Monthly Archives: Tháng Sáu 2009

Biết mình để tránh bệnh tự mê hoặc

Có một truyện cười dân gian VN, ý khá sâu sắc, tôi dựa theo bản trong tập sách in ra ở NXB Văn học từ 1985, tạm kể tóm tắt như sau:

Một anh ngủ mê đến nỗi anh em bạn đùa cạo trọc đầu rồi khiêng bỏ ra chùa cũng không biết. Anh ta tỉnh dậy, thấy mình đầu trọc, lại nhìn cảnh chùa chung quanh, tự hỏi không biết mình là ai, có liên quan gì tới con người hôm qua “ Ta hay sư?…Ta hay sư?..” Miệng lẩm bẩm mà lòng anh canh cánh một nỗi lo, lo rằng chính mình không còn là mình.

Muốn khỏi phân vân, anh ta nghĩ, cứ về nhà thì biết. Quả nhiên lo là đúng. Con chó thấy anh đầu trọc khác thường xô ra cắn.

Anh biết từ nay mình không còn là mình nữa, nên bỏ nhà đi thẳng.

Phần lớn truyện cười ở ta dành để chế nhạo thói xấu lặt vặt con người, những anh chàng nói phét gặp thời, những thầy đồ ăn vụng… Khi tiếng cười cất lên quá dễ dãi cũng là lúc ta nhận ra đời sống tinh thần con người vừa cười đó nhiều phần nông nổi, tẻ nhạt.

Sau cái vẻ hơi khó cười – may lắm chỉ gọi ra những tiếng cười thầm– truỵện trên đây đặt vấn đề về tự nhận thức. Con người ta có khi không còn là mình mà không hay biết. Người tỉnh táo phải biết ghi nhận những đổi thay đã tới với bản thân. Phải nhìn vào chung quanh để tự kiểm tra lại.

Vấn đề tự nhận thức ấy cũng được đặt ta trong một truyện ngắn của Thạch Lam mang tên Người bạn cũ in trong tập Gió đầu mùa (1937).

Nhân vật xưng tôi trong thiên truyện này từ chỗ hăng hái trên con đường dấn thân vào hoạt động cho tiến bộ xã hội, quay trở lại đời sống trưởng giả nơi tỉnh lẻ. Bỗng một người đồng chí cũ (chữ đồng chí này là của Thạch Lam trong nguyên bản) gõ cửa ngôi nhà yên ấm của anh. Bạn gái Lệ Minh trong cảnh khốn quẫn đến tìm anh, trông chờ sự giúp đỡ.

Nhân vật chính sau khi lặng lẽ khước từ người bạn ấy, quay về đối diện với mình. Anh ta lặng lẽ đặt câu hỏi, giữa con người tranh đấu của mình hôm qua và con người trưởng giả hôm nay, đâu là con người thực ?

Tôi không dám trả lời.” Thiên truyện kết thúc bằng một câu lửng lơ như vậy.

Mỗi khi nhắc tới Thạch Lam, người ta hay nhắc Gió đầu mùa, Cô hàng xén, Nhà mẹ Lê hay Hà Nội băm sáu phố phường. Còn Người bạn cũ thuộc loại ít ai đọc và nhớ. Nhưng tôi cho rằng thiên truyện có giá trị ở chỗ đã ghi nhận một mẫu tư duy hiện đại khi mà, từ xã hội trì trệ hôm qua bước ra, các cá nhân trải qua những thăng trầm khiến cho nhiều khi trong một cuộc đời thành ra có nhiều cuộc đời, dưới một cái hình hài tên tuổi nhãn mác chung thực ra nối tiếp tồn tại những con người khác, thậm chí đối lập nhau nữa.

Thông thường trong khi giải quyết đề tài này, các nhà văn chỉ đặt vấn đề đạo đức. Đại khái là sau khi rơi vào tình thế rất kịch như trên, nhân vật có thoáng qua một chút hối hận, để rồi lại tìm ra đủ thứ lý do biện hộ, và mọi chuyện đâu vẫn đóng đấy.

Nhân vật trong truyện của Thạch Lam không chỉ đối phó với cái tình thế trước mắt. Mà sau một cuộc kiểm chứng, anh ta muốn có một cái nhìn chung về con người bản thân. Khi tự thú rằng chưa biết trả lời ra sao — một suy nghĩ rất lương thiện — thật ra anh ta đang đi dần tới sự tự chủ để có được cách hành động thích hợp trong quãng đời còn lại. Kể cả khi cứ con đường cũ mà đi thì đó vẫn cứ là một nhân cách đáng trọng.

Con người thời nay đã quá khôn ngoan. Giả sử bây giớ tôi ngớ ngẩn lên tiếng khuyên ai đó hãy lo tự nhận thức, thì người ấy sẽ lập tức đáp trả lại rằng “ biết người biết mình là chuyện tối thiểu trong trường đời, có ai còn lạ mà ông phải dạy đĩ vén váy”.

Thế nhưng theo sự quan sát của tôi thì trước nhu cầu tự nhận thức hiện nay thường có mấy đáp án phổ biến:

Một là, nói cho xong chuyện, chứ thực ra người ta rất ngại ngồi đối diện với mình tự vấn lương tâm mình. Trong khi mải mê hành động, họ coi chuyện tự tìm hiểu chính mình chỉ là chuyện xa xỉ của lũ người rỗi hơi ngồi mà nghĩ quẩn.

Hai là nhiều người tự mê hoặc, tin chắc rằng mình sống chỉ có đúng, làm việc gì chỉ có lương thiện tốt đẹp “ vì nước vì dân”. Với họ con người ta chỉ cần xuất phát từ một “cái tâm trong sáng” là đủ, không thể có chuyện một động cơ đúng đắn, nếu không biết thực hiện, lúc nào cũng có thể dẫn đến những kết quả tai hại.

Ba là mỗi người chỉ công nhận có một con người duy nhất ở mình, lại tưởng hôm qua thế nào hôm nay vẫn thế. Có thể họ cũng từng có một quá khứ tốt đẹp. Chỉ có điều sau đó, trước những hư hỏng không thể chối cãi, thì họ lảng tránh. Làm nền cho mọi sự dối trá càn rỡ là một lối nghĩ khô cứng. Những khái niệm như tha hoá không thể có chỗ đứng trong suy nghĩ của họ về bản thân.

Xin miễn bình luận về tác hại của những con người như thế này trong đời sống. Họ khá đông đảo. Về mặt văn hoá, tôi chỉ muốn nói trình độ làm người của họ là thấp hơn so với nhân vật của Thạch Lam, thậm chí là thấp hơn cả nhân vật trong truyện cười dân gian trên đây vừa kể.

Saigon times Online

Tuổi trẻ văn học của tôi

Vi Thùy Linh nói với Phong Điệp , bài in trên Văn Nghệ trẻ và trang web của PĐ

Tôi thấy những nhà phê bình thực sự họ đã lảng tránh, né tránh và không làm tròn bổn phận của mình . Họ chỉ viết báo vì mưu sinh, thời cuộc , vì các mối quan hệ, chứ không bao giờ thực hiện như công năng của một nhà phê bình cần phải lên tiếng. Ở đây tôi muốn nói đến trách nhiệm của nhà phê bình chứ không có nghĩa là yêu cầu họ bênh vực cuốn sách của tôi hay một ai đó cụ thể. Tôi thấy trong những lúc “nước sôi lửa bỏng” nhất họ lại quay ra bàn về thơ Xuân Diệu, bàn về Thạch Lam… Có người nói rằng họ không ghi nhận thơ trẻ nhưng lại đứng tên biên tập cho một tập thơ trẻ – một cuốn sách theo tôi là đồi bại, và quả thật sau đó đã bị thu hồi. Khi sự việc xảy ra, nhà phê bình này trả lời báo chí là ông không đọc kĩ tập thơ. Vậy sao ông còn treo tên biên tập, trong khi có lần chính ông nói rằng ông rất quý, và có trách nhiệm với cái tên của mình. Tóm lại các vấn đề thời sự văn nghệ họ không “xung kích”, họ lảng một cách có ý thức. Tuy vậy, tôi vẫn thấy có những nhà phê bình như Nguyễn Hòa, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Xuân Nguyên… là những người có đọc thơ trẻ,quan tâm và ủng hộ thơ trẻ. Ủng hộ ở đây không phải là khen thơ trẻ mà ủng hộ mong muốn làm mới của những người viết trẻ và viết bài về thơ trẻ. Tiếp tục đọc

NGHIÊN CỨU HUế , món quà tặng bất ngờ

Thành phố của sông Hương núi Ngự trên đường tự tìm lại chính mình qua các công trình nghiên cứu đáng gọi là có chất lượng khoa học

Nghiên cứu tìm hiểu quê hương đang là công việc được khởi động một cách hào hứng ở nhiều địa phương . Tuy nhiên cũng phải nói ngay là các bài báo và cuốn sách loại này thường có phần xốp nhẹ . Chúng được biên soạn một cách vội vã và theo một cách thức đơn giản . Tình yêu — ở đây là tình yêu của các soạn giả đối với mảnh đất mình đang sống — nồng nhiệt song nông nổi .
Cách hiểu về một vùng văn hoá thì khá chật hẹp .Truyền thống lịch sử hay được nói tới nhưng không được quan niệm một cách cụ thể . Bóng dáng của ngày hôm nay che lấp tất cả quá khứ . Tưởng rằng lớn lên trên mảnh đất quê hương thì sẽ hiểu nó hơn ai hết , người ta không giấu giếm nổi cái ý muốn áp đặt những kiến thức thô lậu cho người đọc .Việc sử dụng quá nhiều những lời lẽ hoa mỹ khiến cho các bài viết và các tập sách mang nặng tính cách khoe khoang mà thiếu sức thuyết phục .
Đặt trong cái nền chung ấy , bộ sách Nghiên cứu Huế ( đã ra đến tập thứ ba ) muốn trình ra một phương hướng nghiên cứu có nhiều phần khác .
Công trình ra đời dưới hình thức sách , song lại na ná như một tạp chí bởi sẽ liên tục có nhiều số , mỗi số có nhiều loại bài khác nhau . Đối tượng được mang ra xem xét một cách thận trọng . Lịch sử được đối thoại chứ không phải được gán cho những ý nghĩa có sẵn . Dường như các soạn giả muốn nói chính các ông cũng đang mày mò tìm kiếm cũng đang muốn bằng mọi cách hiểu thêm về Huế của mình .
Chung quanh ý niệm “thế nào là một vùng đất văn hoá ?”, tuy không định nghĩa rõ , song nội dung các bài nghiên cứu cũng như các tư liệu được công bố cho thấy những người chủ trì tập sách có một quan niệm rộng rãi mà lại chắc chắn . Có bài nói về nhà Huế chợ Huế bên cạnh đó là bài về cầu Huế ,chùa Huế , rừng du ngoạn ở Huế …Có bài nói tới cây Baobap ( một loại cây thuộc họ gạo nhưng hoa trắng nở vào mùa hè ) duy nhất trong thành phố . Có bài mang một cái tên đơn giản Sông Hương có cái tên ấy tự bao giờ ? Khá nhiều bài nói về cách sống của người Huế trong đó có những bài nói về từng con người cụ thể , kể cả những nhân vật có tên trong lịch sử như Trần Quý Cáp Nguyễn Văn Tường Đặng Văn Ngữ … lẫn những nhân vật được truyền tụng trong dân gian như Cậu cả Hót . Những ai từng đọc Quê mẹ của Thanh Tịnh hẳn còn nhớ thiên truyện Con ông Hoàng trong đó khắc hoạ loại nhân vật quý tộc thất thế mà không bao giờ từ bỏ nổi cái chất đài các của mình ( Thơ Nguyễn Bính : Loanh quanh xóm vắng đường gần — ấy ai làm dáng phi tần với ai ) . Cậu cả Hót là một nhân vật có cái chất riêng đó của Huế . Có thể nói đây là cả một tính cách mà người thuộc Huế hiểu Huế thường truyền tụng và nay rất cần được ghi chép . Một khi loại ghi chép này được tiếp tục , Nghiên cứu Huế sẽ hứa hẹn nhiều trang sách thú vị .
Nếu như nét đặc sắc của văn hoá Huế là ở tính chất cung đình , cái vẻ quý tộc hầu như ẻo lả yếu ớt song lại hiếm hoi của nó thì lịch sử hình thành của Huế lại đi liền với lịch sử triều Nguyễn , một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất mà cũng bi thảm nhất của xã hội nước ta trước khi bước vào lịch sử hiện đại . Nhưng lâu nay văn hoá Việt nam thường được đồng nhất với văn hoá bình dân , cái chất quý tộc kia bị lảng tránh coi như không có , còn lịch sử thế kỷ XIX thì bị thành kiến nặng nề và do đó làm nghèo đi rất nhiều . May thay ở cái chỗ mà một số nhà viết sử thấy ngán thì các tác giả Nghiên cứu Huế không ngán . Ngay từ tên gọi một số bài viết đã nói rõ cái phần nội dung được nghiên cứu nghiêm túc trong đó : Danh và hiệu của các vua nhà Nguyễn , Quốc sử quán triều Nguyễn ,Vấn đề tài sản trong luật pháp hôn nhân và gia đình dưới triều Nguyễn …
Có thể nói đây là một phương hướng khai thác đúng đắn nó mở ra cho việc nghiên cứu Huế một trường hoạt động rộng rãi . Vua quan nhà Nguyễn cũng là người Việt , lịch sử nhà Nguyễn cũng là một phần lịch sử Việt Nam , làm sao mà đánh bài lờ mãi được ?
ở trên chúng tôi đã nói qua về các tập sách nghiên cứu về từng vùng đất đang được biên soạn . Một trong những khía cạnh non kém không thể khắc phục của một số bài viết trong loại sách đó là ở chỗ tác giả của chúng vô tình hay hữu ý tách rời địa phương được nghiên cứu khỏi cái mạch chung của văn hoá cả nước , và lầm tưởng rằng làm thế là đề cao được văn hoá của địa phương mình , có biết đâu lại khiến cho các bài viết ấy có tính chất tỉnh lẻ rõ rệt . Nghiên cứu Huế chọn cách làm khác . Khái niệm về nghệ thuật trị quốc ở Việt Nam , Xứ đàng trong vào thế kỷ XVII và XVIII : một mô hình khác của Việt Nam , Bối cảnh lịch sử Việt nam khi người Pháp đến ,Về một nguyên nhân làm suy thoái đất nước vào giữa thé kỷ XI X .. , đấy là tên gọi một loạt bài nghiên cứu khá công phu được in chúng đã nói rõ quan niệm của những người làm sách : Đặt Huế trong cái mạch chung của cả nước . Một cơ sở phương pháp luận hợp lý đã mang lại cho Nghiên cứu Huế một lượng bạn đọc tối đa mà nó có thể có .
Với tinh thần khoa học nghiêm túc , nhóm biên soạn đã để công sưu tầm được những tài liệu phải nói là qúy hiếm . Đáng nói ngay ở đây là hai loại :
Đầu tiên là những tài liệu người xưa viết bằng chữ Hán . Lâu nay tôi cứ nghĩ các cụ xưa ít chịu viết hồi ký , nay với Nghiên cứu Huế ba số đầu , tôi đã có trong tay Lý lịch sự vụ lẫn Khúc tiêu đồng . Cuốn trước là của một quận công thời đầu thế kỷ XIX , công lao đóng góp từng được ghi trong Đại Nam chính biên liệt truyện . Cuốn sau là một thứ nhớ gì ghi nấy của một viên quan nhỏ sống đến những năm sáu mươi gần đây , nhiều tài liệu ghi được mang ý nghĩa xã hội học đáng quý .
Thứ nữa là các tài liệu của người nước ngoài bao gồm từ Nhật ký gặp vua xứ đàng trong của một nhà buôn Anh thế kỷ XVIII , hồi ký của một trung uý hải quân Hoa kỳ đến Việt nam đầu thế kỷ XIX … cho tới các công trình nghiên cứ về Việt Nam của J. Che sneux , D. Marr … hoặc của một giáo sư người Việt đang dạy ở Đại học Paris là Nguyễn Thế Anh .Cũng theo cái mạch này cuối mỗi tập sách đã in còn có in thêm Thư tịch chú giải lịch sử VN qua các tạp chí của trường Viễn Đông Bác cổ ( giai đoạn 1901-1970 ) của Hội nghiên cứu Đông Dương ( giai đoạn 1865-1970 ) và qua các tạp chí France Asie ( giai đoạn 1946-1970 ) .
Hôm nay Nghiên cứu Huế mới được in ra song hình như nó đã được chuẩn bị một cách công phu từ nhiều năm trước và xem qua cách biên soạn thì công việc còn được triển khai lâu dài . Chẳng những trong từng bài vở cụ thể mà cả trong quan niệm chung toát ra qua các bài vở ấy , bộ sách như muốn đạt tới vẻ đẹp cổ điển , nó là cả một sự thách thức đối với tình hình nghiên cứu vốn khá luộm thuộm hiện nay . Bởi sự thách thức đó đến từ một nơi lâu nay ít ai nghĩ là có thế mạnh về khoa học nên có thể nói đấy lại là một bất ngờ đầy thú vị mà Huế và người đất Huế dành cho chúng ta.

Nghiên cứu Huế ấn phẩm của Trung tâm nghiên cứu Huế , Nguyễn Hữu Châu Phan chịu trách nhiệm xuất bản đồng thời là người đứng đầu Hội đồng biên tập . Mỗi số từ 330 đến 380 trang khổ lớn . Tập một đã in tháng 6—1999 ; tập hai, tháng 2-2001 ; tập ba tháng 12 – 2001 . (Sau một thời gian tạm ngưng, Tạp chí Nghiên cứu Huế, một tạp chí có uy tín về nghiên cứu, học thuật ở miền Trung do ông Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, đã tiếp tục ra số mới nhất vào tháng 7.2008 (số 6))

Tôi không lạc quan như Nguyên Ngọc

Nối dài cuộc trao đổi về tiểu thuyết
Lời người biên tập: Khá lâu sau khi chuyên đề “Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu” được khép lại vì lý do những người tham gia chỉ coi đây là dịp phô trương các quan niệm mà nội hàm của chúng còn rất mỏng, rất mờ nhạt, chúng tôi đã nhận được bài viết của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn. Chúng tôi định viết mail trả lời ông rằng: chuyên đề này đã mở ra và cũng đã đóng lại nhưng không có gì nối kết giữa chúng, cứ như ngôi làng có cả cổng tiền lẫn cổng hậu nhưng khoảng giữa chỉ là khoảnh đất trống vắng, không người. Nhưng đọc kỹ bài viết của ông Vương Trí Nhàn, thấy ông thực có lòng có bề và cách nhìn nhận, đánh giá về tiểu thuyết cũng như văn giới đương đại của ông có nhiều điểm khác biệt (ít nhất chúng cũng bình tĩnh hơn, lạnh hơn) với những bài đã đăng trong chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu, chúng tôi lại xin được giới thiệu cùng độc giả…

Tôi không lạc quan như Nguyên Ngọc

Ban biên tập VietnamNet đã tuyên bố kết thúc cuộc trao đổi chung quanh đề tài “Tiểu thuyết VN đang ở đâu?”, nhưng sau đây, chúng tôi xin phép được trở lại với một số vấn đề đã nêu trong cuộc trao đổi có liên quan tới tình hình sáng tác và nghiên cứu hiện nay, và dừng lại kỹ hơn ở phần ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc:

1/ Dăm bảy năm nay khi nghe nhiều cuộc thi tiểu thuyết được phát động, tôi vẫn không tin là có hiệu quả, nếu có vài cuốn đọc được chỉ là cầu may, chứ không bao giờ có một “mùa màng bội thu “ như người ta mong mỏi. Vì sao? Vì trên phạm vi toàn thế giới, từ thế kỷ XX, thời các nhà văn có thể làm ăn theo kiểu mò mẫm đã qua. Đã tới lúc mọi tìm tòi phải được nâng lên thành quan niệm để làm kim chỉ nam hướng dẫn hoạt động. Những cuộc trao đổi về quan niệm, như VietnamNet vừa làm là dấu hiệu chúng ta bắt đầu tính chuyện đi tìm cái chìa khoá đích thực để giải quyết tình hình. Còn như tình trạng cuộc thảo luận bị bỏ dở chỉ cho thấy một thực trạng: muốn là một việc, làm được hay không là việc khác hẳn. Phải nói là cảm giác lúng túng này đang thấy rõ ở nhiều hoạt động xã hội khác chứ không chỉ trong văn học .

2/ Bài viết xuất sắc nhất và mang nhiều tâm huyết nhất trong đợt trao đổi này là của nhà văn Nguyên Ngọc: Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách. Phải nhận trong bài có hàng loạt điểm gợi mở không có ở các bài khác:
– Tác giả sớm đưa ra một quan niệm về tiểu thuyết, là điểm xuất phát cần thiết mà thiếu nó, tức có những cách hiểu khác nhau về tiểu thuyết, người ta sẽ không bàn bạc được gì với nhau hết .
– Hơn nữa, cái quan niệm Nguyên Ngọc đưa ra và dùng để đối chiếu với tình hình đó là một quan niệm hiện đại, chúng ta rất cần học hỏi để tiếp nhận. Nhiệt tình chính trong nhiều bài viết của Nguyên Ngọc thời gian gần đây là nhiệt tình khẳng định rằng văn học ta đang trong giai đoạn trì trệ và chỉ có cách hiện đại hoá nó, chúng ta mới tạo nên một sức bật mới cho văn học, từ đó tạo nên một nền văn học có ích như ông quan niệm.
– Ngoài quan niệm, bài của Nguyên Ngọc đặc biệt đáng quý ở mong muốn bao quát tình hình văn học đương thời và muốn hướng dẫn nó, gợi ý cho nó một hướng phát triển.

3/ Tuy nhiên ở Nguyên Ngọc cũng đã thấy bộc lộ hàng loạt nhược điểm, một là quan niệm chưa rõ ràng, hai là thực tế sáng tác được đưa vào liên hệ cho quan niệm lại bị khái quát sai lệch và thứ ba là một sự tự tin rằng mình độc quyền chân lý dễ gây phản cảm.
Về điểm thứ nhất: Trong khi rất có ý thức về sự cần thiết phải có một quan niệm thì tiếc thay quan niệm về tiểu thuyết được ông trình bày cũng chưa có gì rõ ràng. Vấn đề không phải là sự phân biệt giữa tiểu thuyết và truyện ngắn truyện vừa, mà vấn đề là ở chỗ tìm xem trong lối khái quát đời sống, tiểu thuyết có gì khác với các hình thái tư tưởng khác. Theo nghĩa này, những luận điểm mà Nguyên Ngọc nhắc lại từ Kundera như “ nghệ thuật về sự bất định của cuộc đời, sự phi chân lý độc tôn “ về “cuộc dò tìm mãi mãi cái mới bất định vô tận của số kiếp con người “ đâu phải là độc quyền của tiểu thuyết kể cả tiểu thuyết hiện đại. Đúng hơn, phải nói nó là đặc điểm của tư duy hiện đại nói chung; ảnh hưởng vào tiểu thuyết ra sao, cần phải được nói rõ hơn.

Về điểm thứ hai: Nhiều người vốn trông đợi ở Nguyên Ngọc đoạn ông điểm qua tình hình sáng tác hiện thời. Tiếc thay, theo tôi đây là đoạn đáng thất vọng. Trong một bài viết có ý muốn khái quát định hướng cho cả một nền văn học mà tác giả lại khá tuỳ tiện trong việc kể tên các nhà tiểu thuyết (về bản danh sách này, bài Trao đổi cùng nhà văn Nguyên Ngọc của Thuận đã có những nhận xét khá xác đáng). Nói một cách chặt chẽ thì, Nguyên Ngọc chưa nghiêm túc tìm cách trả lời cho câu hỏi tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu.

Không chỉ khái quát về tình hình tiểu thuyết mà ở đoạn cuối bài viết “Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách, Nguyên Ngọc cũng muốn đưa ra khái quát về tình hình văn học đương thời, nhất là những gì liên quan đến các nhà văn (bản thân tiêu đề chung của bài báo đó xác định cái tham vọng ấy của ông). Tôi cho rằng đoạn này cũng có phần hồ đồ và lầm lẫn. Bởi nói tới tư cách của một người cầm bút, trước hết phải nói đến chất lượng sáng tác, muốn đánh giá họ hãy căn cứ vào sáng tác – chứ còn mọi ý đồ mọi lời tuyên bố đều vô nghĩa. Thế mà sáng tác của chúng ta thì đang ấm ách trì trệ; một vài cây bút được đề cao chẳng qua chỉ là “ chọc”thẳng vào cái bực bội nặng nề trong tâm lý đại chúng; nhìn rộng ra thấy không ít nhà văn khi xuất hiện đầy hứa hẹn, viết được một hai cuốn rồi cũng xuống tay và bỏ nghề luôn.Thế thì biết nói gì với nhau bây giờ?!. Đấy là xét trên nguyên tắc. Còn trong thực tế, nhìn thẳng vào giới nhà văn hiện thời, phải nhận số có tư cách thực sự cũng không bao lăm; nhiều người chỉ nói miệng, tát nước theo mưa kiếm danh, chứ chẳng để tâm làm việc mà cũng chẳng có lòng có bề gì với đời sống; hoặc có lòng nhưng lại không có hiểu biết tương xứng và không hiện thực hoá được thiện chí của mình.

4/ Tôi muốn dành một phần riêng để nói về nhược điểm thứ ba trong “Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách“, tức là thử tìm hiểu tại sao bài viết lại gây ra phản cảm, ở một số người như Thuận và một số người khác, trong đó có tôi.

Trong nhiều phát biểu gần đây trên báo chí trong và ngoài nước, Nguyên Ngọc từng trở đi trở lại với cái ý rằng ở ta hiện đại hoá mà ông muốn chúng ta đi theo bắt đầu từ Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh. Bề nào mà xét thì ý kiến này cũng không thể chấp nhận được. Thế còn những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân trước đó hoặc về sau này Nguyễn Khải thì sao? Theo chỗ tôi nhớ, Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Ngọc Tấn tác giả Trăng sáng Đôi bạn chứ không phải Nguyễn Thi) hồi viết Im lặng cũng có tư duy khá hiện đại. Lấy một ví dụ nữa. Những năm Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp viết tốt nhất cũng là thời gian Tô Hoài cho in Cát bụi, chân ai , một cuốn gọi là hồi ký cũng được mà là tiểu thuyết cũng được, và đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn của tiểu thuyết mà Nguyên Ngọc đưa ra. Thế thì tại sao trong đầu Nguyên Ngọc hình như chỉ có hai nhà văn nói trên? Tôi tự cắt nghĩa cho mình thế này: việc hình thành tài năng của hai nhà văn Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp hồi ấy có gắn với nhiều đóng góp của Nguyên Ngọc cho đời sống văn học, vì thế sự kiên trì nói trên của tác giả Đất nước đứng lên là có thể hiểu được. Song tôi cho rằng không nên đặt tình cảm lên trên sự thực khách quan như vậy.

Có điều lạ mặc dù rất mê Kundera và không bỏ lỡ bất cứ dịp nào có thể tuyên truyền cho các quan niệm của Kundera song trong thực tế suy nghĩ của mình, Nguyên Ngọc lại đi ngược quan niệm mà nhà văn Pháp gốc Tiệp này khởi xướng. Tôi nói thế bởi vì (không biết có bạn đọc nào chia sẻ với tôi không) đọc Nguyên Ngọc trong lý luận luôn luôn cảm thấy ông quá tự tin, quá độc đoán, và trong khi đề cao quan niệm có nhiều chân lý thì ông lại cho thấy ông chỉ muốn bạn đọc tin một chân lý duy nhất là cái chân lý mà ông đã dày công nghiên cứu giới thiệu.

5/ Tôi tạm hình dung ra chúng ta đang có một không gian tiểu thuyết như thế này: cái cũ đã quá thoái hoá mòn mỏi mà cái mới chưa tới; phần lớn nhà văn làm việc trong mò mẫm thiếu lý luận và không sẵn sàng tiếp nhận lý luận; những quan niệm nước ngoài đưa vào thường không được chúng ta hiểu thấu và rất khó có cơ hội vận dụng; người khao khát đổi mới có thể có, nhưng người biết đổi mới một cách thực sự không có, chưa có; chúng ta còn rất thiếu những nhân cách văn học lớn, những cây bút đầu đàn dẫn đường …
Đấy là những điều còn lại trong tôi từ cuộc trao đổi trên VietnamNet nói chung và bài của nhà văn Nguyên Ngọc nói riêng .
Về tình hình chung, tôi bi quan chứ không lạc quan như Nguyên Ngọc.
Biết rằng tiểu thuyết của mình còn ít, và người Việt mình (chứ không phải chỉ các nhà văn) vốn thích làm hơn thích nghĩ, nhưng tôi vẫn cho rằng nay là lúc các nhà văn nên bớt viết để nghĩ nhiều hơn về tiểu thuyết. Nhất là xã hội nên lo nuôi lấy vài người chuyên đi vào tìm hiểu giới thiệu lý luận cũng như thực tế sáng tác tiểu thuyết ở nước ngoài. Bảo nhau thành khẩn học hỏi kiên trì làm một thời gian, rồi may ra dăm mười năm nữa, chúng ta mới theo kịp sự phát triển của tiểu thuyết trên thế giới.
Đề nghị của tôi: cần khởi động lại cuộc trao đổi về tiểu thuyết (tôi không muốn dùng chữ hâm lại vì nó gợi cảm giác gượng gạo và không thấy rằng chúng ta cần làm tốt hơn những gì chúng ta đã làm)
5/12/05
VietNamNet
đọc thêm Nguyên Ngọc: Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách

Ngả nón trông đình

(Trở lại với những ngôi đình thân thuộc)
Trong tâm thức người Việt, làng là một ý niệm sâu sắc. Sau khi nói đến nước, là người ta nghĩ ngay đến làng.
Tính tự trị cao của từng làng được hình thành và duy trì cùng với thời gian.
Khi nhiều làng “tự trị” như vậy sống cạnh nhau, người ta phải tìm tới những biểu trưng riêng của mình.
Đình làng là một trong những biểu trưng đó, đúng hơn, đây chính là biểu trưng quan trọng nhất.
Nhưng đặt trên cái nền rộng lớn của lịch sử những ngôi đình khác nhau của những cái làng ở cạnh nhau, lại thống nhất trong những đặc điểm chung, và làm nên một cốt cách văn hoá chung. Lẽ tự nhiên, việc nghiên cứu đình làng là một trong những bước đi cần thiết trên đường tiến tới một hiểu biết đầy đủ về truyền thống văn hoá dân tộc.
Cuộc kiểm kê đáng tin cậy.
Cuốn sách dày 436 trang, khổ 25 x 25 cm, bìa cứng in đẹp, trong đó, sau phần I có tính cách dẫn luận là phần thứ II mang tên giới thiệu một số ngôi đình ở Việt Nam. Cả thảy có tới 62 ngôi đình đã được miêu tả trong phần II này. Trung bình mỗi đình được dành riêng 5 trang, trong đó, sau một ít ghi chú cần thiết là nhiều ảnh minh hoạ. Ví dụ như trường hợp đình Thổ Hà ở Bắc Giang phần thuyết minh nói rõ từ địa điểm làng xã có ngôi đình, diện tích khu đất trong đó đình được xây dựng… cho tới năm dựng đình, năm trùng tu, những chi tiết đáng chú ý khi quan sát kiến trúc ngôi đình, kèm theo cả sơ đồ mặt bằng và mắt cắt đình. Phần ảnh minh hoạ ở đây không chỉ có ảnh chính diện, đầu hồi, cấu trúc bên trong, các hoạ tiết trên vì kèo và ván nong mà còn có ảnh chụp cổng làng Thổ Hà, ở ngay bên cạnh đình, vốn cùng với đình tạo thành một cụm cảnh quan thống nhất.
Trở lại với phần giới thiệu chung về đình Việt Nam, có thể gọi là phần dẫn luận: Nói về nguồn gốc đình, tác giả nêu một nhận xét khái quát: các ngôi đình xưa nhất còn biết niên đại đều thuộc thời Mạc hay thế kỷ XVI, song nếu căn cứ vào các bi ký, phải ghi nhận sự có mặt của đình từ thế kỷ XV, (tức thời nhà Lê). Chi li hơn nữa, có thể nói là suốt thời sơ sử, ý niệm về một ngôi nhà công cộng của làng xã đã nảy sinh, và đã có những ngôi nhà tương tự, dù chính chữ đình chưa xuất hiện. Mối liên hệ có thể có giữa đình của người Kinh và ngôi nhà rông của người Thượng, nhưng dấu vết còn lại của kiểu nhà sàn trên các ngôi đình cổ… xác nhận dự đoán nói trên.
Gần một nửa số trang trong phần dẫn luận được dành để nói về kiến trúc đình qua thời gian và không gian, trong đó nhắc tới từ việc chọn thế đất làm đình, các kiểu đình, cho tới kỹ thuật dựng đình. Theo các tác giả, kiểu kiến trúc đình không chỉ thay đổi theo thời gian mà còn theo không gian. Nhìn bao quát từ những ngôi đình đầu tiên được xây dựng ngoài đồng bằng sông Hồng, rồi lần theo đặc điểm các ngôi đình ở miền Trung và sau hết ở Nam bộ, tác giả chỉ ra những thay đổi trong mặt bằng kiến trúc, qua đó, gọi ra cả quá trình mở mang bờ cõi của người Việt.
Tới phần điêu khắc đình làng. Sau khi bảo rằng: “điêu khắc Việt Nam cũng tồn tại ở chùa, đền, các kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không đâu, nó được biểu hiện hết mình như ở đình”, tác giả nêu ra hoặc dẫn lại ý kiến người khác có liên quan đến việc làm đẹp cho các ngôi đinh. Trong số này, có một gợi ý khá táo bạo, cho rằng có thể “đọc ra” trong điêu khắc đình làng, những ý tưởng vốn là đặc trưng của mỹ thuật hiện đại. Sự có mặt của tư duy dân gian mang lại cho những nơi tôn nghiêm như đình một vẻ sinh động kỳ lạ. Như ở đình Phù Lão (Bắc Giang), dựng năm 1688, “trên các đầu rồng hay râu rồng thường có hình phụ nữ nằm hay ngồi, khoả thân hay vén váy cao, để hở cả bộ phận cần che đậy, một mình hay cùng với bạn trai”. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng không còn những cảnh sinh hoạt dân gian này nữa – tác giả nhấn mạnh hai phần tiếp theo trong bài dẫn luận dành để nói về thần và tín ngưỡng ở đình, cùng là lễ hội ở đình. Các đình đều thờ thành hoàng, nhưng nguồn gốc các thành hoàng này thì rất khác nhau, có khi là nhân vật lịch sử, nhân vật nổi tiếng trong vùng, có khi là ông tổ nghề hoặc người có công lập ra làng. Cũng đa dạng như vậy là sự chuyển dịch từ lễ sang hội. Bạn đọc muốn làm quen với đời sống hội hè ở nông thôn có thể tìm thấy nhiều chi tiết thú vị khi đọc các đoạn kể lại các trò diễn độc đáo như tục “cướp kén”, lễ “lấy giờ” (có liên quan đến tín ngưỡng phồn thực) “đua thuyền” “cướp cầu”. Phần giải trí thuần tuý của các hội làng, như diễn xướng, ca hát cũng được nhắc qua, trong sự liên quan của chúng với ngôi đình.
Khả năng tổng hợp và những trích dẫn có sức nặng.
Trong cuốn sách của mình GS. Hà Văn Tấn và các cộng sự trước tiên muốn có một sự mô tả càng chu đáo tỉ mỉ càng tốt. Cuốn sách dày 436 trang khổ to (25×25), trong đó, phần chủ yếu là dành để nói về 62 ngôi đình có thể gọi là tiêu biểu cho “văn hoá đình” trong cả nước. Tạm làm một cuộc so sánh: Trong cuốn Việt Nam di tích và thắng cảnh của nhóm Đặng Đức Siêu, Nguyễn Vinh Phúc (1991), tổng số đình được nhắc tới chỉ có 14; trong cuốn
Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam do Hữu Ngọc chủ biên (1997) con số này là 16. ấy là không kể, trong khi ở các cuốn sách trên, chỉ có lời lẽ, thì cuốn Đình Việt Nam chủ yếu là một cuốn sách ảnh, bên cạnh ảnh chụp toàn cảnh các ngôi đình, là những bức ảnh đi vào đặc tả từng mái đình, hoặc những hình điêu khắc chạm trổ trên cột, trên vì ngang, xà kèo, ngoài ra có trường hợp như đình Yên Sở, cả ngôi đình có tới 22 ảnh minh hoạ (9 ảnh trong số này chụp riêng về một số hoạ tiết của dải trang trí trên vách tường đình vốn là một nét triêng chỉ đình Yên Sở mới có). Trong phần dẫn luận, ngôi đình lại được khảo cứu trên nhiều phương diện, từ sự xuất hiện của chữ đình trong các bộ lịch sử ra đời khá sớm, cho tới tính liên tục của các công trình kiến trúc này trong thời gian và không gian. Nếu như lâu nay, nhiều người chỉ biết tới những ngôi đình có niên đại vào khoảng các thế kỷ XVI-XVII ở đồng bằng Bắc Bộ, loại như Tây Đằng, Chu Quyến, Thổ Hà, Đình Bảng… thì với cuốn Đình Việt Nam, người ta còn được làm quen với nhiều ngôi đình được làm muộn hơn và tồn tại từ Thanh Hoá, Nghệ An trở vào, qua Quảng ngãi, Bình Thuận cho tới các làng ở Nam bộ. Lịch sử dân tộc in dấu một phần trong lịch sử các ngôi đình từng nối tiếp nhau xuất hiện.
Không kể các tài liệu nghiên cứu của người Pháp, ngay nhiều cuốn sách bàn về văn hoá Việt Nam xuất hiện trước 1945, như sách của Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoan đã nói tới đình। (Năm 1931, Nguyễn Văn Khoan đã cho in một cuốn sách mỏng mang tên Lược khảo về cái đình). Từ sau 1945, đình còn thường được nhắc tới qua các tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Cung, Ngô Huy Quýnh, Thái Bá Vân, Nguyễn Du Chi, Trần Tuỵ v.v… (ở Sài Gòn cũ, Toan Anh đã viết về đình trong cuốn Làng xóm Việt Nam của bộ Nếp Cũ, và Kim Định đã bàn hẳn về Triết lý cái đình trong một chuyên khảo nhỏ). Đặt trong hoàn cảnh ấy, phần Dẫn luận của cuốn Đình Việt Nam hôm nay đã tìm cách tổng hợp, để giúp cho người đọc có một sự tiếp cận liên ngành và đa ngành đối với đối tượng cần nghiên cứu. Ngoài phần kiến thức lịch sử mà người chủ biên là một chuyên gia, bài viết trong phần dẫn luận còn thu hút được những ý tưởng hay từ các cuốn sách xuất bản đây đó. Ví dụ như trong đoạn viết về điêu khắc đình, dẫn ra được những đoạn khá hay của Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng, đoạn viết về lễ hội ở đình, có sự tham khảo với các tài liệu viết về lễ hội nói chung ở đồng bằng Bắc bộ. Riêng đoạn nói về ngày cất đình dẫn lại một đoạn văn rất có không khí. Mà bài viết về Thợ làm đình Cúc Bồ này lần đầu in trong một tài liệu ngay giới chuyên môn cũng không phải ai cũng biết, đó là cuốn Nghề cổ truyền (do Tăng Bá Hoành chủ biên. Ty văn hoá Hải Hưng xuất bản). ở đây, chúng ta bắt gặp một cử chỉ đẹp – một nhà khoa học cỡ đầu đàn trong ngành lịch sử Việt Nam như Hà Văn Tấn trích dẫn tài liệu người khác, kể cả học trò của mình, một cách khoa học sòng phẳng, chứ không lấy của thiên hạ, rồi xào xáo làm của mình.
Một số gợi ý về mặt văn hoá.
Khi đã trở thành một biểu trưng của làng xã Việt Nam, thì đồng thời trong đình – sự tồn tại của nó, cách kiến trúc, cách người ta sử dụng nó v.v… cũng hàm chứa những thông số chung về văn hoá Việt Nam. Nói là hàm chứa, tức mọi sự không bày ra rành rành mà chờ người đến đọc, phân tích, giải mã.
Tuy bàn dẫn luận của cuốn Đình Việt Nam không đặt ra mục đích khám phá những khía cạnh của văn hoá Việt Nam qua các công rình kiến trúc độc đáo này, song do cách trình bày của tác giả người đọc vẫn có thể tìm thấy những gợi ý. Riêng việc chữ “đình” ở Trung Quốc chuyển vào Việt Nam mà đổi nghĩa, từ chỗ để chỉ trạm nghỉ ven đường, hoặc các đình tạ, trong các khuôn viên, chuyển thành một chữ riêng để chỉ ngôi nhà công cộng của cả làng, cũng đã hé ra cho thấy phần nào cách tiếp nhận văn hoá Trung Hoa của người Việt (có vay mượn nhưng cũng có thay đổi). Cũng tương tự như vậy, việc dùng hai chữ “thành hoàng”. ở nông thôn ta so với các đô thị Trung Hoa cũng có khá nhiều khác biệt. Đoạn viết về những hệ luỵ của văn hoá phồn thực trong sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn, đọc khá hấp dẫn, và cái chính là nó cho thấy các tầng văn hoá xếp chồng lên nhau trong đời sống tinh thần người Việt cổ. Còn như đoạn nói về tính cách phóng túng trong lề lối miêu tả của điêu khắc đình làng, sự gần gũi của bộ phận điêu khắc này với những ý tưởng chỉ thấy trong mỹ thuật hiện đại, lại là một ví dụ tốt giúp cho người nghiên cứu văn hoá có thể hiểu tại sao một số hoạ sĩ Việt Nam gần đây lại nói phải học tập ở nền mỹ thuật làng, và càng ra với thế giới lại thấy đồng thời phải quay về làng, trong đó có những ngôi đình thân thuộc.
Toàn bộ chi phí trong việc thực hiện công trình Đình Việt Nam do quỹ Toyota tài trợ. Bản dịch sang tiếng Anh in kèm vào đây, có sự tham gia của một giáo sư Mỹ, người chủ trì Khoa châu á, Trường Đại học Cornell. Sơ đồ mặt cắt ngang của đình Đình Bảng (Bắc Ninh) – một bản sơ đồ đáng gọi là tỉ mỉ và khoa học – lấy lại của một nhà nghiên cứu người Pháp trong một tài liệu xuất bản ở Paris năm 1959. Những chi tiết trên đây cho thấy sự đóng góp của bè bạn vào cuốn sách mà GS. Hà Văn Tấn chủ trì, và đằng sau đó, là tầm vóc quốc tế của câu chuyện “cái đình trong văn hóa Việt Nam”. Chắc chắn rằng với bạn đọc trong nước, Đình Việt Nam vẫn là một tài liệu tham khảo rất cần thiết. Chỉ có một điều hơi rắc rối phải nói thêm với nhau ở đây: Là sách in đẹp, giá đắt, gần hai trăm ngàn một cuốn, nên không những các cá nhân mà ngay các cơ quan văn hoá hàng huyện hàng tỉnh (loại tỉnh nghèo), cũng không chắc đã dám ước ao là… có lấy một cuốn.
Tuy nhiên, phải nhận rằng về căn bản Đình Việt Nam mới mang tính cách một tập sách giới thiệu chung, một thứ nhập môn cơ bản, toàn bộ gia tài đền chùa miếu mạo nằm sâu trong lòng nông thôn không chỉ cần được kiểm kê chu đáo và bảo quản hiệu quả, mà còn cần được nghiên cứu đầy đủ hơn, kỹ lưỡng hơn. Nói như đây đó, có người đã nói: trở lại với quá khứ không chỉ là cuộc du lịch thú vị, hấp dẫn, mà còn là một công việc nặng nhọc, nhưng nhất thiết phải làm, nếu như chúng ta còn muốn tính tới một tương lai chắc chắn.

Làm quen với chùa Việt Nam

Rồi đây hẳn sẽ có lúc, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá, cùng với các nghệ sĩ nhiếp ảnh phối hợp làm việc để cho in ra những bộ sách quý về những ngôi đình nổi tiếng trong cả nước, hoặc về những nhà thờ đẹp nhất nằm rải rác từ bắc đến nam.
Nhưng đi đầu trong việc này, là những nhà nghiên cứu kiến trúc phật giáo.
Chỉ trong vòng hơn một năm, từ 5-1992 đến 6-1993, ba bộ sách ảnh khá đẹp về chùa nối tiếp ra mắt.

Trong lịch sử Việt Nam đã có một thời Phật giáo đảm đương vai trò một thứ quốc giáo. Về sau, do nhu cầu của việc xây dựng đất nước nhằm chống xâm lược tràn từ bắc xuống. Nho giáo trở thành chủ đạo, nhưng Phật giáo vẫn là một bộ phận quan trọng làm nên phức thể “tam giáo đồng nguyên”. Việc xây dựng chùa chiền không phải thời nào cũng được coi trọng song cũng không bao giờ bị xao nhãng quá lâu. Không thiếu những vương triều vua cha vừa hạn chế, đến khi con cháu lên ngôi lại khuyến khích việc đúc chuông, tô tượng. Còn chùa làng thì hầu như ở đâu cũng có. Tính đến cuối 1991, mới có 229 ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá, nhưng từ hàng ngàn hàng vạn ngôi chùa nằm rải rác ở các địa phương, luôn luôn người ta có thể đưa ra một danh sách khác với số lượng khác. Lý do ở đây thật giản dị, tuy luôn luôn sống với bóng dáng những ngôi chùa trong tâm trí, song hiểu biết tổng thể của mỗi chúng ta về chùa Việt Nam còn lâu mới đạt đến mức hoàn chỉnh. Đây đó trong các chuyên luận chung về mỹ thuật, hoặc qua các tập sách mỏng, một số tư liệu về chùa Việt Nam đã được giới thiệu sơ lược. Gần đây hơn, nhằm bước đầu ghi nhận ý nghĩa của chùa trong đời sống văn hoá của dân tộc. Và có lẽ cũng nhằm giúp cho đông đảo bạn đọc – nhất là những ai chưa đi nhiều đi rộng – có dịp làm quen với những ngôi chùa có tiếng trong cả nước, có ba bộ sách tương đối quy mô đã được xuất bản. Đó là:
1. Việt Nam danh lam cổ tự của Võ Văn Trường. Sách dày 652 trang, phần chủ yếu gồm 664 ảnh màu, chụp từ 171 ngôi chùa thuộc 37 tỉnh, thành phố trong cả nước.
2. Chùa Việt Nam của các tác giả Hà Văn Tấn (phần bài viết), Nguyễn Văn Kự và Phạm Ngọc Long (phần ảnh). Trong phạm vi 404 trang sách giới thiệu 42 ngôi chùa nổi tiếng từ bắc đến nam, tổng số ảnh sử dụng cũng lên tới gần ba trăm bức.
3. Danh lam xứ Huế của các tác giả Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông và Lê Văn Sách. Trong 392 trang sách, có 72 trang ảnh màu, chụp từ 28 ngôi chùa tiêu biểu ở Huế.
“Tổng phổ” của cuốn sách thứ nhất trải ra khá rộng: với mỗi ngôi chùa được giới thiệu, tác giả (với tư cách vừa là nhà nghiên cứu, vừa là nghệ sĩ nhiếp ảnh) không chỉ dừng lại ở hình thức kiến trúc, mà còn chụp hình chư Phật, chư thánh đệ tử, chư thiên long hộ pháp, nhiều phù điêu, hoa văn, pháp khí. Về ý định, có thể thấy rõ tác giả muốn đưa ra một bức tranh toàn cảnh và thâu tóm vào đây nét đẹp những ngôi chùa trong cả nước. Có điều, trong thực hiện đang có tình trạng lực bất tòng tâm. Khu vực tác giả quen thuộc và đi về kỹ lưỡng hơn cả, vẫn là các tỉnh phía nam. Trong số 171 ngôi chùa đưa vào sách, chỉ có 34 ngôi chùa từ Quảng Trị trở ra (riêng Hà Nội 11), còn lại là 137 ngôi thuộc các tỉnh từ Thừa Thiên – Huế đến Sóc Trăng, Minh Hải (riêng TP. Hồ Chí Minh là 30). Dù nguyên cớ do đâu không rõ, song sự bố trí như thế không khỏi có phần thiên lệch, cần được bổ sung điều chỉnh, mới xứng với các tên Việt Nam danh lam cổ tự mà cũng là cái mục đích tác giả đã dày công theo đuổi.
Với nhan đề đơn giản Chùa Việt Nam, cuốn sách của giáo sự Hà Văn Tấn và các cộng sự bám sát lịch sử Phật giáo, qua trình bày về các chùa nối tiếp nhau hình thành trong các thế kỷ mà như phác ra cho thấy cả tiến trình đạo Phật xâm nhập vào đời sống xã hội và trở nên một bộ phận của nền văn hoá dân tộc. So với cuốn sách của Võ Văn Tường, thì ở đây, các chùa ở các tỉnh phía Nam, (trong đó nhiều chùa mới xây dựng ở thế kỷ XX) chưa được đề cập đầy đủ. Nhưng để bù lại, người ta bắt gặp một sự ưu tiên thích đáng cho các công trình kiến trúc có bề dày lịch sử và ngay trong cách sắp xếp cũng lấy trình tự lịch sử làm trục đối chiếu cơ bản. Trong phần ảnh, cuốn sách đã có sự dụng tâm bài trí nhằm làm nổi bật nét đặc sắc của chùa Việt Nam, đó là cái cốt cách cổ kính thâm u , không thiên về tầm cỡ, mà lấy sự hoà hợp với thiên nhiên làm mục đích. Với khối lượng hơn 60 trang khổ lớn, tức ít ra cũng khoảng trên một trăm trang khổ giấy thông thường, bài dẫn dắt ở đầu sách gồm ba phần chính:
– Chùa Việt Nam: một cái nhìn chung
– Chùa Việt nam qua các thời kỳ lịch sử
– Chùa Việt Nam trong đời sống văn hoá cộng đồng.
Kiến thức uyên bác, luôn luôn có sự tham khảo đối chiếu giữa các tư liệu trong nước với các tư liệu nước ngoài có liên quan, tất cả được trình bày khúc chiết, rành mạch, đó là ưu điểm đầu tiên của bài viết khá công phu này. Nhưng không phải chỉ có thế: với mỗi ngôi chùa được nhắc nhở tới, tác giả luôn có sự miêu tả tường tận như bản thân đã nhiều lần tới đó, hoặc với các ngôi chùa nay đã đổ nát, như từng có mặt trong những cuộc khai quật để tìm lại dấu tích. Vả chưng cách tiếp cận của người nghiên cứu ở đây là lối tiếp cận liên ngành, là đi vào “thế giới” chùa Việt bằng ca thơ văn cổ, bằng những hiểu biết chung về ngôn ngữ văn tự và nói chung và các loại tri thức lịch sử. Nhờ thế, đọc kỹ bài viết, người ta có thể có những khái quát bước đầu về toàn bộ kiến trúc Phật giáo và theo dõi được bước đi của bộ phận kiến trúc ấy qua từng thế kỷ. Sau những ghi nhận chắc chắn ấy người ta không khỏi chờ đợi tác giả trong việc “đọc” ra ý nghĩa văn hoá của chùa Việt Nam, cũng tức là chờ đợi ông phát biểu về một số vấn đề văn hoá dân tộc thông qua kiến trúc chùa mà ông nghiên cứu.
Đáng tiếc là trong phần thứ ba của bài viết, Hà Văn Tấn chỉ dừng lại ở những liên hệ giữa chùa với một số sinh hoạt văn hoá như lễ hội mà chưa phải với toàn bộ văn hoá nói chung. Hy vọng là ông sẽ trở lại với các vấn đề này trong một dịp khác.
Nếu hai tập sách nói trên muốn bao quát toàn bộ chùa Việt Nam thì cuốn sách của các tác giả Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách chỉ đi sâu vào các Danh lam xứ Huế. Theo một cuốn niên giám in ở Huế 1989, riêng chùa có ở Huế lên tới con số hơn một trăm, nên nếu muốn nói về chùa Huế cho đầy đủ, thì cuốn sách phải làm sẽ lớn lắm! Trong phạm vi của một tác phẩm mang tính cách phổ cập, Danh lam xứ Huế chỉ đưa ra hình ảnh của 28 ngôi chùa, vậy mà người đọc đã cảm thấy khá phong phú. Điều đáng trân trọng là qua hình ảnh và qua bài viết, người ta bắt đầu cảm thấy được nét riêng của chùa Huế mà các tác giả hết lòng yêu mến. Lùi về lịch sử, bài viết Phật giáo và văn hoá Huế nhấn mạnh ý nghĩa của chùa và của đạo Phật nói chung đối với những lớp cư dân Việt đầu tiên từ đời Trần vào mở mang lãnh thổ ở vùng Thuận Hoá: “đã có những ngày mà người Việt xưa ngỡ ngàng đến đây, tiếp nhận miền đất này là một sính lễ của Chiêm quốc lân bang với tấm lòng thương nhớ cố hương (…) Dân cư thời ấy giờ hẳn nhiên là thưa thớt, và họ đã ngỡ ngàng biết bao trước di sản, di tích văn hoá Champa với đền tháp, cơ sở tín ngưỡng mang đậm tính cách ấn Độ, những tượng thờ Brahma, Siva, Visnu, Poh Nagar xa lạ đầy sự đe doạ, huyền bí đối với họ và đã qua bao thế kỷ điều ấy vẫn chưa xoá mờ trong tâm thức người nông dân Huế. Đó là chưa nói đến những yếu tố văn hoá Indonesia của người Thượng Trường Sơn (…) Đối với lam sơn chướng khí và những hiện tượng tín ngưỡng chưa hề quen, người nông dân rời quê hương phía bắc đến đây thời bấy giờ làm sao giữ được sự an bình cho tâm hồn nếu không có những ngôi chùa Phật, dù chỉ là mái tranh đơn sơ, yếu ớt, nhưng lại là một cơ sở tinh thần kiên cố bền vững che chở cho tâm hồn họ” . Trong khi kể lại không ít những mối quan tâm của vua quan và các tầng lớp quý tộc triều Nguyễn với nhiều ngôi chùa nổi tiếng, các tác giả khéo léo đặt bộ phận kiến trúc tôn giáo này vào toàn cảnh văn hoá Huế nói chung. Đọc cuốn Danh lam xứ Huế hôm nay, người ta thầm ao ước một lúc nào đó, các vùng văn hoá lớn của đất nước đều có được những bộ sách làm riêng về chùa chiền ở vùng đất của mình và đó sẽ là cách tốt nhất để chuẩn bị cho những bộ sách chung về chùa Việt Nam (như cách của Võ Văn Tường, Hà Văn Tấn… hôm nay) đạt tới một trình độ mới.

Trên đường tìm tới một cái nhìn hợp lý với Văn học sex

Từ thực tế các tác phẩm đang được tìm đọc
Thật khó hình dung văn học thế giới đương đại lại thiếu đi mảng sách bàn về miêu tả sex , đề cao sex , rồi bàn về sex. Lẽ tự nhiên làn sóng đó tràn đến ta .
Nói riêng trong phạm vi văn học Trung quốc . Điên cuồng như Vệ Tuệ, Những người đàn bà tắm là hai cuốn tiểu thuyết Trung quốc mà khi đọc biên tập tôi e dè । Cả hai đều dựng nên hình ảnh của một thanh niên trẻ đầy khao khát tìm hiểu cuộc đời và trong nhiều trường hợp xem việc làm chủ thân xác là một cách để chứng tỏ sự tự do của mình để khẳng định mình । Tuy nhiên , tôi thấy nên giới thiệu với đông đảo bạn đọc , bởi tin rằng khó lòng gọi đây là sách khiêu dâm , lý do chính có lẽ là bởi hiện lên sau các trang sách là các nhân vật có cuộc sống tinh thần có thể nói là phiền phức rắc rối , băn khoăn đi tìm đường băn khoăn đi tìm lẽ sống , chứ không phải là những cá nhân bạc nhược thèm khát hưởng thụ , và tự bênh che cho cái hành động vốn tự mình cũng biết là đồi bại .

Từ Thiết Ngưng , Vệ Tuệ đọc rộng ra đến Chương Hiền Lượng , Mạc Ngôn, Cửu Đan , Lâm Bạch tôi nhận ra một điều , đi vào sex không còn là nhu cầu riêng của ai nữa . Mà hình như có những lúc quá quẫn bách , con người ta không có cách nào khác , bấy giờ chỉ có nó để an ủi để tìm lại nghị lực sống . Và như vậy hoàn toàn có lý do chính đáng để biện minh cho các nhân vật đã được miêu tả cũng như các tác phẩm vừa sâu sắc vừa ăn khách nói trên .

Không may cho tôi là đến giờ phút này bản thân không tìm thấy cái cảm giác tốt đẹp và cái lý do vững chắc nói trên khi đọc một số trang sách có nhiều liên quan tới tính dục của các tác giả trong nước nhất là mấy bạn trẻ . Về nguyên tắc , tôi biết nay là lúc chúng ta không còn xa lạ với cách sống sách nghĩ của thế giới hiện đại . Lớp trẻ hiện nay cũng đang có nhiều bức xúc . Họ không bằng lòng sống theo nếp cũ . Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của con người , họ muốn thể nghiệm . Những khoái lạc muôn màu muôn vẻ của con người , họ muốn hưởng thụ và giúp nhau hưởng thụ . Phi thiêng liêng hóa , thế tục hóa là cả một xu thế mạnh mẽ của con người hiện đại và càng trong những xã hội vốn có quá nhiều cấm kỵ (tabu ) , xu thế đó càng bồng bột mạnh mẽ . Song có lẽ là vì chúng ta được chuẩn bị quá sơ sài , hành trình làm người của chúng ta còn quá ngắn ngủi , sự phát triển mọi mặt từ thể lực đến trí tuệ của chúng ta còn quá mỏng manh , nên những nỗ lực nóng vội của chúng ta dẫn đến tình trạng lê lết trong tuyệt vọng thậm chí có phần gần với bệnh hoạn . Nói đơn giản là đọc nhiều trang sách nói tới sex tôi thấy nó không phảI là nhu cầu chân chính của người viết mà nhiều khi như là học đòi , thấy người ta làm được nhiều người đọc thì cũng làm theo. Hoặc trong một số trường hợp , thoáng bắt gặp ở người viết một cái gì như là thèm thuồng , viết ra để mơn trớn vuôt ve chiều chuộng mình , đáp ứng những nhu cầu bản năng có phần thấp của mình mà không nối nó được với những nhu cầu cao đẹp nhất thiết phải có .

Đến một số quan niệmcần thống nhất
Những người có sống ở Hà Nội hẳn biết là vào khoảng những năm 60 của thế kỷ trước , chẳng những Số đỏ, Làm đĩ, Lục sì của Vũ Trọng Phụng bị liệt vào loại sách cấm mà thơ Hồ Xuân Hương cũng được coi là không nên phổ biến rộng vì có thể tác động xấu đến tâm lý thanh thiếu niên .
Lùi về xa nữa, ở ông cha xưa thói quen kiêng kỵ cũng rất sâu nặng . Một nhà nghiên cứu gần đây hé mở cho tôi biết : một tác phẩm lớn như Kim Bình Mai khi vào Việt Nam đã bị tước bỏ đi khá nhiều đoạn tả chuyện làm tình cụ thể . Còn nói chi đến loại như Nhục bồ đoàn , đến Tham hoan báo
Nhận được một ít sách Tàu theo con đường của mấy nhà buôn vặt hoặc mấy ông quan đi sứ chuyển về , các cụ cũng mê như điếu đổ , nhưng là xem giấu xem giếm , còn trước mặt con cháu , vẫn tuyên bố đại khái đây là một thứ ta – bu , không được phổ biến .

Có thể nói những thành kiến đó đến ngày nay vẫn còn ám ảnh đầu óc nhiều người . Thành thử cũng dễ hiểu là những tìm tòi của các bạn trẻ dễ bị xem là kỳ dị quá đáng và thường xuyên có những lời nhắc nhở theo lối vơ đũa cả nắm .
Theo tôi vấn đề sex không chỉ là vấn đề riêng của văn học mà lẽ ra phải là sự quan tâm của nhiều ngành khác như xã hội học tâm lý học văn hóa học . Vừa tìm hiểu nhu cầu phát triển của xã hội , vừa đối chiếu nó với những quan niệm đúng đắn cởi mở của thế giới hiện đại , chắc chắn chúng ta sẽ đề ra được phương án giải quyết cho một vấn đề lớn của thanh thiếu niên hiện nay .
Riêng trong phạm vi văn học ,có mấy điều tôi học được trong các tài liệu nghiên cứu về văn học sex .
Thứ nhất yếu tố tính dục sẵn có trong các tác phẩm cổ đại , thơ trữ tình trung thế kỷ sáng tác của các nhà văn phục hưng từ Mười ngày của Bocaccio , Chuyện kể Canterbury của Chaucer , hồi ký của Casanova … Đến thế kỷ XIX, danh sách này được bổ sung hàng loạt cái tên trứ danh Balzac, Maupassant, Zola …. Lại cũng đừng nghĩ là trong chuyện này , chỉ phương Tây năm độc quyền . Sách Trung quốc , sách ấn độ đã từng gây nghiện cho bao thế hệ ông Tây bà đầm .
Thứ hai , sở dĩ như vậy , vì đó là một nhu cầu lành mạnh của con người . Qua sex người ta làm giàu thêm bản năng sống của mình . Qua trường kỳ lịch sử , một bộ phận đặc sắc của văn hóa thế giới đã hình thành mà thiếu đi thì quan niệm của chúng ta về con người sẽ thiếu hụt .
Và thứ ba là sự phân biệt giữa sách tính dục và sách khiêu dâm vốn rất khó , ở nước nào cũng có tình trạng nhân sách tính dục được đòi hỏi nhiều thì loại sách ba xu về đề tài này cũng phát triển và chẳng bao giờ cạn kiệt , hết lớp này lại có lớp khác nổi lên rồi lại suy tàn . Đã có không ít những vụ kiện tụng cấm đoán . Tuy nhiên cái chính là sau những ồn ào giả tạo thậm chí sau những lầm lẫn , cuối cùng những tác phẩm có giá trị vẫn được khẳng định , nhờ đó sự cảm thụ của con người về chính mình ngày càng phong phú hơn .
Tôi tin rằng đây cũng là quy luật phát triển của văn học sex ở ta .

Đi tầu đi tây


Mấy suy nghĩ về những cuốn sách viết về người Việt ra nước ngoài
Lời giới thiệu viết cho tập sách gồm ba ký sự , Một chuyến đi của Nguyễn Tuân, Đi Tây của Nhất Linh và Tôi thầu khoán hay là Ba tháng ở Trung Hoa của Lê Văn Trương. Sách do NXB Hội nhà văn và Phuong Nam Corp cho in, tháng 6-2002
1.
Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam trong các thế kỷ gần đây (cả người Trung Hoa lẫn người phương Tây ) khi trở về nước đã viết sách kể lại chuyến đi của mình và một số cuốn loại này đã được dịch ra riếng Việt.

Chẳng hạn một nhà sư Trung quốc là Thích Đại Sán có cuốn Hải ngoại kỷ sự ( phụ đề “ Sử liệu nước Đại Việt thế kỷ XVII” ), một trí thức nổi tiếng khác là Chu Thuấn Thuỷ thì có An nam cung dịch kỷ sự ( Ký sự đến Việt Nam năm 1657), Crístophoro Borri có Xứ Đàng Trong năm 1621, A.de Rhod có Lịch sử Vương quốc đàng ngoài.

Nếu có dịp sục vào các thư viện lớn hoặc các thư viện chuyên ngành người ta còn dễ dàng bắt gặp các loại tạp chí nghiên cứu về tôn giáo, địa lý, lịch sử ở phương Tây có trích in báo cáo tường trình hoặc nhật ký ghi chép của các nhà thám hiểm nhà truyền giáo khi đến Việt Nam.

Mỗi khi được phát hiện, chúng thường được các nhà khoa học ở ta sử dụng làm tài liệu, một số nhỏ đã được in lại trên các báo tạp chí ( riêng tạp chí Xưa và nay và chuyên san Nghiên cứu Huế hai năm 2000 – 2001 đã trích in một số hồi ký có giá trị )
Dòng chảy đó ngày nay còn được tiếp tục.
Tận dụng điều kiện ngày càng có nhiều khách đến Việt Nam du lịch ( ngoài ra có một số ở lại khá lâu để làm việc ), nhiều tờ báo ở ta hiện nay đặt hẳn ra một mục là trò chuyện với người nước ngoài yêu cầu họ nói thật những ý nghĩ khi đến thăm và làm việc ở đây..
Những cuốn sách ấy những bài báo ấy (cả xưa lẫn nay ) không chỉ cung cấp thêm một ít chi tiết mà quan trọng hơn từ những chi tiết ấy người đọc Việt nam có thể hình dung ra hình ảnh của chính ta qua tấm gương kẻ khác.
Trong khi tiếp tục khai thác luồng sách trên, một câu hỏi đồng thời nảy sinh trong tâm trí nhiều người :
Thế còn cái luồng ngược lại là sách vở tài liệu ghi chép những chuyện người Việt ra nước ngoài thì sao ?
Có mảng sách đó không ?
Có cần sưu tầm để làm một cuộc tổng duyệt không?
Xét trên một phương diện rộng rãi là cả xã hội, chúng có thể có ích hay không ?

Câu trả lời dĩ nhiên là có ! Và việc sưu tầm giới thiệu nên được làm ngay,có đến đâu giới thiệu ngay đến đấy, chưa cần lớp lang trật tự quá cẩn thận.
Cuốn sách Đi Tàu đi Tây ra đời nhằm mục đích đó.

2.

Thời trung đại, giao thông khó khăn, việc đi lại bị hạn chế, ngay trong đất nước mình nhiều người đã đi chưa hết. Người Việt cũng ít đầu tư vào công việc buôn bán lớn, những hình thức tương tự như xuất nhập khẩu hiện đại lại càng không thấy. Mà đó chính là cơ hội tốt để người ta có dịp vượt qua biên giới đi tới những miền đất lạ.

Thực tế cho thấy hình thức xuất ngoại gần như duy nhất của con người lúc bấy giờ là đi sứ, đại khái là những ông quan được cử đi cống nạp hoặc đàm phán về một việc gì đó.

Ngay trong một số truyện cổ tích và truyện nôm khuyết danh ( như Tống Trân Cúc Hoa ) truyện cười ( như Trạng Lợn ), đã thấy có những nhân vật kiểu sứ thần như thế, điều này đánh dấu một sự thực là hình ảnh kẻ đi công cán ở nước ngoài đã trở thành một thứ siêu mẫu trở đi trở lại trong tâm thức xã hội .

Tuy nhiên có một khía cạnh khác nên sớm lưu ý, đó là những cuộc đi này thường được hình dung như một cái gì thuộc về nghĩa vụ bắt buộc, hơn nữa thường quá sức chịu đựng của con người. Có khi một chuyến đi kéo dài tới chục năm và là một cực hình cho đương sự cũng như vợ con gia đình ở nhà.
Thành thử những chuyến xuất ngoại ấy mất đi gần hết ý nghĩa mà nó có thể có.
Thế còn bước sang thời hiện đại ( cũng là thời văn hoá VN tiếp xúc với văn hoá Tây phương ) thì sao ?
Xét kỹ ra thì chuyện đi làm ăn ở nước ngoài chưa phải là nhiều. Trên báo Tiếng dân 1936( tờ báo do nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng làm chủ nhiệm), người ta đọc được một bài báo ngắn kể về chuyến đi của cụ Phan Chu Trinh sang Nhật.
Lần ấy cụ có dịp gặp thủ tướng Nhật Bản tên đọc theo âm Hán Việt là Đại Ôi.
Bài báo kể rằng trước khi nói nhiều chuỵện quan trọng ông Đại Ôi có hỏi cụ Phan là người nước nào và thân tình nhận xét, đại ý nói tôi đã nghe về Việt Nam từ lâu nay mới gặp một người Việt Nam chứng tỏ các ông ra ngoài quá ít. (Xem Phan Chu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng 2001 trang 123 ).

Hiện chúng ta không có số liệu chứng minh lại càng không có số liệu từ việc người Tầu người Nhật ra nước ngoài ra sao để so sánh, nhưng phải thấy là nhận xét của Đại Ôi là thiện chí và có cái lý của nó.

Song, đó là chuyện đầu thế kỷ, từ đó về sau mọi việc diễn ra theo một quy luật khác hẳn, nếu đặt trong tương quan thời gian để so sánh người Việt ra nước ngoài ở các thời kỳ khác nhau thì lại phải thấy bước sang thế kỷ XX, có sự thay đổi vượt bậc và điều này cũng được phản ánh cả trong sáng tác văn chương.
Một ý nghĩ luôn luôn lởn vởn trong đầu óc nhân vật chính của tiểu thuyết Đôi bạn của Nhất Linh, nó quyết định nhịp độ tiến triển của câu chuyện, là việc Dũng sẽ trốn sang Tầu.
Trong Gió đầu mùa có một truyện ngắn mang tên Người lính cũ, ở đó Thạch Lam cho một người đã từng sang Pháp từng ghé qua Paris,và có vợ đầm, giờ về nước thân tàn ma dại, nằm bẹp trong một quán tranh nghèo than thở về cuộc đời.
Mà không nói đâu xa, hẳn không ai quên được rằng Nguyễn Công Hoan từng có truyện ngắn Thế là mợ nó đi tây ( cái sự đi tây nói ở đây có cả nghĩa đen của nó với chữ Tây viết hoa, chứ không chỉ có nghĩa bóng như chúng ta vẫn hiểu )..
Lẽ tự nhiên là từ sau 1945 người Việt xuất ngoại ngày càng nhiều hơn và tác phẩm viết về những cuộc đi nay phải nhiều hơn hẳn.

3.

Trong nền văn học trung đại ở Việt Nam có một tác phẩm mà cách viết rất gần với tư duy văn học hiện đại nghĩa là mộc mạc trực tiếp không định làm văn không lo khái quát mà chỉ thấy gì ghi nấy.
Đó là trường hợp Thượng kinh ký sự của Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Có điều tác phẩm là một hiện tượng hiếm hoi.
Nhìn chung,con người lúc ấy không những đi ít mà có đi (kể cả đi trong nước lẫn ra nước ngoài ) cũng không tính chuyện ghi chép lại những điều quan sát được cũng như những cảm giác mình đã thể nghiệm.

Do điều kiện vật chất khó khăn ( kể cả văn tự lẫn phương tiện phổ biến ) nếu đôi khi có làm việc này đi nữa, người ta chưa thể tỉ mỉ ngồi viết văn xuôi mà vẫn chỉ trình bày một ít cảm tưởng cô đọng qua những bài thơ.

Lại do khuôn khổ của tư duy văn học lúc đó, người đi sứ thường tự trình bày như những nhân vật mang chuông đi đấm nước người, hành trạng nhân cách của họ được bao phủ trong màn sương huyền thoại,trong ghi chép của họ không có những mẩu chuyện với những chi tiết cụ thể nhất là ở đó không có con người cá nhân.

Tư duy văn học hiện đại giúp cho con người Việt Nam thế kỷ XX khi xuất ngoại có một tâm thế khác hẳn. Họ mở to mắt quan sát cái hiện thực bày ra trước mắt họ và lắng nghe những phản ứng của lòng mình.

Sau những chuyến đi ấy, nhiều trang sách được ghi lại làm chứng cho một dịp tiếp xúc, cọ xát, đối chiếu… Ban đầu có thể những ghi chép đó chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp cho cá nhân người viết sử dụng và trong điều kiện có thể thì truyền tay cho bạn bè và người thân cùng đọc.
Về sau –cũng giống như tình hình xảy ra ở nước ngoài — xuất hiện loại ghi chép dành để công bố trên sách báo.
Bề nào mà xét thì trước mắt chúng ta vẫn là sự trưởng thành của ý thức cá nhân,và do đó cũng là của cộng đồng luôn thể.

4.

Mặc dầu vậy, giờ đây chưa thể nói là vừa qua chúng ta đã vươn tới cái giới hạn tối ưu mà thể tài cho phép.
Ngay trong nửa cuối thế kỷ XX, sự tiếp xúc với nước ngoài đã trở nên thường trực hơn song điểm lạimột hai chục nămganf đây, cũng chưa thấy có cuốn sách nào được xem như một sự kiện văn học.
Điều này không khó cắt nghĩa.
Thế giới ngày nay chứng kiến không ít trường hợp người của dân tộc này, nước này đã để cả đời chuyên chú vào việc ghi chép phong cảnh con người và nghiên cứu kỹ văn hoá một nước khác ( đôi lúc chúng ta nghe giới thiệu người này là một người Anh chuyên về lịch sử Ân Độ, người kia là một người Đức chuyên về văn hoá châu Phi, hoặc một người Mỹ chuyên về âm nhạc Trung quốc là với nghĩa đó ).
Tác phẩm của họ là kết quả của một sự theo dõi liên tục trong nhiều năm dài, một sự khổ công kê cứu sách vở để tìm cách hiểu kỹ đối tượng và từ đó đạt ra những câu hỏi khái quát về cái thực tế mà mình tiếp xúc…
Nói hẹp hơn trong phạm vi du ký,có những chuyến đi dẫn tới kết quả lớn lao là phát hiện ra một bộ phận của nhân loại mà chưa ai biết tới ;đồng thời lại có những chuyến đi làm thay đổi cả một đời văn ( loại như Chuyến đi đến Congo hoặc Từ Liên xô trở về của André Gide ).
Chưa thể nói rằng ở ta có những cuốn du ký có tầm cỡ tương tự, tại sao?
Rồi đây với việc các hồi ký này có dịp được in lại hẳn sẽ có lúc có người để công tìm hiểu những nét đặc sắc trong các du ký mà người Việt đã viết khi ra nước ngoài.

Trong phạm vi một ít nhân xét sơ bộ, chúng tôi chỉ cảm thấy ở ta mọi chuyện thường còn dừng lại ở mức sơ lược, cái gì cũng có nhưng không cái gì đến nơi đến chốn. Bởi lẽ cảm hứng nghiên cứu ở ta thường không được coi trọng.

Mà không có nghiên cứu tư liệu từ trước thì một chuyến du lịch đắt tiền cũng trở nên tầm thường chứ đừng nói một chuyến đi có tính chất khảo sát khoa học.

Lại nữa,do chỗ người nước ta trước đây thường chỉ đi nước khác khi hoàn cảnh bó buộc, khi đi phần nhiều bận tâm bởi sứ mệnh được giao phó và nói chung còn bị ám ảnh bởi chuyện mình hơn là chuỵện người, nên cũng dễ hiểu khi thấy những ghi chép này thường nặng về hướng nội, nhân dịp đối diện với một thực tế mới lạ mà suy nghĩ lại về chính quá khứ của mình. Khách quan mà xét, đóng góp của một số tập du ký là ở chỗ nó góp phần vào việc tự soát xét lại mình, tức quá trình tự nhận thức của dân tộc. Sự tự nhận thức ấy chỉ có được trong thực tế va chạm rồi so sánh đánh giá. Qua tiếp xúc với người mà hiểu thêm mình.

5.

Do hiểu được ý nghĩa bức bách của công việc, nên mặc dầu khả năng có hạn chúng tôi vẫn mạnh dạn bắt tay vào sưu tầm biên soạn bộ sách thu góp các tác phẩm mang tính cách du ký nhật ký, hoặc đơn giản là những ghi chép mà các bậc tiền bối đã viết sau ít chuyến xuất ngoại, để in ra dần dần (*) . Sau đây bạn đọc sẽ có dịp đọc lại những trang viết về đề tài này của ba tác giả quen thuộc là Nguyễn Tuân, Nhất Linh và Lê Văn Trương. Cả ba cuốn khác nhau về nhiều mặt từ mục đích chuyến đi, tâm sự của người ra đi cho đến cách xúc cảm của các đương sự khi tiếp xúc với con người và cảnh vật xứ người,và cả cái cảm hứng chủ đạo nó nhất quán chi phối ngòi bút tác giả. Có điều, chính vì thế khi gộp cả lại, chúng gợi ra một ấn tượng sơ bộ nhưng khá đa dạng. Hy vọng rằng qua đây bạn đọc sẽ tìm thấy hứng thú và cùng với chúng tôi đi tiếp trên con đường theo dõi một mảng văn chương thú vị mà lâu nay vẫn bị bỏ qua.

Ghi chú về văn bản

1/ Các tài liệu được in ở đây đều dựa vào những ấn bản được in ra lần đầu. Trong từng phần cụ thể chúng tôi đã có ghi rõ nguồn tài liệu mà chúng tôi dựa vào để biên soạn tập sách.

2/ Ngoài một số chú thích sẵn có của tác giả ( đánh số A-rập ), người biên soạn còn bổ sung nhiều chú thích ( đánh dấu hoa thị ).Thông thường đó là những trường hơp chúng tôi thấy cần cắt nghĩa thêm để tiện cho việc tiếp nhận những văn bản đã in ra hơn nửa thế kỷ trước.

——-

(*) Rất tiếc là đến nay chúng tôi chưa có điều kiện để tiếp tục công việc.
Xin cáo lỗi với bạn đọc — 16- 6-२००९

CẦN CÓ MỘT CÁCH NHÌN KHÁCH QUAN VÀ THÁI ĐỘ ĐÚNG MỰC

(Gửi phụ huynh Vương Trí Nhàn nhân đọc Văn nghệ trẻ số 34-24/8/2008)
NGYỄN THỊ HƯƠNG
Giáo viên Ngữ Văn Trường THPT Cầm Bá Thước , Thường Xuân- Thanh Hóa

Thưa phụ huynh Vương Trí Nhàn!
Tôi là một giáo viên giảng dạy Ngữ Văn ở trường THPT thuộc vùng núi phía Tây của Thanh Hóa. Mặc dù còn trẻ vốn tri thức văn hóa khoa học chưa nhiều.Nhưng với tư cách là một giáo viên đang trực tiếp đứng lớp, lại mong muốn được học hỏi để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt nhất cho bộ môn không hề đơn giản này, tôi cũng như các bạn đồng nghiệp của tôi không thể không bất bình trước những phát ngôn thiếu thận trọng cuả ông trên báo chí, khi chính ông lấy tư cách là một phụ huynh có con đang theo học trong nhà trường phổ thông.

Tôi từng biết ông là người thích nói về “những thói hư tật xấu của người Việt ”trên báo bằng cách cắt xén những câu nói của người khác để làm đề tài luận bàn với những khái quát vô cùng đao to búa lớn : dân tộc Việt : “ duy tình -cạn nghĩ –ăn xổi”, “khối tự phát khổng lồ”, “giả dối, vụ lợi, sống thiếu trách nhiệm, không nhận thức được mình”…Ông tự hào chỉ mình ông là người làm việc này và tôi không tin rằng ông là nhà nghiên cứu văn hóa đích thực.

Và bây giờ ông quay sang “nói xấu” môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Ông “chửi”từ giáo viên đứng lớp, nhà soạn sách, nhà hoạch định chương trình đến cả lãnh đạo trên Sở trên Bộ …Đặc biệt ông khẳng định một câu “xanh rờn”: “các thế hệ trẻ ngày nay ngán văn đến tận cổ và thường là chúng thề không đi theo ngành văn. Đó chính là lỗi của việc dạy văn ở phổ thông, cái lỗi to lớn trước tương lai của văn học nước nhà”. Sở dĩ tôi nói vậy là bởi những phát ngôn của ông không hề có một chút tính xây dựng nào mà chẳng qua chỉ là những lời “chửi đổng” không hơn không kém- một kiểu hạ người khác xuống để nâng mình lên. Cách nhận xét, cách phê phán của ông không hề có cơ sở khoa học –mặc dù ông là nhà phê bình, nhà văn. Cơ sở để ông đưa ra mọi nhận định là xuất phát từ việc học văn cuả con ông ; cơ sở lập luận là những phán đoán, nhận định chủ quan mâu thuẫn không hề có những luận chứng xác thực nào. Cộng với lối tư duy phiến diện, áp đặt: chỉ nhìn một vài hiện tượng là quy chụp cho nó là cái phổ biến, cái khái quát …

Trước hết tôi cũng nghĩ rằng thực trạng môn ngữ văn ở trường phổ thông ngày nay rất đáng lo ngại đó là tình trạng học sinh thiếu mặn mà với môn văn. Song nguyên nhân không phải vì “nó hoàn toàn mất đi cái hào quang, sự lôi cuốn” mà ông tìm thấy hồi trẻ. Điều ông tìm thấy hồi trẻ chắc hẳn là những giờ thầy giảng say sưa như lên đồng nhập cốt, như rót mật vào tai…và nghe xong học sinh chẳng còn nhớ tý gì ngoài cảm giác thấy hay hay. Như vậy là vô hình chung ông ca ngợi lối học của thời ông, sách giáo khoa thời ông …mà tôi cũng được biết đó là những năm 50, 60 khi mà cái lối dạy học thầy nói –trò nghe, thầy đọc-trò chép,mà chính giáo sư Đặng Thai Mai cũng đã từng chê trách trong cuốn “Giảng văn Chinh phụ ngâm” cách đây hơn 50 năm.

Đến nay qua hơn 50 năm với nhiều công trình khoa học có chất lượng được áp dụng, rất nhiều lần thay đổi sách, cả phương pháp giảng dạy mới phát huy chủ thể học sinh cũng tạo nên những khâu đột phá mới . Vậy mà tình trạng học sinh chán học văn, quay lưng lại với môn Văn ngày càng nhiều hơn, sự sa sút về chất lượng nhân văn ngày càng rõ hơn…Nguyên nhân của tình trạng trên cần được nhìn nhận từ nhiều nhân tố trong và ngoài nhà trường,kể cả tâm lí thời đại.Ông chỉ biết nhìn vào một vài hiện tượng ,một đôi nguyên nhân mà thiếu cái nhìn tổng hợp.Trong đó có cả tác động của gia đình phụ huynh mà điển hình là kiểu học hành và dạy dỗ của bố con ông.

Chẳng cần nói xa xôi gì ngay tình trạng con ông học không giỏi văn cũng phần lớn là do ông. Trên cương vị một phụ huynh đồng thời là nhà văn, nhà phê bình văn học, đáng ra ông phải là người thầy lớn khơi gợi niềm hứng thú, say mê cho con .Vậy mà không những không làm được điều đó, ông còn làm cho cháu sợ chết khiếp khi thuê một lúc bốn thầy cô dạy văn cho con ở học kì 2 của lớp 9 vậy là cả người dạy trên lớp, cả ông hướng dẫn là cháu phải học sáu người một lúc. Thật là một lối giáo dục phản khoa học, kì quặc của vị phụ huynh ít nhiều có học hành như ông mà rồi cũng “hoang mang”.Thêm vào đó thái độ của ông đối với những người học văn cũng rất lạnh nhạt “hễ nghe ai đó giới thiệu có con giỏi văn là tôi lảng ngay”. Và không chỉ riêng ông, hầu hết các bậc phụ huynh có hành động ngăn cấm con cái mình theo học khối xã hội (văn, sử, địa) mà luôn hướng chúng học khối Tự nhiên để phù hợp với những ngành hái ra tiền trong tương lai. Tôi đã dạy nhiều học sinh học tự nhiên và đa phần các em học tốt môn văn nói viết rất rõ ràng, sáng sủa, mạch lạc cá biệt có nhiều em đã từng là học sinh giỏi văn cấp tỉnh ở cấp THCS.

Trong xã hội Việt Nam ngày nay, trước nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, người ta chỉ cần nhấp chuột là có tất những nguồn giải trí khác cạnh văn học. Văn hóa đọc ngày càng sa sút. Văn học nhà trường và ngoài nhà trường đều nằm trong sự ghẻ lạnh của xã hội đặc biệt là đối với giới trẻ. Những tác phẩm mới, những cuộc bút chiến hầu như chả mấy ai quan tâm ngoài những người đi theo con đường có dính dáng đến văn chương. Chắc ông cũng như tôi sẽ dễ nhận thấy một điều cái thời của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Xuân Diệu văn học trong nhà trường có ra gì (một tuần mới có một tiết Việt văn) mà phong trào đọc văn và sáng tác văn chương lại sôi nổi nhường ấy …

Tôi cho rằng khi nào xã hội gia đình còn quay lưng lại với môn Văn thì văn học trong nhà trường cũng phải chịu ảnh hưởng không nhỏ. Nhân đây cũng xin kể ông nghe một câu chuyện có thực. Năm nay, chồng tôi –một giáo viên Vật lý –được giao chủ nhiệm lớp chọn ban tự nhiên. Để tìm hiểu cá tính, năng lực, sở thích,ước mơ của học sinh đã yêu cầu các em viết một bản tự thuật và nhờ tôi cùng đọc để đánh giá năng lực, thái độ của các em. Có nhiều em nắn nót, tâm huyết, chân thành khi viết khiến chúng tôi rất vui. Song có một bản mà khi đọc, chúng tôi phải “cười ra nước mắt”-không phải lỗi hành văn-mà chính là ở ước mơ rất đỗi thực dụng: “Em ước mơ sau này sẽ thi đậu vào trường đại học Dược, vì mẹ em bảo làm nghề này chẳng va chạm đến ai, chỉ cần bán thuốc khoảng hai năm là mua được xe máy…”.

Thưa phụ huynh Vương Trí Nhàn !

Tôi biết ông là người vốn rất nhạy cảm với cái tiêu cực, thích phê phán. Song tôi cũng không hiểu sao ông thường nhìn nhận mọi vấn đề hết sức cực đoan. Ông tuyên bố “môn văn trong nhà trường phổ thông nói thật nhé, ngán đến tận cổ” mà nguyên nhân theo ông là chủ yếu là do chương trình, sách giáo khoa, và giáo viên thì phải làm theo những hướng dẫn trên Bộ trên Sở, chấm không chữa, chấm ý …Với cương vị là giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi cũng như tất cả các bạn đồng nghiệp không thể không chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc dạy học văn ở trường phổ thông.Dù chương trình tốt đến bao nhiêu, phương pháp, phương tiện có ưu việt đến mức nào mà giáo viên không tâm huyết với nghề, không trau dồi tri thức, đạo đức, nghiệp vụ, tìm hiểu tâm lí học sinh …thì không bao giờ có thể đem đến cho học sinh sự say mê, hứng thú. Chả thế mà ở bất cứ thời nào cũng có những người thầy lớn : Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên,Trương Chính và nhiều tên tuổi lớn nữa đã đào tạo lớp lớp thế hệ học trò đã và đang là những công dân ưu tú của xã hội.

Như vậy tôi muốn nói với ông rằng, ông không nên đổ lỗi tất cả tại chương trình, sách giáo khoa, những nhà biên soạn sách … dù sao ông cũng chỉ là người ngoài cuộc. Nếu những lời phát biểu của ông mang tính xây dựng góp ý tức là chỉ ra thật cụ thể những chỗ chưa được và tìm ra giải pháp thích hợp thì thật đáng quý. Bởi bất kì lần thay sách nào cũng được thí điểm trước đợi phê bình góp ý rồi mới thực thi. Thay bằng những việc làm thiết thực đó ông lại buông ra rất nhiều phát ngôn khiếm nhã tạo dư luận xấu cũng như tâm lý hoang mang ở cả giáo viên và học sinh.

Ông cho rằng, những bài văn mẫu mà học trò phải mua để đọc là “lảm nhảm, sáo rỗng”, điều đó có nhưng không phải là tất cả. Cũng như ở ngoài đời có những thứ chỉ na ná văn chương. Điều quan trọng là phải biết chọn lọc “hay giữ dở bỏ”…

Văn học là một bộ môn nghệ thuật ngôn từ khá phức tạp. Để hiểu được nó đã khó, lại còn phải dạy cho người khác hiểu lại càng khó gấp bội phần. Vì tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau nên việc tranh cãi là không bao giờ tránh được, cho nên giáo viên chúng tôi đã được quán triệt là phải luôn tôn trọng sự suy nghĩ sáng tạo của học sinh. Khi chấm văn chúng tôi không bao giờ để lọt những học sinh thực sự có năng khiếu. Và cũng bởi vì văn chương vừa là một môn học có tính chất công cụ vừa là một bộ môn nghệ thuật, là lĩnh vực của năng khiếu cho nên không phải ai cũng được lựa chọn vào địa hạt của nó. Từ xưa đến nay tìm được người giỏi văn không dễ và điểm 9 điểm 10 vẫn mãi là niềm mơ ước đối với học trò yêu văn.

Trong ba năm vừa qua tôi liên tục dự các lớp bồi dưỡng thay sách giáo khoa THPT, đứng ở góc độ là một giáo viên tôi thấy bộ sách đã giúp giáo viên cũng như học sinh bớt được nỗi lo quá tải. Có người còn quả quyết rằng “đây là bộ sách tốt nhất từ trước đến nay”. Cũng đã trực tiếp giảng dạy chúng tôi thấy chương trình soạn theo hướng tích hợp đã tạo thuận lợi cho việc học tập: học sinh được tự do tìm tòi sáng tạo, phát huy năng lực nghe, nói, đọc, viết…Xin ông đọc kĩ tất cả các sách giáo khoa rồi xem lại mục tiêu bài dạy thì chắc ông sẽ thông cảm hơn với người biên soạn – một công việc hết sức nhọc nhằn xen lẫn đắng cay bởi làm sao tránh được búa rìu dư luận. Mặc dù họ có thể không chọn được nhiều hơn nữa các tác phẩm hay song chúng tôi không thấy tác phẩm nào là “tầm thường, xoàng xĩnh, “vơ bèo vặt tép”, “bất thành nhân dạng”…như ông nói.

Dĩ nhiên trong khi tuyển chọn văn bản chương trình sách giáo khoa đều chú trọng hàng đầu tiêu chuẩn là tính thẫm mĩ ,tính nghệ thuật của tác phẩm nhưng trong nhà trường còn cân nhắc xem tác phẩm đó có phù hợp với đối tượng và có tính giáo dục hay không,đồng thời còn phải cho học sinh hiểu thêm một vài tác phẩm có tính tiêu biểu cho từng giai đoạn ,từng thời kì văn học…Ông không hiểu rằng những người biên soạn có khi phải trao đổi,tranh luận,cân nhắc nhiều lần thậm chí mất nhiều buổi mới đi tới thống nhất chứ đâu phải tùy tiện như ông nghĩ.Còn nếu có những tác phẩm như ông nói, kính xin ông chỉ thẳng ra cho đông đảo anh chị em giáo viên chúng tôi được biết, và cũng xin ông nêu lên những tác phẩm hay mà ông thấy cần đưa vào để chúng tôi đề nghị các nhà soạn sách chỉnh lý bởi họ không bao giờ “quá tự tin tự coi mình là khuôn mẫu, thấy không cần thay đổi”…Theo tôi được biết,sách giáo khoa mỗi lần đưa in thử đã trải qua bao vòng thẩm định và xin ý kiến của rất nhiều nhà khoa học, nhà văn ,nhà giáo trong cả nước.

Ngoài ra tôi thấy lời nói của ông chứa đầy mâu thuẫn, lúc thì ca ngợi ngày xưa khi lại hô hào cần phải thay đổi; vừa bảo chương trình quá tải, lại mong muốn đưa 50% ngôn ngữ vào dạy; ca ngợi Trung Quốc dạy văn học sử (kiến thức này ở đâu mà chả cần) mà lại phê phán ở ta “bắt học sinh học bao nhiêu tác giả tác phẩm”. Ông còn mong muốn bắt chước người ta dạy tỉ lệ ngữ và văn là 50/50 (căn cứ vào số trang) mà không hiểu được một điều dù là dạy ngữ hay văn thì mục tiêu chung là đều giúp học sinh có thể giao tiếp tốt, tức là trình bày suy nghĩ của mình cho đúng cho hay (khả năng tạo lập văn bản nói và viết)-còn văn dĩ nhiên là còn có khả năng tạo rung động thẫm mĩ thông qua đó thực hiện một số chức năng khác như giáo dục thẫm mĩ…Vậy là với phương pháp tích hợp thì trong khi các em học phần văn cũng đồng thời là đang trau dồi khả năng ngôn ngữ và lúc này ngôn ngữ là 100% . Ông đã hiểu văn chương tách rời Tiếng Việt nên vội vàng phê phán.

Điều cuối cùng tôi muốn nói với ông rằng một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh mới hơn 30 năm mà đã đạt được những thành tựu như hôm nay không phải chuyện dễ. Cả khoa nghiên cứu văn học, nhất là chuyên ngành phương pháp dạy học văn và đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn như chúng tôi vẫn đang hàng ngày hàng giờ trăn trở, suy tư, miệt mài bên giáo án, giáo trình, nâng cao trình độ chuyên môn những mong dạy tốt, góp phần đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước có tri thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đặc biệt là có trái tim bao dung nhân hậu, biết phát hiện cái đẹp trong cuộc đời còn có những cái ác cái xấu để vững tin vươn lên Sống Đẹp.

Bản thân tôi khi viết bài này cũng chỉ mong ông “cần nhìn nhận cho đúng”, tránh “vơ đũa cả nắm”, “phủ định sạch trơn”mọi cố gắng của các nhà khoa học giáo dục ở một bộ môn đầy phức tạp này. Và cũng xin ông đừng tiến hành những cuộc so sánh quá ư là khập khiễng giữa tình hình dạy văn ở Việt Nam với Trung Quốc, Thái Lan, Mĩ…Tại sao ông không so sánh xem đời sống của các giáo sư nước mình và nước họ?

Giáo sư của họ được trang bị từ A đến Z(Từ nhà, xe cho đến phòng thí nghiệm…) còn giáo sư của ta thì được gì ngoài sự ngưỡng mộ của sinh viên học viên. Bao nhiêu năm miệt mài làm khoa học cống hiến hết mình mà không đòi hỏi gì. Đặc biệt gần đây tôi có may mắn được dự một hội thảo khoa học hội tụ rất nhiều giáo sư, phó giáo sư danh tiếng. Tôi thật sự khâm phục khi chứng kiến các thầy sôi nổi, đầy nhiệt huyết trong tranh luận khoa học, mong ước cháy bỏng là đưa ra những kiến giải gần chân lí nhất, góp phần vào sự phát triển của khoa nghiên cứu PPDH Ngữ văn. Và tôi xúc động vô cùng, cho đến bây giờ cũng vẫn luôn tự hỏi tại sao các thầy có thể giản dị đến nhường ấy: sau bữa cơm trưa đạm bạc, các thầy vui vẻ đội mưa về căn phòng diễn ra hội thảo, ngả lưng trên những chiếc ghế, chợp mắt một lúc để rồi lại tiếp tục say sưa trao đổi khoa học.

Ngạc nhiên, xúc động, khâm phục, tôi nhận ra rằng tôi cần phải soi vào những tấm gương đẹp đẽ ấy.Tôi cũng hiểu sâu sắc một điều muốn làm nhà khoa học chân chính phải biết hiến mình cho khoa học,phải biết học hai chữ khiêm tốn,cầu thị. Đọc bài “Nhọc nhằn muôn nỗi sách giáo khoa” đăng trên báo văn nghệ chúng tôi mới hiểu rõ việc chọn, tìm các tác giả sách giáo khoa vất vả công phu biết nhường nào. Vậy mà không hiểu dựa vào đâu mà ông vu khống là họ “ấn học trò vào xí chỗ”.Tôi thiết nghĩ ,ông nên suy nghĩ lại về những lời phát ngôn cảm tính,tùy tiện,thiếu trách nhiệm với những người đáng là bậc thầy và đã từng là thầy của ông.

“ Thư bất tận ngôn”, hi vọng sẽ tiếp tục trò chuyện cùng ông. VÀO NHỮNG NGÀY KHAI TRƯỜNG NĂM HỌC 2008-2009

Thư viện KHOA HỌC XÃ HỘI

Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt nam hiện đại


Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20.

* Vì sao ông lại đề xuất việc in lại và bắt tay và chú giải một cuốn nhật ký đã ra đời từ hơn tám mươi năm trước?

– Trên con đường tìm hiểu về giao lưu văn hóa giữa người Việt và người nước ngoài, mấy năm nay, tự nhiên bọn tôi bảo nhau phải chú ý tới “đầu ra”, tức là hiện tượng người Việt qua khỏi biên giới nước mình để đối mặt với thế giới rộng lớn. Thể tài cần tập trung chú ý trước tiên là thể ký, bao gồm du ký, bút ký, nhật ký. Năm 2002, cuốn Đi Tàu đi Tây đã được biên soạn. Pháp du hành trình nhật ký tiếp tục cái mạch đó.

* So với những cuốn đã in, nhật ký của Phạm Quỳnh có gì mới?

– Xuất hiện sớm hơn, thứ nhất; dày dặn hơn, thứ hai; và thứ ba; bên trong nó là một nội dung văn hóa: tác phẩm cho thấy một phần đời sống tinh thần của người Việt đương thời.

* Liệu có vì yêu mến tác phẩm mà ông nói quá lên so với mức độ nó vốn có?

– Năm 1932, Phan Khôi từng có một bài viết in trên Phụ nữ tân văn, nói về thể nhật ký trong văn học, sự phát triển rất sớm của nhật ký ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng như các nước phương Tây và sự hiếm hoi của nhật ký ở nước ta. Kết luận bài viết, Phan Khôi cho rằng nhật ký là cái thước để đo trình độ văn minh của một dân tộc. Tôi cho rằng nói “một trong những cái thước” có lẽ phải hơn. Qua nhật ký, người ta có thể thấy mức độ trưởng thành của các nhân cách trong một giai đoạn của lịch sử xã hội.

* Ông có thể cho đông đảo độc giả hiểu rõ hơn về nội dung cuốn sách của Phạm Quỳnh?

– Năm 1922, tác giả có dịp đi Pháp. Trải qua hàng tháng lênh đênh trên biển, ông đến Marseille tham gia triển lãm, tiếp đó có ba tháng ở Paris, và ngoài những chuyến tham quan, còn có nhiều buổi tiếp xúc với một số trí thức, cũng như những buổi thuyết trình về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam…Qua Pháp du hành trình nhật ký, người ta nhận ra hình ảnh một người Việt Nam trước khi đi xa đã có những hiểu biết chắc chắn về xứ sở mình sẽ tới, nên có thể đi vào đó một cách đàng hoàng, nhất là con người ấy có lòng tự trọng, muốn giúp những người nước ngoài kia hiểu thêm về đất nước mình và nếu như đối tác có gì chưa hiểu thì kiên nhẫn thuyết phục…

* Cuốn sách có vai trò thế nào đối với sự nghiệp tác giả?

– Phạm Quỳnh thường chỉ được biết tới như một ngòi bút biên khảo. Luận giải văn học và triết học, cái tên của cuốn sách tập hợp các bài viết của ông được in ra gần đây, đã nói lên điều đó. Nhưng ông còn là một nhà văn. Theo Thanh Lãng, tác giả Bảng lược đồ của văn học Việt Nam hiện đại, “người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của Phạm Quỳnh chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút của ông (…) có đọc các tập hồi ký mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như người ta tưởng” (trích theo tạp chí Văn Học, in ở Sài Gòn, tháng 4/1963). Pháp du hành trình nhật ký là một minh chứng cho điều Thanh Lãng viết

* Ông đã bắt tay vào việc chú giải cuốn sách như thế nào?

– Lâu nay, sách tái bản thường chỉ cố in ra như nguyên văn đã có, trong khi đó, theo tôi, sau những biến thiên của hoàn cảnh, người đọc có nhiều điểm khó tiếp thụ, nhất là phần ngôn ngữ, nên nhất thiết các nhà chuyên môn phải phân công nhau vào cuộc. Công việc quá khó, tôi tự thấy chưa làm được bao nhiêu, chẳng qua đọc đến chữ nào thấy không hiểu thì giở từ điển tra lại và ghi ra để đỡ công cho bạn đọc. Tuy nhiên, cũng nhờ vào việc chú giải này mà tôi có dịp học hỏi thêm về tiếng Việt.

* Ông kỳ vọng gì ở cuốn sách?

– Chung quanh ý niệm di sản văn học, nhiều người chỉ đơn thuần nghĩ tới phần văn chương Hán Nôm từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 19, trong khi đó theo tôi, phần văn chương quốc ngữ đầu thế kỷ 20 cũng là một bộ phận có ý nghĩa tích cực, bởi nó có nhiều liên hệ trực tiếp tới sự phát triển của văn chương hôm nay. Trước khi có được Thơ mới hay Tiểu thuyết tiền chiến – vốn là những giá trị chín đẹp bậc nhất trong lịch sử văn học dân tộc – văn học đã trải qua một giai đoạn mò mẫm tìm đường, nhưng chính bởi vậy, nó lại có sức hấp dẫn riêng . Chúng tôi muốn, một lần nữa, đánh động dư luận theo hướng đó.

* Liệu các ông còn cho làm những cuốn tương tự?

– Chúng ta đều biết nay là lúc giới xuất bản đang trải qua một giai đoạn khó khăn. Bên cạnh việc làm sách dịch theo đúng những chuẩn mực cần có, nên tính chuyện quay trở lại “thâm canh” vào văn học trong nước, kể cả khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại mà bấy lâu bị “bỏ hoang”. Có thể mới làm sẽ gặp nhiều khó khăn, không chỉ bạn đọc nhìn loại sách này đã ngại mà ngay cả giới biên khảo và nghiên cứu văn học cũng đánh bài lảng bởi việc quá xương xẩu, nói chung cầu dễ đã là một nếp quen trong cách sống của nhiều người chúng ta. Song nếu tận mắt nhìn thấy nhiều cuốn sách in ra từ tám mươi năm, chín mươi năm trước- những chứng tích của lịch sử dân tộc trên con đường hiện đại hóa, nay do không được bảo quản một cách khoa học, đã gần đến lúc tàn lụi, chúng ta mới thấy xót xa, và chỉ có thể nhủ thầm là phải bảo nhau mỗi người một tay, cứu lấy kho di sản đó càng nhanh càng tốt.

Ngô Phan (thực hiên)
báo Thể thao và Văn hóa ra ngày 18/1/2005

Phần viết thêm cho bản in trên Talawas

Khi cuốn sách này đã được in ra ở Hà Nội thì người chú giải có tìm thêm được một tài liệu do Thanh Lãng viết trên Tạp chí Văn Học ra ở Sài Gòn số tháng 4/1963, có liên quan đến Pháp du hành trình nhật ký. Mặc dù đã chủ bụng không đi vào tìm hiểu và đánh giá tác phẩm, mà chỉ chú giải, song được một đoạn văn quý, chúng tôi xin được phá lệ mà chép ra sau đây để bạn đọc cùng biết:

“ Người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút trong đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris (tức bản tóm tắt của Pháp du hành trình nhật ký – VTN chú), thì ta phải nhận là những tập hồi ký giá trị, giá tị vì những nhận xét tỉ mỉ, những nét tả linh động, nhất là ở tình cảm say sưa của một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy. Phạm Quỳnh, là một nhà thơ viết văn xuôi. Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như chúng ta tưởng…”

tham khảo:PHAM QUỲNH
đọc thêm:Pham Ton’s Blog

Chất lang chạ trong mỗi chúng ta

Giao thiệp rộng vốn là một yêu cầu thiết yếu đặt ra với nghề cầm bút. Có giao thiệp rộng, một người viết văn mới có cơ may hiểu đời hiểu người và có vốn để viết. Trong hoàn cảnh mà việc viết lách còn luôn luôn đòi hỏi cả mọi sự thường xuyên dỏng tai nghe ngóng để nắm bắt được sư luận cho chính xác, thì có thể nói là không giao thiệp rộng không viết nổi.

Ấy vậy mà có những người trong chúng tôi, vụng về cố chấp, cả đời chỉ loanh quanh trong một đám bạn bè hẹp. Trong khi ấy lại có những người gần như đi với ai cũng được, đi với ai cũng toe toét cười đùa nói năng bả lả. Cả già lẫn trẻ, cả các ma cũ lẫn đám ma mới, cả đám chuyên môn chúi đầu vào sách lẫn đám sống không ngại bụi đời và quan trọng nhất là cả những người lúc nghiêm chỉnh anh tìm đến để dãi bày tâm sự lẫn đám Chí Phèo thực bụng là anh e ngại, tất cả, tất cả, anh đều khoác tay thân mật như bồ bịch. Trông sự đóng kịch của anh mà thèm. Vâng, chúng tôi cũng hiểu anh X. nói ở đây là người giỏi đóng kịch, giỏi đổi màu, đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy, là sống theo kiểu làm xiếc. Rồi có một lần ai đó buột miệng bảo anh là điếm. Không đánh đu với lão X. ấy được, người ta bảo vậy. Lão ấy điếm lắm, đi với ai cũng thế, chỉ cốt moi tài liệu thôi mà. Người chung quanh ngớ ra một lúc rồi cũng thấy phải. Riêng có anh X. vẫn cười nhăn nhở, vẻ như muốn bảo ai người trong bọn mình chả có chút lang chạ. Lang chạ trong giao thiệp như tôi còn là chuyện tha thứ được, anh nói thêm. Đến như các bố lang chạ trong viết lách mới thực đáng sợ.

Lần này thì lời cảnh cáo của cái con người thập thành ấy có làm cho chúng tôi sững người ra một lúc thật!

Trong tiểu thuyết Anh em Karamazov, nhà văn Nga Dostoievski từng nói tới một tình huống kỳ lạ. Smerdiakov thực thi việc giết bố. Nhưng chính kẻ sớm có ý định làm việc ấy và ngấm ngầm khuyến khích hung thủ, tóm lại tội nhân chính phải kể là Ivan. Chuyện lang chạ nói ở đây cũng có nét gì đó tương tự. Có những người suốt đời không biết đến người đàn bà nào khác ngoài vợ, nói đến chuyện chơi bời thì ngớ mặt ra, muốn bảo vệ nhân phẩm của chị em một cách nhiệt huyết, một cách chân thành… song nhiều người trong họ lại cư xử theo đúng tinh thần của cái nghề mà họ khinh bỉ. Trong sự giao thiệp hàng ngày nhiều khi vì lịch sự mà chúng ta phải tạm xếp cái cá nhân chính đáng của mình lại, để chiều chuộng tất cả những người mà ta có quan hệ. Bảo thế là điếm e còn oan. Nhưng cứ đà ấy mà kéo, nhân danh sự kiếm sống ta tự cho phép làm tất cả những việc ta vốn không thích, miễn làm vừa lòng khách hàng của mình; việc vốn thiêng liêng đáng ra phải mang tất cả tình cảm và hứng thú ra để làm, lại được tiến hành một cách máy móc, theo nguyên tắc của chiếc tắc xi, khách nào cũng chở, có tiền là chở, tiền trao cháo múc… thì đúng là lang chạ vô nguyên tắc rồi còn gì. Càng những nghề có quan hệ tới công chúng rộng rãi, cái nguy cơ ấy càng lớn. Như trong việc sáng tác văn chương mà chúng ta đang nói. Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút nào nhận viết về mọi đề tài không phân biệt quen hay lạ, sở trường hay sở đoản, cứ có người đặt tiền vào tay là viết, viết xong lại khinh bỉ ngay cái vừa viết rời tay, song rằng quen mất nết đi rồi, ngày mai lại làm tiếp cái việc hôm qua đã làm. Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút phê bình không cần biết hay dở, hợp gu hay không hợp gu, viết bạt mạng, viết lấy được, suồng sã xô bồ trong thẩm định và đánh giá. Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường so sánh việc cầm bút với tình yêu, coi đó là những hành động nguyên bản, mỗi lần diễn ra là một trường hợp độc đáo. Bởi trong xã hội hiện đại, sự nhốn nháo có chiều tăng lên, người ta lại càng quý mến những ai giữ được tiết sạch giá trong của ngòi bút (còn việc mang lại cho cái tình yêu đó một sắc thái hiện đại, ấy lại là chuyện khác và chúng ta sẽ nói tới vào một dịp khác!)

(Đã in trong Buồn vui đời viết -1999)

Người kỹ nữ,một phép thử độc địa


Sự tồn tại của nghề kỹ nữ là cả một tệ nạn xã hội. Song từ xưa tới nay, loại tác phẩm khai thác đề tài này lại khá nhiều, tới mức nếu vứt bỏ chúng đi, người ta không khỏi làm nghèo cái di sản văn học do các thế hệ trước để lại.

Xét cho thật kỹ các từ ả đào, cô đầu, kỹ nữ, gái làng chơi, gái giang hồ, gái làm tiền, gái mại dâm, nhà thổ, đĩ điễm…. vẫn có sự khác nhau chút ít trong ý nghĩa và trong sắc thái tình cảm.

Song dẫu sao giữa những người này vẫn có một nét chung nào đó – đại khái đấy là những người đàn bà không thuộc về một người mà thuộc về nhiều người, ai có tiền là có quyền làm chủ. Họ phải lấy câu ca tiếng hát, và trong nhiều trường hợp cả cơ thể họ ra chiều khách. Niềm vui sống ở đấy mà phương tiện sinh sống cũng dựa cả vào đấy.

Vì gần như thời nào cũng có những người làm cái nghề đặc biệt ấy, nên lẽ tự nhiên là sáng tác văn học viết về họ cũng nhiều, càng sang thời hiện đại càng nhiều. Và cùng với thời gian, việc mô tả thế giới của những người đàn bà này ngày càng kỹ lưỡng hơn, sâu sắc hơn. Các nhà văn cao sáng, những người làm nên vẻ vang cho các nền văn học lớn trên thế giới, như Tolstoy, Dostoievski ở Nga; Balzac, Hugo… ở Pháp, ít nhiều, trong các tiểu thuyết, đều có đả động tới đám kỹ nữ này. Trong văn học Trung Quốc, thơ viết về thân phận “chị em” đã nhiều, tiểu thuyết viết về cuộc sống ở các xóm bình khang lại càng lắm, một người bình thường có thể đọc cả đời không xuể. Điều đó có ảnh hưởng đến Việt Nam. Tác phẩm lớn nhất của văn học ta, thiên truyện phổ biến khắp chợ cùng quê – ý chúng tôi muốn nói đến Truyện Kiều – là câu chuyện xoay quanh đời một cô gái thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, và bao nước mắt đã nhỏ vì cô điếm thông minh tài hoa đó. Đến đầu thế kỷ XX, khi văn xuôi quốc ngữ phát triển, và việc viết văn làm thơ không phải là món trà dư tửu hậu hoặc một phen bộc bạch tâm sự của mấy vị nhà nho hay chữ chờ đi làm quan, mà là một nghề hẳn hoi, thì tác phẩm viết về cuộc đời các cô điếm càng tới tấp xuất hiện. Tại sao? Người viết văn làm thơ phần lớn cũng là du khách, khách thanh lịch, khi quá mệt mỏi hoặc lúc buồn bã chán chường không tìm thấy nghĩa lý cuộc đời, thường cũng tìm tới chị em để giải khuây, đấy là một lẽ. Song cái chính là trong khi tiếp xúc, nhiều người viết văn lại tìm thấy trong cuộc sống của chị em những khía cạnh gần gũi với thân phận mình. Cũng một lứa bên trời lận đận, câu thơ ngày xưa được họ nhập tâm như lời thốt lên từ đáy lòng. Cả bài thơ Lời kỹ nữ của Xuân Diệu không gì khác cũng là tâm sự của chính nhà thơ khi thấy cuộc đời ghê rợn lại quá lạnh giá, mà mình thì hoàn toàn đơn độc। Theo các nhà thơ, đấy cũng là cái tâm trạng thường xuyên đến với những người làm nghề bán trôn nuôi miệng mà lại chưa chịu hoàn toàn hư hỏng। Cũng nên nói ngay là mặc dù cùng một đối tượng miêu tả, nhưng mỗi nhà văn – ở đây chúng tôi chỉ dừng lại ở các cây bút hành nghề trước 1945 – vẫn nhìn đám đĩ điếm ấy một khác, phù hợp với quan niệm của nhà văn đó về con nguời nói chung। Có lối lý tưởng hoá người đàn bà giang hồ của nhóm Tự lực (trường hợp tiểu thuyết Đời mưa gió) nhưng lại có lối trình bày hiện thực trắng trợn, tàn nhẫn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Trong Người ngựa và ngựa người, ả giang hồ ế hàng này hiện ra cùng quẫn nhếch nhác rồi hèn hạ, rồi giả dối, như nhiều người đời khác, vẫn thường được Nguyễn Công Hoan nói tới một cách khinh rẻ (chữ người ngựa ở đây để chỉ anh phu xe, còn chữ ngựa người để chỉ người đàn bà bất hạnh ấy). Vũ Trọng Phụng cũng không hề gượng nhẹ khi phải phác ra hình ảnh những nhà lục xì và những người làm đĩ. Rất tự nhiên, nhà văn họ Vũ lấy họ ra để chứng minh cho căn tính dâm của con người nói chung. Đời ở tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng bẩn, nên chi trong các ngôi nhà mà đám đàn bà này hành nghề, đời càng hiện lên nhớp nháp, nhầy nhụa.

Tuy nhiên trong văn học không chỉ duy nhất có hai cách nhìn như vậy. Ở giữa hai thái cực trên – thi vị hoá và tô đen bôi bẩn – vẫn còn thấy có những trường hợp loại nhân vật phụ nữ này được miêu tả với chút tình cảm dịu dàng, có đau xót nhưng lại có thông cảm.

1. Trong Thề non nước của Tản Đà, cô đầu Vân Anh vốn là con nhà có học, biết chữ nho, có thể làm thơ xướng hoạ với khách (bản thân bài thơ Thề non nước được Tản Đà kể như là do hai người nối tiếp nhau đặt lời mà thành). Cách cư xử của Vân Anh thì tinh tế, ý nhị khiến người có học cũng phải vì nể. Các tài liệu văn học sử còn ghi rõ chính bà thân sinh ra thi sĩ Tản Đà cũng là một cô đầu. Và cái cốt cách người mẹ như còn phảng phất trong hơi thơ của ông ấm Hiếu. Không thể tưởng tượng ra đời sống văn học đầu thế kỷ nếu thiếu đi ngòi bút Tản Đà tài hoa duyên dáng!

2. Chỉ có một lần nhà văn Thạch Lam vẽ nên cái cảnh nhà săm trong thiên truyện Tối ba mươi. Có điều, nhân vật chính của thiên truyện này lại là hai cô gái có tâm hồn thanh khiết như xưa nay các nhân vật của Thạch Lam vốn vậy. Trong cái Tối ba mươi ấy, Liên và Huệ – tên hai cô gái phải rơi vào cảnh thanh lâu – vẫn không quên thắp hương bày bàn thờ gia tiên rồi cùng nhau yên lặng nhớ lại từng kỷ niệm êm đềm trong quãng đời ngây thơ lúc nhỏ. Nên nhớ rằng ở Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, nhiều nhân vật có tiền tài, có địa vị vẫn hiện ra bẩn thỉu vụ lợi, nhiều nhân vật mang tiếng là có tri thức mà suy nghĩ và cử chỉ thì lại đặc lưu manh. Ngược lại ở hai cô gái điếm của Thạch Lam, vẫn có sự thành kính với đời mà chỉ có những con nhà gia giáo mới có. Tóm lại họ vẫn là những con người cao quý.

3. Nhân vật trong các truyện ngắn truyện vừa Tô Hoài viết trước năm 1945 thường là đám dân nghèo chuyên dệt cửi xeo giấy, khá hơn một chút thì có mấy anh giáo kiết gõ đầu trẻ trong làng. Tương ứng với họ, là đám cô đầu phố phủ còn nguyên chất ngoại thành. Như Tô Hoài viết trong Quê người, những cô đào rượu ấy phải đi vắng khách lại đi “ra đồng bắt ốc hái rau muống cấy thuê”. Không ai trong họ có một tính cách rõ rệt, chỉ nghĩ đến họ đã thấy thương hại.

4. Trường hợp của các nhân vật Nguyễn Tuân thì lại hoàn toàn khác. Trong nhiều thiên tuỳ bút, Nguyễn Tuân từng công khai kể lại những ngày ông lăn lộn ở các xóm bình khang mà ông gọi là những ngày phóng túng hình hài, với bao chi tiết vừa đau xót vừa tức cười. Vào với các xóm cô đầu ở bất cứ đâu, ông cũng ngang ngược thả sức quấy đảo trêu chọc mọi người. Song thật sự chàng Nguyễn cũng là một người đối xử với chị em hết sức có tình. Nhà thơ Hoàng Trung Thông kể rằng có lần nghe tin một người cô đầu quen biết cũ qua đời, Nguyễn Tuân đã ứa nước mắt.

Đời Nguyễn nhiều lần ứa nước mắt khóc như thế.

Trong Chiếc lư đồng mắt cua có một nhân vật cô đầu tên là Tâm. Theo như cách kể của tác giả thì Tâm là một người rất thạo, chính cô cũng nhận là cô “gần như thập thành” lại “hơi du côn”, “đã có tai tiếng là đi vụt thiên hạ dữ lắm, không sẵn tiền thì không nên quen con Tâm”. Thôi thì Tâm cũng đủ vành đủ vẻ khinh bạc vênh váo trắng trợn, tóm lại là có đủ những đức tính mà Nguyễn Tuân vẫn phô ra với đời để chứng tỏ là bất cần đời. Có điều, cũng như Nguyễn Tuân, Tâm lại là dân say nghề, một tay cự phách trong nghề, tiếng hát, nói như cách nói của thời ấy, rất nhiều tinh thần, khiến cho những người sành sỏi cũng phải bái phục. Mặt khác Tâm là người sống có tình có lý, đã định làm cái gì là làm bằng được, đàng hoàng khảng khái.

Quả thật Nguyễn Tuân đã soi vào tâm mình để thấy bóng dáng của Tâm, và mượn Tâm để hình dung ra chính mình. Đối với một nhà văn, như vậy là nhân vật cô đầu Tâm đã ở vào chỗ tột cùng của sự kính trọng.

Qua truờng hợp của những Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng… nói ở trên, có thể rút ra một nhận xét đơn giản: Nhà văn thế nào thì nhân vật gái giang hồ được họ miêu tả cũng na ná như vậy.

Trong văn học, người kỹ nữ vẫn là một phép thử.

Như trong đời sống.

Đã in Chuyện cũ văn chương – 2001

Ca tụng ả đào

Tiệc rượu không chỉ là nơi để người ta ăn mà nhiều khi trước tiên là chỗ để người ta nói. Bữa ấy, nhân có chút nhuận bút còm, nhà văn Bính mời thêm hoạ sĩ Giáp, nhà thơ Canh, nhà nghiên cứu nghệ thuật Quý, nhà sử học Kỷ… đến để cùng tìm cách nhờ trợ giúp của mấy lon bia tiêu thụ cho hết một cỗ lòng, nhân đó bàn luận sự đời. Không biết tự lúc nào, câu chuyện của họ chuyển sang đề tài thú chơi của người xưa và vào lúc đã say, tiếng nói của họ xen lẫn vào nhau, như trong bản hoà tấu, mỗi người một giọng…

– Tôi không muốn là kẻ bám càng, thấy ai khen cái gì cũng hùa theo khen lấy được, song tôi cứ nghĩ hát ả đào lạ thật, giá kể có ai bây giờ mở một thứ dịch vụ ả đào – mà là ả đào thứ thiệt – chắc tôi cũng phải cố viết mấy bài báo linh tinh lấy mấy đồng, mà mua vé vào … tom chát một bữa. Không khí đầm ấm này, nhạc quyến rũ này, và những giọng hát sang sảng như giọng bà Hồ, bà Phúc này. Một vài chục năm nữa, nước mình giàu lên, chắc có người nghĩ ra chuyện làm một thứ bảo tàng âm nhạc, trong đó có chỗ chuyên lưu giữ các giọng hát quý, một thứ ngân hàng gồm toàn những giọng vàng trong lịch sử. ở cái ngân hàng giọng đó, tôi ngờ cùng với giọng Khánh Ly, Bảo Yến, rồi Thanh Lam, Mỹ Linh… hoặc những giọng ca mà chúng mình từng say mê những năm nằm hầm Trường Sơn như Bích Liên, Thanh Huyền v.v… thì những băng từ ghi giọng bà Phúc, bà Hồ, giọng Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm, giọng Mộng Hoàn v.v.. phải được đặt ở chỗ danh dự.

– Anh Bính mở đầu thế cũng được đấy. Nhưng thôi, hãy nới tới những chuyện liên quan đến nghề viết văn. Hẳn anh còn nhớ bài viết của Nguyễn Tuân mang tên Một đêm họp đưa ma Phụng, trong đó kể chuyện mấy văn hữu, trước khi đến ngả mũ cúi đầu trước mộ tác giả Số đỏ, phải sang bên sông làm một chầu hát cái đã. Nhìn bằng con mắt tục thì như thế là đổ đốn chứ gì, kéo nhau dong chơi cả đêm để rồi hôm sau đi đưa ma, nghĩ thật dở quá! Song không rõ các anh ra sao chứ riêng tôi đọc đoạn văn ấy, vẫn thấy rất tự nhiên.

– Phải ý anh định nói nhà trò là nơi con người bấy giờ thường tìm tới, mỗi khi cảm thấy cuộc đời này quá lạnh lẽo chứ gì? Đồng ý! Đây tôi xin bổ sung thêm một ý nữa về cái sự sang trọng của các nhà trò thời xưa. Hẳn các anh còn nhớ trong Lều chõng, Ngô Tất Tố cũng đã không giấu diếm rằng mình mê hát ả đào và sự thực là ông đã cãi rất hăng, cãi thật lực cho việc xuống xóm. Với các nhà nho như Ngô Tất Tố, không phải có sự đối lập, ai đã dềnh dang chơi bời thì đừng tính chuyện văn chương, còn người chữ nghĩa bề bề thì không hề lai vãng tới phố Hàng Lờ bao giờ cả. Mà ngược lại, trong Lều chõng, người hay chữ đệ nhất là Đào Vân Hạc cũng là kẻ ham hố liều lĩnh, giữa hai kỳ thi vẫn líp chặt ở chỗ đào Cúc, đào Phượng. Lạ cái nữa theo Ngô Tất Tố cho biết, chính các nhà trò cũng thích dụ bằng được mấy chàng hay chữ vào cuộc, thì mới hả dạ. Ra giữa chốn lầu hồng, người ta vẫn lấy chữ nghĩa để đánh giá nhau, thú vị thế chứ!

– Thế tôi thử hỏi anh Kỷ với các anh, chúng ta cắt nghĩa thế nào về chuyện trong các bài ca trù thường có pha thêm vài câu chữ Hán khi ở khổ đầu, khi ở khổ giữa? Một thứ Hán Việt giao duyên dăng dăng ra thế, kể cũng là chuyện đáng nghĩ phải không nào? Theo tôi, nội một điều đó cho thấy hát ả đào là thú chơi của đám nho sĩ nhà nòi. Các cụ cũng thích khoe. Nhưng khoe đây là khoe sự tài hoa, tao nhã, lịch thiệp. Khoe tài khoe giỏi nên không thấy chướng như bọn giàu xổi khoe của. Mà những đoạn các cụ mượn chén “tế” bọn phàm phu tục tử thì cũng toàn những đoạn chửi độc cả.

– Để tôi xin bổ sung vài câu về chuyện anh Giáp vừa nêu. Xưa kia, nhà trò phổ biến thật, nhưng không phải ở đó cá mè một lứa, ngược lại các nhân vật có thể gọi là đứng được ít nhiều đều có dính dáng đến chữ nghĩa. Trong Chiếc lư đồng mắt cua của Nguyễn Tuân này, rồi trong Thề non nước của Tản Đà này…

– Hình như nhân vật người khách trong Thề non nước mê Vân Anh là từ lúc biết rằng cô này giỏi chữ Hán?

– Chứ còn gì nữa! ở chỗ lầu xanh lầu hồng ấy, có được tiếng đàn câu hát chưa đủ, lại phải uyên bác nữa mới chết người chứ! Hình như trong đầu óc các cụ nhà nho xưa, nhân vật nhà trò tiêu biểu phải là loại con nhà gia giáo, chẳng qua sa cơ lỡ vận chịu rơi xuống cảnh bùn nhơ, mà lúc nào cũng ao ước hoàn lương, ao ước trở lại với những ngày xưa gia phong, nền nếp.

– Nghĩa là trong nhân vật những người con gái nhà trò con hát này, các cụ tìm thấy sự phóng chiếu của hình ảnh chính mình?

– Có thể thế lắm. Nhưng thôi, trở lại với cái ý ban đầu của anh Bính: sự trái tính trái nết của một số người trong chúng ta bây giờ là sự say mê cái cổ. Không, tôi không thấy có gì phải xấu hổ cả. Trong các món văn hoá quà vặt thời nay, quà Âu quà Mỹ có cái ngon riêng của nó, nhưng tôi tưởng chuyện các cụ xưa cũng còn là món quà sang, mới nhắc lại đã thấy thơm tho mồm miệng. Được la cà vào đây mà tận hưởng, hẳn vui chán, phải không các bác? Chỗ anh Giáp vừa làm quyển sách về Nguyễn Tuân hở? Anh nào biên tập thật đáng đánh đòn quá, lẽ ra phải cố mà chạy lấy một bài Nguyễn Tuân và nghề hát cô đầu mới phải!

…Tiệc rượu ( = tiệc nói) đến đây chưa dứt. Trong lúc mải bàn về thú cô đầu, mấy cái mồm ngồi quanh cỗ lòng hôm ấy còn miên man tán sang “con người trò chơi” ở các nhà nho và thử đố nhau về cái thanh cái tục trong nghề chơi của người xưa. Băng ghi âm của chúng tôi còn ghi đủ, hẹn có dịp gỡ băng hầu các bạn.

Đã in Chuyện cũ văn chương – 2001

Chấp nhận để tìm cách đổi khác?

Văn học sex qua cái nhìn 1 nhà phê bình.
Nhưng nếu mọi người đua nhau nói tới sex, người nào nẩy nòi lên cũng đều là qua con đường sex, và chỉ có vài cây bút bất tài mới dở giọng chính chuyên chê bai sex, thì điều đó chẳng có gì là đáng tự hào …

Một tình hình bình thường.

Bản năng con người … Sex …ám ảnh tính dục … ở nước nào cũng vậy, các nhà văn vốn dành cho đề tài này một sự ưu đãi đáng kể. Bước sang thời hiện đại càng nhiều người đổ xô vào để viết, trong số này có cả những nhà văn lớn, xem đó là con đường làm nên sự nghiệp, chẳng hạn như Moravia, Henry Miller, Nabokov … Những trang liên quan tới sex là một phần làm nên giá trị văn chương của họ và quả thật chỉ bằng cách đó mới biểu hiện được tư tưởng cao đẹp.
Ở nước ta sau chiến tranh và trong giai đoạn mở cửa hiện nay, lẽ tự nhiên đề tài này cũng được khuấy động! Bởi nếu tính dục là một nhu cầu tự nhiên của con người, thì việc quan tâm tới nó cũng là tự nhiên, làm sao người ta lẩn tránh mãi được.

Nhà văn Liên xô cũ Ju. Trifonov từng nhận xét rất hay về lớp trẻ: họ giống cha ông họ thì ít mà giống với thời đại thì nhiều. Thành thử sự xuất hiện của những tác phẩm kiểu như thơ Vi Thuỳ Linh, thơ của nhóm Ngựa trời, hoặc các loại truyện như kiểu Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu – nên được coi là bình thường. Cũng như rất bình thường là chuyện trước các sáng tác ấy – tôi muốn nói là với từng trường hợp cụ thể – mỗi người một ý, rồi sinh ra cùng lúc cả những ủng hộ biểu dương , những phản cảm, những lời phê phán dè bỉu. Tình hình theo tôi không có gì đến nỗi phảI làm ầm ĩ .

D. H. Lawrence là một nhà văn lớn của Anh, tác giả nhiều cuốn sách được đưa vào các từ điển lớn, vậy mà Người tình của Chatterley phu nhân của ông (in lần đầu 1928 ) khi ra đời ở quê hương mình cũng một thời gian dài bị cấm ngặt, và bản thân ông thì bị ra toà, trong khi ở một số nước nó lại được trọng vọng. Tại sao như vậy ? Bởi ngay ở những nước mà các giá trị văn hoá được xác lập một cách chắc chắn và hệ thống luật pháp đã hoàn chỉnh thì việc phân biệt giữa tác phẩm khiêu dâm, vi phạm đạo đức nhân bản, và tác phẩm dùng sex để biểu hiện khao khát nhận thức, khao khát tự do của con người, cái đó bao giờ cũng quá khó và dễ bị giải thích sai lệch.

Biểu hiện méo mó của một khao khát chân chính.

Không nên nghĩ rằng việc một số cây bút trẻ ở ta thích viết về sex chỉ là do sự lây lan ảnh hưởng từ nước ngoài, là học đòi theo thói rởm. Phải nói đây cũng là nhu cầu của bản thân lớp trẻ trong nước. Nay là lúc xã hội đang đổi khác, các khung nhận thức cũ ai cũng xem là chật hẹp, cũng như chuẩn mực đạo đức cũ là cần thay đổi, song cái mới chưa hình thành, nên trong đầu óc nhiều người vẫn chỉ có những giá trị cũ ngự trị. Cái đó lớp người lớn tuổi có thể thấy quen, nhưng lớp trẻ thì không chịu. Lớp trẻ muốn khẳng định quyền tự do của mình, bằng cách thích làm ngược lại, cứ cáI gì cấm thì họ thử làm xem sao. Nói riêng trong phạm vi văn học: thứ văn mà họ bị nhồi nhét trong trường phổ thông không có sức lôi cuốn với họ nữa. Họ phảI tìm những cáI mà nhà trường không dạy. Trước là đọc, sau rồi tự làm ra để mình đọc và bạn bè đọc .

Mặt khác phải nhận chúng ta đang sống trong một xã hội mà nhiều giá trị rơi vào khủng hoảng. Làm ăn cẩu thả. Buôn gian bán lận. Dối trá tràn lan. Tham nhũng đến mức kinh hoàng. Lòng tin bị xói mòn và nhân tính bị hạ thấp. Trong hoàn cảnh ấy, sự xuất hiện thứ văn chương đậm chất sex không có gì khó hiểu. Người ta cần một chỗ để lẩn tránh và tự khẳng định. Vơ đũa cả nắm bảo rằng những gì liên quan đến tính dục là phản văn hoá là có hại thì không thuyết phục được ai nữa. Mê tín dị đoan, theo tôi, còn gây tác hại rõ rệt hơn. Các trò bói toán đẩy con người xuống tình trạng u mê và hoàn toàn phó mặc họ cho định mệnh. Tôi nhớ là vào nhiều cơ quan cũng như tới các nhà làm ăn buôn bán thường gặp nhiều bát hương và cả các sếp lớn cũng đi cầu cúng. Tại sao mê tín chỉ bị lên án sơ sài và trong thực tế là buông thả đến đâu thì đến? Chẳng qua ở đó người ta thường nhân danh một truyền thống lâu đời, và nhất là có sự có mặt đông đảo cùa lớp người già, còn sex thuộc về lớp trẻ, thế thôi .

Mấy điều phản bác sơ bộ

Nói vậy không phảI tôi hoàn toàn chấp nhận mọi thứ văn chương tính dục như nó đã có và còn có thể có.

Bên cạnh một ít tác phẩm biết gắn sex với nhu cầu nội tâm của con người, dùng sex như một thứ ngôn ngữ, thì ở ta, có quá nhiều bàI thơ thiên truyện ở đó người ta nói tới các cơ quan sinh dục và kể chuyện làm tình theo cái cách đứa trẻ vầy vò một thứ đồ chơi nhớp nháp, và mê muội trong cơn say của mình. Trước mắt tôi lúc này thường khi là một nhân cách kém sức đề kháng, dễ làm mồi cho bệnh tật .

Lại thấy có người lý luận “ Sex thuộc về con người và tất cả những gì thuộc về con người đều gần gũi với tôi . “ Ôi nghe có lý quá! Thế nhưng hãy thử bình tâm điểm lại. Nhu cầu tinh thần của nhân loại mở ra theo rất nhiều hướng. Nỗi thèm muốn được hiểu biết ngoại giới và bản thân. Ao ước vươn tới những đỉnh cao trí tuệ. Khao khát phiêu lưu và nhất là khao khát hướng thượng. Có bao nhiêu thứ khác thuộc về con người mà chúng ta cần khám phá chứ lẽ nào chỉ có sex, nhất là thứ sex trần trụi như nhiều người lôi ra để tự thoả mãn ?!

Tôi hiểu rằng sở dĩ một số cây bút trẻ đi vào tính dục chỉ đơn giản là vì ở đó họ không phải mất công học hỏi hiểu biết, ở đó họ được dịp vuốt ve phỉnh nịnh mình mà không phải đối diện một cách nghiêm túc với chính mình (có biết đâu khi thiếu cái ánh sáng của trí tuệ thì những trang sex mà họ thu được cũng nghèo nàn và thấp hèn đi rất nhiều so với nó có thể có).

Trong cả lớp trẻ chỉ có một bộ phận nhỏ đi vào đề tài này thì không sao. Nhưng nếu mọi người đua nhau nói tới sex, người nào nẩy nòi lên cũng đều là qua con đường sex, và chỉ có vài cây bút bất tài mới dở giọng chính chuyên chê bai sex, thì điều đó chẳng có gì là đáng tự hào nếu không muốn nói là một thảm hoạ thực sự.

Cũng nên nói thêm rằng trong những con đường lập danh cho nhanh cho xôm trò thì viết về sex theo kiểu hiện nay có vẻ ngon ăn hơn cả. Một lớp công chúng lười nghĩ và ham hưởng thụ rất cần được vuốt ve chiều chuộng. Họ sẵn sàng tung hô những tác phẩm nói hộ điều họ muốn, còn mấy cây bút kia lại càng có dịp vênh vang mà nói rằng đã có công tạo ra trong văn chương một làn sóng mới. Tôi công nhận một phần sự thực đang là như vậy và trong xã hội hiện đại đây là một hiện tượng hợp quy luật. Trong cuộc đấu tranh với những cái tầm thường, nhân loại chưa bao giờ chiến thắng hoàn toàn, mọi chuyện không phải một lúc mà dọn dẹp ngay được. Điều phải lo là đờI sống văn hoá của cả xã hội. Một khi cái nền chung này phát triển theo đúng quỹ đạo của văn hoá hiện đại với những chuẩn mực mới mẻ của nó thì tự nhiên cái gọi là bộ phận văn học về sex cũng sẽ thay đổi để trở nên trong sáng và sâu sắc hơn.

*30/03/06(VietNamNet)

Thích ứng và tồn tại

Đã lâu lắm rồi hôm ấy, Dần, nhân vật chính trong truyện ngắn Một đám cưới (Nam Cao viết năm 1944) mới có cái quyền đi chợ. Chẳng qua là nhân ngày cưới của cô. Ông bố dặn mua lấy hai xu chè. Cô gái trả lời hai xu bây giờ ai bán. Và cô thẽ thọt nói thêm :

— Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. Quen với ngày xưa, độ một xu một ấm. Bây giờ năm xu, nấu đặc chỉ được một ấm là hết xoẳn.

Có thể xem đây như bằng chứng đầu tiên về tình trạng giá cả leo thang trong xã hội mà văn chương có dịp ghi nhận.

Hoá ra từ hồi nào, nền kinh tế ở xứ này đã là một cái phao bập bênh và những thay đổi tận đâu đâu trên thế giới đã ảnh hưởng ngay đến người dân thường ở những vùng đất xa xôi hẻo lánh bậc nhất.

Trước tình trạng gần như không thể kiểm soát nổi ấy, người ta bàn đến cách đối phó.Tôi đồ chừng thuở kinh tế suy thoái này, hàng ngày, trong các gia đình, trong các nhóm bạn bè ngồi quán tán gẫu, và trong đầu óc từng người nữa — như là có hàng ngàn hàng vạn cuộc hội thảo nho nhỏ diễn ra liên tục, ở đó mọi người nhao nhao đăng đàn diễn thuyết trao đổi ý kiến. Than phiền, kêu la. Ngậm ngùi lo lắng. Bảo nhau phải thắt lưng buộc bụng…

Riêng tôi thì lại hình dung ra một loại kịch bản khác. Một số người … mặc kệ. Họ tự nhủ :

— Dễ người dễ ta, khó người khó ta.

— Rồi sẽ có cách, không chết được mà sợ. Nếu gặp khó mà chết thì chúng mình chết từ hồi tám hoánh nào rồi !

— Anh nào biết cù nhầy là anh ấy sống.

Con người nơi đây vốn quen thích ứng với mọi hoàn cảnh. Kẻ thông minh là kẻ không biết sợ. Các quyết định mới được hình thành nhanh lắm. Giả sử như tôi đang có một cửa hàng thuốc tây. Có mà ngớ ngẩn thì mới sợ rằng thuốc nhập giá tăng rồi không ai mua. Còn có người ốm thì còn có người cần thuốc, mà lúc cái bệnh nó đã thúc vào lưng thì giá cắt cổ vẫn cứ phải xì tiền ra. Vậy thì giá nhập tăng một, ta tăng hai ba ,và như vậy chuyện cân thịt, lít xăng leo thang có ăn nhằm gì, không chừng lại là một cơ hội đẹp để hốt của. Ấy cái khó ló cái khôn chính là như thế.

Sự thông minh tính toán kiểu ấy không phải độc quyền của dân buôn thuốc. Một người đã nghĩ được, thì mọi người ở mọi ngành nghề đều có thể có ý nghĩ tương tự. Ai nấy dường như có thêm động cơ để mạnh tay hơn trong những việc lâu nay còn vừa làm vừa run. Các nhân viên kiểm lâm yên tâm hơn trong việc thông đồng với đám lâm tặc nhằm triệt phá rừng. Dân hải quan hoặc thuế vụ có cớ để tự nhủ rằng “ không vòi vĩnh ai sống nổi ”? Nhà khoa học khua nốt mấy công trình nghiên cứu dang dở mang nghiệm thu, để còn kịp xin kinh phí đợt mới. Bám sát sự tăng tốc của mọi người, bác trông giữ xe máy tự lúc nào đã nhẹ nhàng tăng giá từ một ngàn lên thành ngàn rưỡi hai ngàn. Còn người nông dân tự do thì không có gì phải hối hận trong việc chiếm dụng đất đai ven các quốc lộ, kéo nhau đi đào vàng hoặc khai thác than thổ phỉ, rồi tràn vào thành phố cân điêu cân thiếu khi đạp xe bán rong một vài mặt hàng, kể cả bán những thứ hoa quả có phun thuốc sâu vượt quá nồng độ cho phép…

Tạm thời có thể mô hình hoá thành mấy cách phản ứng :

1/ người sống bằng gian dối có cớ để gian dối.

2/ người tham nhũng hợp pháp hoá được việc ăn cắp của mình.

3/ người sản xuất không cần phân vân khi đưa ra hàng kém hàng hỏng.

Mỗi người có thêm lý do để hạ thấp chất lượng cuộc sống mà mình có tham gia. Không ai còn thấy chướng khi sự tồn tại của bản thân được đặt cao hơn lợi ích xã hội.

Một nhân vật trong Anh em Karamazov của Dostoievski từng bảo “ Sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là truyền thống của họ Karamazov nhà ta.” Không phải người Nga, nên không quen khái quát thành công thức trừu tượng , nhưng trong bụng nhiều người đã tự nhủ thầm như thế.

Điều dự đoán cuối cùng của tôi: Ngay cả các đám ăn nhậu rồi ra cũng đông vui hơn. Muốn chống lại tình trạng giá cả leo thang mà không ăn uống cho no say thì lấy đâu ra sức hở trời? Mỗi lần tan cuộc là một lần sảng khoái, trong bụng chỉ còn có cách tự nhủ thời buổi này tiết kiệm làm gì, không hưởng thụ ngay bây giờ thì có nghĩa không bao giờ ta được hưởng thụ cả ! Trong cuộc nhảy múa để tồn tại, một thứ men say của hiện sinh tràn đến tự lúc nào làm cho người ta ngây ngất. Cái sự thụ động mà cô Dần của Nam Cao xưa chấp nhận đã thuộc về một dĩ vãng quá xa ; giá kể có sống lại, chắc nhân vật ông bố trong truyện Một đám cưới sẽ phải mấy lần lắc đầu le lưỡi :” Èo ! mẹ ơi !..“