ngược lại: quá no. Một số trở nên dễ tính, yêu cầu của họ cũng thấp. Ngày trước, văn học mang đậm tính chất giáo dục, nó thiêng liêng quá, mà lại thiếu sự thông cảm với những yêu cầu bình thường của con người, thiếu chất giải trí. Nhưng mà bây giờ thì lại hơi nhiều chất giải trí quá. Có nhiều cuốn sách, không ít kêu là dở nhưng lại bán chạy, nhìn kỹ thì thấy chẳng qua ở đó, tác giả đóng vai trò mua vui khi trêu chọc khi nịnh nọt độc giả. Nhìn chung nay là lúc trong độc giả đang có sự phân hóa. Có lẽ chúng ta cần một cuộc khảo sát.

– Theo anh, đã xuất hiện những độc giả mới, có cách ứng xử với sách văn chương không theo “chuẩn mực” như trước đây và anh không hẳn tin ở cách đánh giá của họ?

– Đúng vậy. Hiện có những cây bút tự hào là rất ăn khách, rồi vin vào cớ đó đi rêu rao rằng tác phẩm của mình toàn là văn chương thứ thiệt, là những giá trị lâu dài. Tôi không có cách gì để cãi lại họ, chỉ biết rằng tôi tin ở một loại độc giả khác, phấn đấu cho một loại độc giả khác.

– Đâu là nguyên nhân của sự phân hóa độc giả như anh vừa nói?

– Tại sao loại độc giả lý tưởng của văn học lại đang ít đi, hay đang bị ít đi; mà loại độc giả đùa bỡn, đối xử với sách như một trò mua vui vớ va vớ vẩn thì lại có vẻ ngày càng nhiều hơn? Theo tôi thì có hai lý do thế này: Một là sau một thời gian lý tưởng hóa văn chương, coi tác phẩm văn chương như thần như thánh, một số độc giả thấy chán. Chán sách, họ chán luôn cả văn học. Hai là lớp trẻ bây giờ họ ra đời trong điều kiện tivi đầy ra, các phương tiện thông tin đầy ra. Bóng đá và đủ các thứ khác nó lôi cuốn họ. Cái họ cần, không thấy có trong sách.

– Thưa anh, phải chăng đó chỉ là kết luận khi chúng ta nhìn nhận từ thực tế ở chốn thị thành? Còn độc giả đông đảo ở nông thôn, vùng sâu vùng xa? Họ có được vậy không và có đến thế không?

– Chính vì không rõ là ở những vùng ấy độc giả hiện nay đọc sách ra sao, nên tôi mới đề nghị phải có những cuộc điều tra, thậm chí điều tra thường xuyên. Tuy nhiên tôi ngờ rằng ở đó quá trình phân hóa này cũng đang xảy ra.

– Đứng trước thực trạng như vậy, chúng ta có thể nói gì về trách nhiệm của những người viết văn?

– Phải nhận chính chúng ta là người có lỗi. Văn chương góp phần tạo ra độc giả, rồi độc giả lại góp phần vào định hướng văn chương, hai bên góp phần sinh thành, đào tạo ra nhau. Nói thế để tự nhận lấy phần trách nhiệm của ta. Cụ thể là, theo tôi, mỗi người viết văn cần đặt cho mình yêu cầu cao tự nâng mình lên. Giống như đi tu ấy. Phấn đấu hằng ngày. Bây giờ có nhiều bạn viết mang tâm lý thế này: cái gì mình viết ra thì phải có người khen ngay hay chê ngay. Tại sao không nghĩ rằng: vài năm sau người ta mới hiểu mình? Xưa, các cụ có câu: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Chính cái sự tự trọng ấy của người viết sẽ có tác động tích cực đối với sự đọc văn chương của độc giả.

– Và sự nghiêm túc, nghiêm khắc của nghề văn không chỉ được thể hiện qua các tác phẩm như thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, v.v… mà còn được thể hiện trong cả những bài viết nhỏ in trên báo và ngay cả trong những ý kiến nhà văn phát biểu miệng nơi này, nơi khác?

– Vâng, đúng là như thế. Bây giờ báo nhiều nên mấy ông ham nói, nói nhiều, nói dai, nói dài tha hồ múa may. Thực ra, trong ý nghĩa sâu sắc của nó, văn học đòi hỏi chúng ta phải làm ra những thứ tinh luyện hơn, kỹ lưỡng hơn. Cũng như trong đời sống, nhiều người chúng ta đang mắc bệnh nói nhiều trong khi con người hiện đại cần thanh cao hơn, hợp lý hơn, từ tốn hơn. Một điểm nữa tôi xin nói tạt ngang, nay là lúc chúng ta sẵn sàng khề khà trò chuyện với nhau mà lại ít đọc nhau. Lẽ ra nếu còn lương tâm nghề nghiệp, thì nên dành thì giờ mà đọc nhau, mà tập trung cho việc sáng tác. Tôi đã nghe có người chê rằng như thế là già, là cổ lỗ lắm rồi. Nhưng cái tạng của tôi là thế, với văn chương không bao giờ tôi dám coi là chuyện đùa bỡn, với những gì thuộc về tương lai lại càng không thể đùa bỡn.

– Quay trở lại với vấn đề độc giả, theo anh thì làm thế nào để có thể “tổ chức độc giả” cho nền văn học của chúng ta?

– Trước mắt phải lo sao có những tác phẩm tương đối có giá trị thì mới có sức lôi cuốn bạn đọc. Tuy nhiên, khi đã có sách, lại cũng cần có những sáng kiến cụ thể. Tôi nghĩ báo chí nên dành thêm chỗ cho độc giả phát biểu. Các tờ báo, các nhà xuất bản có thể nghĩ ra các hình thức giao lưu khác nhau, ví dụ có thêm các buổi gặp mặt tiếp xúc với bạn đọc. Hoặc có những cuốn sách mang ra cho bạn đọc bỏ phiếu, cuốn nào được nhiều người thích thì coi như được nhận một thứ giải thưởng, tạm gọi là giải của bạn đọc. Có giải của bạn đọc thanh thiếu niên, giải của bạn đọc lớn tuổi v.v… Nói cho to tát tức là cần có cách để khôi phục cảm giác thiêng liêng của văn học trong lòng bạn đọc.

Nói thì dễ nhưng làm thì khó lắm. Năm ngoái năm kia, nhà xuất bản nơi tôi công tác có in một cuốn sách của một nhà văn nổi tiếng, tôi mới nói hay là bây giờ ta họp mặt bạn đọc để tác giả giới thiệu sách rồi ai thích thì xin chữ ký của tác giả. Nhưng Giám đốc nhà xuất bản bác đi ngay: nhỡ tổ chức ra mà quá ít người đến thì sao? Nhỡ người ta có đến mà người ta không mua sách thì sao? Ai dám tự nhận là nắm chắc được độc giả bây giờ?! Thế là lại thôi. Tuy vậy với tư cách là một người làm xuất bản và một người có viết sách, tôi vẫn tin ở những độc giả lý tưởng của mình và cố làm việc, cố viết để khỏi phụ lòng những độc giả đó.

– Xin cảm ơn anh!

P.V. thực hiện

Văn nghệ Trẻ, số 16, 18/4/2004

Vượt lên trên sự trì trệ của nhận thức

Đọc lại Văn minh tân học sách
Kỷ niệm một trăm năm Đông Kinh nghĩa thục,ngày 17-5 vừa qua, tại Hà Nội, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh và Trung tâm giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố đã tổ chức một cuộc tọa đàm chủ yếu bàn về đóng góp của phong trào này ở góc độ văn hóa giáo dục.

Hoạt động kỷ niệm năm nay còn được tổ chức ở nước ngoài. Theo tin của tạp chí Xưa và nay, số ra 5-2007, một cuộc hội thảo tại Aix-en – Provence Pháp đã được tổ chức với chủ đề Việt Nam, thời điểm hiện đại hóa – phản ứng của một xã hội trước sự du nhập của một nền văn hóa ngoại lai.Tham gia hội thảo có các nhà khoa học Nhật Bản, Hà Lan, Na Uy, Mỹ.Những khám phá mới về phong trào văn hóa này đang được giới thiệu dần trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Có thể nói tinh thần căn bản ôm trùm xã hội VN cả thế kỷ XIX là tinh thần bảo thủ. Sau mấy trăm năm phân chia Đàng Trong Đàng Ngoài và chiến tranh liên miên, con người hình như mệt mỏi và rơi vào một tình trạng trì trệ kéo dài. Cho đến cả khi mất nước, và tiếp đó mọi cố gắng của những cuộc khởi nghĩa Cần Vương mang đầy nhiệt huyết rút cục đều thất bại — một hậu quả rõ ràng của bảo thủ, trì trệ –, người ta vẫn chỉ biết than thở và không tìm ra phương hướng thay đổi.

Khi đang còn ngồi tù, và tìm cách suy nghĩ để Phát hiện Ấn Độ, Jawaharlal Nehru từng chiêm nghiệm và tỏ ra đồng cảm với một khái quát của John Stuart Mill : “Hiện nay tôi tin rằng không có những sự cải thiện lớn nào trong số phận của loài người lại có thể thực hiện được, cho đến khi có sự thay đổi lớn lao xẩy ra trong phương thức suy nghĩ “( nhà tư tưởng Anh viết câu này trong cuốn Tự truyện, 1873)

Chẳng những hoàn cảnh Ấn Độ mà hoàn cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX dường như là minh chứng cho cái nhận xét đó của John Stuart Mill.
Giá kể trong hoàn cảnh các dân tộc còn sống cô lập như thời trung đại, chắc chắn tình trạng trì trệ kia không biết bao giờ thay đổi nổi.
Nhưng châu Á lúc này đang trải qua một trận” mưa Âu gió Mỹ “ sôi động. Việc tiếp nhận phương Tây học theo phương Tây được coi như một lẽ sống ở Nhật Bản, ở Trung quốc và ảnh hưởng đã lan đến Việt Nam. Với phong trào duy tân ( = đổi mới ) nói chung, những nếp nghĩ ngưng đọng ngàn năm đã được khơi gợi theo một hướng mới .

theo thuật ngữ hiện nay, một quá trình hội nhập bắt đầu. Mà hội nhập trước tiên là một tầm nhìn khác, một cách nhận thức khác. Trong hoạt động đa dạng của Đông Kinh nghĩa thục , Văn minh tân học sách là tài liệu chính , đánh dấu sự nhận thức mới mẻ đó .

Trước kia là tự khép mình lại, coi mình là trung tâm của vũ trụ ( một thứ “ tự kỷ trung tâm luận “ tự phát ), không biết rằng mình đang mỏi mòn thoái hóa.

Nay thấy mình là bộ phận của cái thế giới vùn vụt đổi thay, mình không thể đứng ngoài, mình không thể chết.

Trước đây, người ta nghĩ mất nước là tại mệnh trời.

Nay những đầu óc được giải phóng bắt đầu nghĩ ở đây có vấn đề văn minh, tức là trình độ sống trình độ tư duy của dân tộc.

Trước kia là đạo nghĩa trừu tượng giáo điều. Nay là kiến thức mới lạ nhưng đầy sức hấp dẫn.

Trước kia là sự chật hẹp của chân trời nhận thức, là hạn chế đến mức tối thiểu tiếp xúc và giao lưu với thế giới bên ngoài, từ đó chỉ muốn yên ổn, sẵn sàng lê lết theo sát những khuôn phép người xưa đã chỉ dẫn.

Nay là từ bỏ là tung phá , là tin rằng tất cả có thể làm khác điều mình vốn làm, nghĩ khác điều xưa nay vốn nghĩ.

“ Ôi nếu như không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ đã biết mà lại bưng bít che lấp đi làm như không nghe, không thấy chuyện gì để tự mình lại củng cố trong mình một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thật nên lấy làm đau đớn “(VTN nhấn mạnh ). Loại khái quát kiểu này không chỉ vạch ra một thực trạng mà còn ghi nhận một thái độ cố chấp, và rộng hơn gọi ra chính xác những nguyên nhân khiến cho tình trạng trì trệ kia kéo dài triền miên dai dẳng.

Quá trình tự phê phán một khi khởi động không thể không đi tới cùng. Những đầu óc xưa nay quen tự hào theo lối gồng mình cãi lấy được về sự không kém người của mình nay bắt đầu chân thành nhận ra mọi sự lạc hậu kém cỏi. Nền giáo dục cổ hủ, giáo điều. Tình trạng “ tĩnh” của văn hóa. Kinh tế lệ thuộc nước ngoài. Con người hèn kém sợ sệt chỉ tự khẳng định bằng cách chìm sâu vào trụy lạc, từ “ đàn sáo đầu hồ, bài lá, cờ tướng, đố thơ, đánh chữ “ cho tới “số tướng, địa lý, phù thủy “. ..Tất cả đều đã được đặt trong tầm ngắm. “ Hành chính thì cấm thay đổi sửa sang ; dùng người thì quý im lìm lặng lẽ; chiếu theo lệ cũ, nhưng lệ không nhất định; luật cũng có ban bố đấy, nhưng dân gian không được học luật “ — những nhận xét sắc sảo loại đó ken dày trong Văn minh tân học sách .

Các tài liệu dùng làm sách giáo khoa dùng trong nhà trường như Quốc dân độc bản Tân đính giáo khoa thư cũng đều là những cuộc kiểm điểm nghiêm khắc về một nếp sống nếp nghĩ đã lỗi thời và rao giảng những kiến thức hiện đại tuy là còn đơn sơ song giản dị dễ hiểu.

Không phải là một cương lĩnh hành động, song Văn minh tân học sách mở đường cho mọi hành động. Cảm hứng chính bao trùm ở đây là niềm sung sướng của con người khi tìm thấy một chìa khóa và gỡ ra được một bí mật. Là cảm giác tan băng. Là trong đường hầm thấy hé ra lối thoát . Khi quá phấn khích bồng bột trước một nguồn ánh sáng mới, người ta có bị lóa mắt, bước đi như vướng vào nhau và tiếng nói nhiều khi lộn xộn âu cũng là điều dễ hiểu . Điều có thể chắc là trong các văn bản mang tính chất thức tỉnh kêu gọi, hiếm khi thấy cái hôi hổi nồng nhiệt lại đi liền với một sự sáng suốt đến như trong Văn minh tân học sách.

Đó chưa phải là phê bình

Thử phác hoạ tình trạng nhân thế của phê bình văn học nửa sau thế kỷ XX

Tính tự phát vốn là đặc điểm của nhiều hoạt động tinh thần ở ta mấy chục năm nay trong đó bên cạnh việc sáng tác thì có cả phê bình văn học.
Tôi xin phép lấy trường hợp bản thân tôi mà suy. Sau gần bốn chục năm kẽo kẹt hành nghề, nay nhìn lại tôi chỉ có thể nói công việc mà mình đã đặt nhiều tâm huyết thật ra đã được làm theo kiểu gặp đâu hay đấy, trông trước trông sau, trông mọi người mà làm, chứ đâu có bài bản gì cho đàng hoàng.
Thoạt đầu, đọc mẫu của các bậc đàn anh. Khoảng đầu những năm 60 trên báo chí văn nghệ ở Hà Nội thấy nổi lên một lối viết phê bình mà trong tầm mắt của một cậu học trò trường cấp III Chu Văn An như tôi, nghe có vẻ rất mới, khiến tôi mải miết học theo, tất nhiên theo lối học lỏm. Người tôi mê nhất lúc ấy là Lê Đình Kỵ. Từ cách nói giọng điệu, chữ nghĩa, thứ văn phê bình này đã được tôi mô phỏng, bắt chước. Rồi từ 1965, tôi bắt đầu viết bài gửi đăng báo Văn Nghệ, một trong những tờ báo được xem là biết làm phê bình đúng với cái chuẩn được công nhận lúc ấy. Thấy đại khái viết như thế được đăng thì lại thừa thắng xông lên viết tiếp, cả năm được in một bài độ một trang trên báo Văn Nghệ cũng đã thấy là danh giá lắm.
Mấy năm sau, được chuyển về tạp chí Văn nghệ quân đội, làm việc dưới sự hướng dẫn của anh Nhị Ca, thường đi họp và bàn việc với anh Đông Hoài, anh Khái Vinh, chị Thiếu Mai bên báo Văn Nghệ … tôi cũng nghe các anh các chị tâm sự đại khái như vậy. Tự đào tạo là chính. Làm như mọi người. Mà cái kiểu làm được cả mọi người công nhận ấy chẳng qua cũng ngẫu nhiên hình thành, chẳng ai nói ra rõ ràng, mặc dù ai cũng cảm thấy và tìm cách thích ứng. Nó như một vệt mòn trên núi. Như một thứ con đường quê của Tế Hanh “ kéo nỗi buồn không dạo khắp làng “, cong queo, xẹo xọ, mà rồi vẫn là phương tiện duy nhất dẫn người ta đi tới.
Đã có lúc bọn tôi thử quay lại với người xưa, với truyền thống, như ngày nay hay nói. Nhưng các cụ nhà nho búi tó ở ta trước đây đâu đã biết đến phê bình, lục lọi lắm cũng chỉ được vài câu các cụ vui miệng nói những khi thù tạc. Còn cái truyền thống gần hơn, là phê bình nửa đầu thế kỷ XX, thì, không kể Trương Tửu, Trần Thanh Mại mà ngay cả Vũ Ngọc Phan lẫn Hoài Thanh, mọi người còn đang muốn từ chối, chứ có ai công nhận ?! ( Từ 1954 tới 1985-86, ở Hà Nội, cả Nhà văn hiện đại lẫn Thi nhân Việt nam 1932-41 không được in lại. Mãi sau 1986, quá trình tái bản mới diễn ra ồ ạt. Trước đó, các Thư viện chỉ có bản in cũ, mà không phải cán bộ nghiên cứu nào cũng có quyền mượn.).
Quay sang kinh nghiệm nước ngoài. Cái mẫu hồi ấy để theo là những Timofeev, Abramovich.. ở Nga, với lại Chu Dương, Lâm Mặc Hàm ở Trung quốc. Nhưng họ nói những chuyện xa xôi, nên chỉ học để dắt lưng làm vốn thôi, chứ hàng ngày, mỗi người vẫn phải lo viết bằng cách trông vào những cái các đồng nghiệp đang làm trước mắt. Vừa học theo vừa chán. Mà về sau ngẫm lại, không khỏi thấy lạ. Điều hay của người ta thì không học được. Điều dở lại cứ ám vào mình, như một thứ duyên nợ có từ kiếp trước.
Trong cái vẻ như là chẳng có bài bản gì cả, rồi một cái nếp riêng đặc trưng cho phê bình cũng đã hình thành. Có một hồi nhớ đến phê bình là nhớ tới những bài viết đậm chất đấu tranh phê phán. Một loạt cây bút nổi lên trong những đợt đấu tranh đó, sau này bị gọi đích danh là xã hội học dung tục, nhưng ai nói kệ họ, các nhà ấy vẫn là những nhân vật chính ngự trị trên diễn đàn, trở thành định nghĩa cho phê bình một thời. Rất nhiều buổi trò chuyện tôi tham gia, nhiều lời tâm sự tôi nghe được, rút lại đều dẫn tới một kết luận không lấy gì làm thú vị lắm: thứ phê bình khô cứng ấy, chẳng qua giới nhà văn lép vế phải bấm bụng công nhận, chứ thực tình không phục, và lại càng không thích. Nguyễn Minh Châu có lần nửa đùa nửa thật nói với tôi:
— Các nhà văn như con gà say tiếng gáy, còn mấy ông phê bình thì như con cáo đứng bên cạnh xui dại: “Bác gáy hay lắm nhưng giá nhắm mắt lại thì còn hay hơn nữa !“. Điều gì xảy ra khi anh nhà văn nhắm mắt lại, thì các ông đọc truyện ngụ ngôn hẳn nhớ.
Như để phản ứng lại cách viết phê bình đứng ngoài áp đặt, dạy đời –, ngay hồi ấy đã có thứ phê bình đi vào bình tán, khen câu thơ này có thần hoặc chê chữ nghĩa người kia dùng không được khéo. Nó có nhiều liên quan đến việc giảng văn. Nói chung là nó thu hẹp việc bàn luận về sáng tác vào các vấn đề kỹ thuật cụ thể, thực chất chỉ muốn giúp cho người ta hiểu kỹ hơn về từng tác phẩm văn học đã được viết ra, còn như cái việc mang chính cái đời sống văn học ra xem xét lại, để rồi giả thiết rằng tất cả có thể làm khác – một điều mà tôi thấy ở những nền phê bình ở các nước khác, khi tôi có dịp tiếp xúc — thì hoàn toàn vắng bóng.
Khoảng mươi mười lăm năm gần đây, thứ phê bình thứ hai này lan ra chiếm gần hết các trang phê bình trên báo chí. Để thích hợp với vai trò giải trí, nó được bổ sung thêm những“mồi nhậu” mới: những lời vuốt ve nhau ca tụng nhau, xếp chỗ nhau trên văn đàn ; hoặc những lời đồn thổi, những thứ giai thoại về các nhân vật nổi tiếng, nghe cho sướng tai. Trong cái vẻ mềm nhũn ra như vậy, nó được đám bạn đọc lười biếng xuýt xoa tán thưởng, và trở thành một định nghĩa mới về phê bình, thay cho thứ định nghĩa đã cũ nói trên.
Tôi không dám liều mạng tự nhận là trong một ít công việc cụ thể bản thân từng làm, đã thoát ra được khỏi hai thứ phê bình trên đây vừa miêu tả. Nhưng có Trời Phật chứng giám, quả thật trong ý thức, tôi có thấy chán cả hai lối phê bình đó, và thử tìm cách thay đổi. Thử trong tuyệt vọng. Nghĩa là một mặt chạy đôn chạy đáo vùng vẫy cựa quậy; mặt khác, khi quay về đối diện với chính mình, vẫn không dứt khỏi cái dự cảm đau đớn, rằng làm được khác đi khó lắm, cái nếp sống chung kia nó đã thành một thứ bản mệnh chung cho bao nhiêu đồng nghiệp, mình sẽ chỉ có cách nhung nhăng mà tồn tại như một phần lớn các “ chúng sinh “ khác.
Hoạt động nào của con người cũng bị chi phối bởi những ràng buộc sâu xa của xã hội. Tuy nhiên, xét trên bề mặt và xét một cách tương đối, vẫn có thể nói: nếu sáng tác thơ truyện thu hẹp trong công việc cụ thể của từng cá nhân thì phê bình được hình thành từ những liên hệ giữa các cá nhân ấy ; khi nói phê bình có nghĩa là nói tới cọ xát, giao đãi, đối mặt, đối thoại. Bởi vậy để hiểu phê bình, phải nói tới những đặc điểm chi phối mối liên hệ tinh thần giữa người với người được hình thành trong môi trường chung, và tồn tại như một thứ khí hậu vô hình mà tác động vào tất cả mọi người. Chung quanh chuyện này, có thể tạm nêu ra một số nét đáng chú ý trong hoàn cảnh hiện nay :
— Xã hội trọng tình hơn trọng lý. Người nói lọt tai, nói vừa lòng người khác, hoặc để người khác cho là “ nghe được “, được trọng hơn người nói đúng.
— Ai cũng tỏ ra thích làm hơn ngồi suy nghĩ bàn bạc về công việc đã làm. Sách vở tổng kết thường bị xem thường. Việc đọc sách bị coi là vô bổ, người ta chỉ sợ mình mang tiếng là xa thực tế và rơi vào sách vở, tuy nói thẳng ra thì số người biết làm việc với sách vở, đọc cho ra đọc, chẳng có bao nhiêu.
— Trong việc tìm hiểu nhau, xem xét đánh giá về nhau, có xu thế nhấn mạnh thế đứng trong, còn thế đứng ngoài thường bị xem là không được việc gì. Câu tục ngữ “ Có nằm trong chăn mới biết chăn có rận “ mặc nhiên được xem như một chân lý tuyệt đối ( trong khi thực ra nó chỉ có ý nghĩa tương đối, trong phạm vi hẹp ! ).
— Các giá trị dùng làm chuẩn mực không ổn định, còn các phát biểu lại thường thích có cái vẻ lung linh nhiều nghĩa “ nói zậy mà không phải zậy “, hơn là chặt chẽ chính xác. Hệ thống định giá hoạt động tuỳ tiện. Chín bỏ làm mười đã đành, mà có khi sáu bảy thậm chí ba bốn cũng thành mười luôn. Và đã một lần mười rồi thì không bao giờ trở lại ba bốn nữa.
— Xu thế bình quân trong xem xét đánh giá được củng cố bởi quan niệm nhấn mạnh tính phong trào hơn tính chuyên nghiệp. Trong một phong trào, các cá nhân hỗn độn chen chúc bên nhau làm nên một tập mờ, và không ai muốn ai nổi lên hơn mình. Còn việc phân loại thường bị chi phối bởi những cơn nóng lạnh thất thường, cũng như cái sự gọi là “trông trước trông sau” lằng nhằng phiền phức (mà hoạt động của các giải thưởng hàng năm ở tất cả các ngành là một ví dụ ).
Bằng những cách thức khác nhau, những đặc điểm trên in dấu vào mọi mối quan hệ giữa người nọ với người kia trong xã hội, song đến phê bình thì thấy rõ nhất. Xét phê bình theo nghĩa hẹp, tức những lời bàn luận về những tác phẩm đang in ra hàng ngày– một thứ động tác giống như bắt cá giữa dòng –, dễ thấy có những nhược điểm đã trở thành bệnh mãn tính không thể lảng tránh :
— Yếu ớt èo uột, ngoại trừ những cuộc đánh đấm hỗn hào, thì sinh hoạt hàng ngày đơn điệu tẻ nhạt, thiếu sinh khí.
— Không thuyết phục được xã hội về sự cần thiết của mình. Không hẳn là báo chí, nhưng cơ hội trở thành văn chương thực thụ bị coi là rất thấp. Chưa làm gì nhiều để cải chính được những cách nghĩ sai, rằng mình là bám càng là ăn theo, là bánh xe thứ năm ngón tay thứ sáu.
— Dễ bị biến dạng thành mối quan hệ tay đôi giữa người viết phê bình và người được phê bình —, trong khi phê bình lẽ ra phải là hướng về tất cả những ai quan tâm tới văn học và nêu ra những vấn đề thiết yếu cho cả xã hội.
— Dường như quá dễ, ai thích thì làm, ai rỗi rãi chưa biết làm gì nhảy vào nói vài câu cũng được, lúc chán thì đánh bài chuồn. Ít người nghĩ rằng đây là công việc của những nhà chuyên môn trải qua đào tạo chắc chắn ; trái lại, xu thế nghiệp dư có nguy cơ bành trướng và được công khai khuyến khích.
Còn xét phê bình theo nghĩa rộng nhất, tức bao hàm cả công việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá những tác phẩm trong quá khứ, rồi nâng lên thành lý luận, người ta sẽ thấy cái yếu về lý tính mà trên kia đã nói có dịp bộc lộ. Nhiều người làm nghề này mà không có khả năng đọc ra từ quá khứ những vấn đề có liên quan tới hiện tại. Vì vậy, họ không đủ sức tác động tới tình hình chung, chính họ sớm cảm thấy những cái mình làm chẳng cần cho ai. Nên chính họ cũng thấy ngán, ngồi đứng không yên, rồi ham vui, ham nổi tiếng, lại nóng máy bỏ sang bàn về những cái trước mắt.
Thời gian gần đây, thấy nổi lên hiện tượng thích nói đến những lý thuyết mới ở nước ngoài. Sau một thời gian dài làm nghề theo lối thủ công, kinh nghiệm chủ nghĩa, nay một số người có ý thức muốn tìm một sự đổi khác, và đây là một phương hướng đúng. Song ám ảnh truyền kiếp không thể bỗng chốc rũ bỏ, trong phần lớn trường hợp các thứ lý thuyết ấy chỉ được nghiên cứu qua loa, chưa kịp tiêu hoá đã mang ra dùng, như một thứ chiêu bài để doạ nhau. Một số người khác lại thích nhấn mạnh tinh thần tự chủ và ý thức phê phán khi tiếp thu lý luận nước ngoài, trong khi quên mất một điều đơn giản: Chính người ta nói gì mình nghe chưa thủng, chưa tìm được cách dịch đích đáng –, thì tìm đâu ra cơ sở để phê phán ?
Những nhược điểm trên đây càng khiến cho lý do tồn tại của phê bình bị đặt thành vấn đề. Trong suốt cuộc đời làm nghề, tôi luôn luôn cảm thấy rằng với nhiều người, cả người trong cuộc lẫn người đứng ngoài, công việc này chỉ là một thứ lao động hạng hai hạng ba gì đó; và một người làm phê bình thuần tuý thường gợi cảm giác một người đi xin việc khi đắt khi ế, một thứ trang trí có thể cần cho người ta một lúc một nhát nào đó rồi thôi. Thân phận người viết phê bình bởi vậy giống thân phận đám dân ngụ cư.Trên chuyến xe văn nghệ, họ chỉ được xếp ngồi ghế phụ.
Đây không phải là ý muốn của riêng ai, đây là xu thế tự phát toát ra từ trong cách làm cách sống của nhiều người, cả người quản lý lẫn bạn đọc, cả người sáng tác lẫn chính người viết phê bình, trở thành một thứ vô thức tập thể, cái đó mới thật khó sửa.
Nhiều người thường chỉ lo bàn về phương hướng phát triển của phê bình.
Việc đó đã đành là cần, nhưng theo tôi, khi nhìn vào cái ngành còn rất non trẻ này, cần kíp hơn là đánh giá thực lực của nó, cái cách nó tồn tại ; và nói chung là xét xem nó đang ở vào trình độ nào trong sự phát triển của một nền phê bình tự nhiên đúng đắn.
Theo hướng đó mà suy nghĩ, từ những yêu cầu cao về nghề nghiệp, tôi muốn mạnh dạn nói: Cũng giống như đô thị ở ta chưa ra đô thị, kinh tế thị trường chưa ra kinh tế thị trường, sử học chưa phải là sử, tiểu thuyết chưa phải là tiểu thuyết… —, phê bình cũng chưa phải là phê bình. Hoặc cố mà nói lấy được, thì đó là một nền phê bình thấp lè tè, kéo lê hàng ngày, vất va vất vưởng. Và tất cả lẽ ra có thể làm khác, nhất định mai đây cần phải viết khác đi ( tuy phải nói ngay có làm được như thế hay không còn là chuyện phi phỏng, tức chẳng có gì chắc chắn cả. ).
Để khẳng định ( hay bác bỏ ) nhận định này, rồi bảo nhau tìm ra một phương hướng phát triển hợp lý, có hai việc có thể và cần phải làm ngay :
Một là trở lại quá khứ, tìm cách phác hoạ lại lịch sử phê bình dân tộc, hoặc nói đúng hơn là làm rõ những mối quan hệ văn học theo kiểu phê bình đã tồn tại ở đời sống văn học nước nhà cả thời trung đại lẫn thời hiện đại. Trong việc này, tốt hơn hết là nhìn phê bình như một hoạt động văn hoá, và sử dụng các công cụ của văn hoá học để xem xét và lý giải nó.
Hai là tìm hiểu một cách tường tận sự phát triển phê bình trong thế giới hiện nay, bao gồm cả những nước có nền phê bình thuộc loại phát triển hơn cả như Mỹ, Pháp, lẫn những nước mà nền văn học của họ có nhiều ảnh hưởng tới văn học ta, như phê bình ở Nga, ở Trung quốc. Qua người hiểu ta, tìm hiểu để tự biết mình đang ở chỗ nào trong sự vận động của thế giới, từ đó tìm ra những gợi ý cho sự đổi khác trong thời gian tới. Trong tất cả các hình thức có thể có của nó, trước sau phê bình cũng phải được nhìn nhận bằng những tiêu chuẩn chung, áp dụng cho mọi nền phê bình văn học đang có ở trên đời này, chứ không có những tiêu chuẩn dành riêng cho phê bình ở Việt Nam../.
2003

Một trăm thứ rượu một ngàn kiểu say


Ai đó đã nói: ngôn ngữ là một thứ đài kỷ niệm ghi lại những kinh nghiệm phong phú của mỗi dân tộc. Thứ đài vinh quang này trung lập, không bị độc chiếm, không phân cấp chia ô theo bất kỳ tiêu chuẩn nào (ví dụ, không có từ nào được coi như có ý nghĩa hơn, rồi nói tới nhiều hơn, từ nào dung tục tầm thường bị lép vế v.v..).
Ngược lại, đấy là khu vực hoàn toàn bình đẳng; tình cảnh đôi khi giống như một bãi đất bao la, từ nào có sức lan ra đến đâu cứ việc bành trướng tới đó. Thành thử, chung quanh hai từ rượu và say, trong tiếng Việt người ta thấy có hàng loạt biến dạng, nẩy nở, sinh sôi. Nhân dịp ngày xuân, chúng tôi đã lục tìm mấy cuốn từ điển Việt, thử tra lại ý nghĩa của các từ ấy. Những tài liệu chính đã được sử dụng: Tiếp tục đọc