Monthly Archives: Tháng Năm 2009

Vai trò của lý luận

Sổ tay

s

ự song hành giữa lý luận và thực tiễn là một đặc điểm của tư duy hiện đại . Trong vật lý thiên văn ,người ta bảo rằng nhiều ngôi sao đã được tìm thấy bằng tính toán trên trang giấy trước khi người ta quan sát được nó bằng các loại kính viễn vọng .
Trong văn chương thế kỷ XX cũng có tình trạng tương tự. Nhiều nhà văn ( trong số này có những người về sau đoạt giải Nobel )bắt đầu bằng những tuyên ngôn mang tính cách lý thuyết , sau đó mới viết để kiểm tra lại và chứng minh thêm lý thuyết của mình .
Nhưng đó là chuyện của những nền văn chương khác ở những nước khác . Còn ở ta hiện nay , mọi chuyện được quan niệm gần như ngược lại . Khía cạnh lý luận của sáng tác ư, chuyện xa vời quá . Thậm chí với một số cây bút đầy tự tin thì lý luận được xem như sự bịa đặt của ba bốn anh bất tài , rỗi hơi không biết làm gì ghé vào văn chương xin việc , và toàn đưa ra những điều không cần gì cho những người cầm bút . Ngay ở những lớp sáng tác được mở thì thời giờ để học lý thuyết cũng bị thu hẹp đến mức tối thiểu , nói nôm na là học cho lấy lệ ,có bao nhiêu sức lực anh hãy đổ vào sáng tác giữa những người mở lớp và người đi học có sự thoả thuận ngầm như vậy . Nói thì dễ làm mới khó ,anh có tài anh hãy viết ra cho tôi xem chứ còn bàn xem thơ phải như thế này thơ nên như thế kia ư , cái đó “ chẳng đáng một xu” — đại khái với tinh thần sùng bái hành động người ta phủi tuột . Tiểu thuyết là gì , trong thời đại hiện nay tiểu thuyết đang biến đổi theo hướng nào để theo kịp những biến động trong tâm lý và tư tưởng con người , như thế nào mới gọi là tiểu thuyết hiện đại .. . — khi tổ chức một cuộc thi to tát như thi tiểu thuyết chẳng ai nghĩ đến chuyện giới thiệu thêm sách vở để cùng đọc hoặc mang ra trao đổi trên mặt báo . Cứ viết đi rồi cái hay tự nó cắt nghĩa tất cả . Ơ chỗ riêng tư có thể cũng có ai đó tự đặt cho mình những câu hỏi đi sâu vào nghề nghiệp nhưng người ta cũng biết ngay rằng có bàn cũng chẳng có ai hưởng ứng , âu là ta hãy cứ làm như mọi người .

Chẳng cần nhìn rộng ra các nước khác mà chỉ nhìn lại văn học VN thế kỷ XX người ta cũng nhận những kinh nghiệm khác hẳn . Đầu những năm hai mươi , vào dịp bắt đầu có nhiều người viết tiểu thuyết theo lối mới , trên tạp chí Nam Phong Phạm Quỳnh có ngay một bài khảo luận khá công phu ,sau được in thành cuốn sách riêng . Những năm ba mươi, ý kiến bàn về tiểu thuyết càng nhiều . Tới đầu những năm bốn mươi Vũ Bằng lại giảng giải tỉ mỉ về tiểu thuyết trong cuốn Khảo về tiểu thuyết ( trước đó cũng đã cho in báo ) . Khoảng năm 1954 , ở Sài Gòn nhóm Sáng tạo có một cuộc thảo luận kỹ về nghệ thuật tiểu thuyết trong đó bộc lộ khao khát vượt qua giai đoạn tiền chiến để có một trình độ tư duy mới . ở Hà Nội ,NXB Văn học cho in nhiều cuốn sách mỏng nhưng có ý nghĩa thiết thực như Nói về tiểu thuyết của Ngô Cường , Nguỵ Kim Chi , Mao Thuẫn ;Kinh nghiệm viết văn của Triệu Thụ Lý , Ngải Vu ; Công việc viết văn của Ehrenburg ; Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại của Dneprov và Kuznetsov ; sách của tác giả trong nước có Công việc của người viết tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi và Viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan , Võ Huy Tâm . Lâu nay ,những cuốn sách tương tự không được giới thiệu , loại sách nặng như Lý luận và thi pháp tiểu thuyết của Bakhtin, Nghệ thuật tiểu thuyết của Kundera dịch ra rồi đấy , nhưng không được người trong giới bàn bạc trao đổi . Mà chừng nào chỉ có vài người người tâm đắc với việc đổi mới tư duy tiểu thuyết làm việc trong âm thầm đơn độc , chừng đó nền tiểu thuyết đại trà nói chung còn đi vào vết xe cũ .

Advertisements

‘Văn học khá sòng phẳng’

Chân dung
Thứ bảy, 22/10/2005,

Năm 2003, khi được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, tập phê bình “Cây bút đời người” của Vương Trí Nhàn đã tạo ra nhiều sóng gió trên văn đàn. Tháng 10/2005, cuốn sách này tiếp tục được tái bản với những sửa đổi bổ sung “cho đầy đặn”. Dưới đây là cuộc trao đổi với nhà phê bình Vương Trí Nhàn. Tiếp tục đọc

"Cảm khái" không đủ


Tiếp theo bài Nguyễn Khải và Phong Lê, một cái nhìn khác về nhà văn và cuộc đời


Trên báo Văn Nghệ số 17-18 vừa qua có bài Chiến sĩ – Nghệ sĩ của Nguyễn Khải. Tóm tắt có mấy ý: 1/ Nhiều nhà văn ở ta, quãng đời đẹp nhất là thời chiến tranh. 2/ Đến thời hoà bình, ta đã sống hoài sống phí, sa vào quan liêu phù phiếm. 3/ Vậy mà nhiều chuyện tốt đẹp trong thời chiến tranh ta đã bỏ qua, không viết. Nhìn chung, nhà văn nên lo sáng tác – nếu bảo tính toán, thì đó là cách tính toán hợp lý nhất dễ dẫn đến hiệu quả lâu dài. Và đó là bài học mà nhiều cây bút về già nhận ra, dù đã muộn.

Đã có bài anh Phong Lê (Văn Nghệ số 20) chia sẻ với anh Khải về các nội dung này. Tiếp tục đọc

Nguyễn Khải và cảm giác thời đại

đ

ầu năm 1968, mới chuyển về tạp chí Văn Nghệ Quân Đội ít lâu thì tôi bị dạ dày hành cho một trận phải nằm vài ngày liền.

Bấy giờ cơ quan đang sơ tán ở Hương Ngải Thạch Thất, mọi người cùng ở trong một làng nên đến thăm nhau cũng dễ. Một hôm, sau bữa ăn trưa, Nguyễn Khải ghé lại chỗ tôi. Nghe kể bệnh, ông bảo:

– Thế này thì mày còn viết lách ra sao hở em!?

Tôi nhớ như chôn vào ruột cái câu bâng quơ ấy. Bởi tôi biết đó là tiếng kêu chân thành của một người hết lòng với nghề. Lẽ sống của chúng ta là cầm bút, sáng tác là cái đích của đời ta lại cũng là điều duy nhất khiến ta thấy cuộc sống có ý nghĩa, ông muốn bảo vậy.

Nhìn lại các đồng nghiệp của mình, Tô Hoài từng nói rằng nếu không có Cách mạng tháng 8-1945 chắc chắn nhà văn A thành quan huyện, nhà văn B thành giáo sư, chỉ có riêng ông thời thế thay đổi thế nào chắc ông cũng chỉ chọn nghề văn. Với Nguyễn Khải cũng có tình trạng tương tự.

Thỉnh thoảng ông lại nhắc chuyện hồi mới 27-28 tuổi gì đấy, cơ quan Trung ương Đoàn định đưa ông về chủ trì việc gì đấy nhưng ông không nhận. Rồi một vài lần khác, vừa nghe tin được nhắm sẽ phụ trách chỗ này chỗ nọ, ông liền bắn tin từ chối.

Trong lý lịch văn học của ông, người ta không bao giờ quên ghi ông từng là ủy viên ban chấp hành từ 1963, là thường vụ ban chấp hành từ 1967, và khoảng 1988-1989 có lúc đảm nhận cả cương vị phó tổng thư ký Hội Nhà văn.

Nhưng với tôi, kinh nghiệm tham chính của Nguyễn Khải phần nhiều là kinh nghiệm đáng quên. Ông chỉ quen tồn tại như một người viết. Cái chính là ông rất chóng chán. Mỗi lần thất bại là một dịp để ông nhắc lại với tôi điệp khúc: “Thế này là tôi đi sáng tác được rồi!”.

Chỉ riêng trong sáng tác là ông không chịu nản. Những ai đã từng tiếp xúc hẳn biết ông nhiều khi sống cẩu thả hời hợt, thậm chí là vô trách nhiệm với mọi người. Thế nhưng đó là cái phần khôn ngoan của ông: chỉ cốt sao khỏi bị làm phiền.

Ông luôn luôn tâm niệm rằng cái chính trong con người ông là ở trang viết. Ở đó ông sắc sảo trong việc nhìn nhận sự đời và có tiếng nói của mình trước các vấn đề trọng đại của xã hội. Đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc đã và sẽ bỏ qua cho ông nhiều điều, để giữ lại cái phần chính là những đóng góp độc đáo chỉ ông mới có.

II) Mở đầu Xung đột tập I, in ra ở NXB Văn Học năm 1959, có một đoạn tự bạch. Trong các lần xuất bản sau, đoạn văn này thường bị vứt bỏ, nhưng tôi cho rằng để hiểu Nguyễn Khải, nó rất cần thiết:

“Tôi về thôn X, một thôn Công giáo toàn tòng ở miền hạ huyện Nghĩa Hưng, Nam Định, vào cuối năm 1956 (…). Lúc đầu tôi chỉ có ý định viết một tập ghi chép. Nhưng trong khi ghi chép các nhân vật và thể hiện lên với nhiều vẻ phức tạp của nó thì tôi gặp một khó khăn lớn là bản thân tôi cũng không lường được (V.T.N. nhấn mạnh) rồi đây những vấn đề đó sẽ giải quyết như thế nào, số phận các nhân vật đó sẽ giải quyết ra sao.

Mà mọi sự bịa đặt đều chỉ có thể dẫn đến sai lầm, tôi mới tiếp tục viết thêm những tập sau nữa, hi vọng rằng trong quá trình nghiên cứu tôi sẽ tìm hiểu được những vấn đề đã đặt ra một cách toàn diện hơn”.

Theo tôi, đoạn văn này đã nói rất trúng cái tinh thần căn bản của tiểu thuyết mà một số nhà lý luận như M. Bakhtin, hoặc nhà văn như M. Kundera vẫn thường nhấn mạnh rằng người viết tiểu thuyết và người viết văn nói chung không thể áp đặt cho cuộc đời những sơ đồ có sẵn. Mà phải tôn trọng nó, thấy nó là một cái gì nhởn nhơ trước mặt không dễ gì nắm bắt được, ngược lại phải lo tìm hiểu khám phá, đối thoại với nó.

Và con đường để đi tới văn chương đích thực hàm chứa cả những hứng thú lẫn những tai vạ có thể có. “Tuy vậy nay xem lại cả bốn tập viết rải rác trong hơn một năm thì thấy có nhiều vấn đề còn lơ lửng, con đường đi tới của một số nhân vật chính còn chưa rõ ràng…”.

Khi sách mang in, nhìn lại công việc đã làm, nhà văn tiếp tục tâm sự bằng cái giọng đầy e ngại. Song chỗ tác giả lo lắng đó lại chính là chỗ mạnh, là cái lý do làm nên sự hấp dẫn của cái ông đã viết. Nó không chỉ đúng với Xung đột mà còn đúng với các tác phẩm của Nguyễn Khải nói chung.

Tôi nghĩ rằng rồi đây người ta phải nói về ông, muốn hiểu về văn học VN sau 1945, người ta còn phải nói về ông. Vì đó vẫn là một trong những ngòi bút giàu cảm giác thời đại hơn nhiều người khác.

III) Ở ngòi bút đó, năng khiếu bẩm sinh được nâng đỡ bởi một ý chí tuyệt vời và một công phu tu luyện ít ai bì kịp.

Xã hội Việt Nam vốn có sự ưu ái đặc biệt với nghề viết văn. Vừa bộc lộ một chút năng khiếu, nhiều người đã được cất nhắc lên thành nhà văn chuyên nghiệp, bằng lòng với việc phục vụ đám bạn đọc dễ dãi và cứ thế kéo dài đời viết của mình một cách tẻ nhạt.

Nguyễn Khải có một cách hiểu khác. Ông tự đề ra một yêu cầu cao với mình. Thường người ta chỉ nói về ông như một người nhạy bén trước các vấn đề thời sự. Nhưng nếu chỉ có thế thì làm sao ông có được vị trí trong lòng người đọc như chúng ta vẫn thấy. “Mi là muối, nếu mi không mặn thì còn được việc gì nữa?”.

Nguyễn Khải thường vẫn thích nhắc lại câu ấy như một lời tự nhủ: phải viết cho hay, nếu không thì cầm bút làm gì? Nên nhớ là Nguyễn Khải làm việc này trong hoàn cảnh ông rất có ý thức về chất chính trị, tính xu hướng của tác phẩm mình.

Ở chỗ mà người khác thấy là một sự mâu thuẫn thì ông đã làm được công việc là dung hòa nó. Chẳng những thế, nó làm cho tác phẩm của ông có thêm một bề dày. Có thứ tư tưởng do ông đề nghị. Nhưng lại có thứ tư tưởng toát ra từ những chất liệu mà ông sử dụng.

IV) Nhà văn này vốn có một cảm quan tôn giáo sâu đậm. Xung đột ghi lại tình thế của con người thời đại đang ngổn ngang giữa ngã ba đường, trí thì đã để ở vào cuộc đời trần thế mà lòng vẫn quyến luyến với đức tin.

Hiệu quả kỳ lạ là hồi chống Mỹ, có người nói với Nguyễn Khải rằng mấy vị linh mục cũng đã phải đọc tác phẩm của ông, và đau lòng vì thấy thế giới tôn giáo của mình hiện ra như vậy. Từ chuyện nghe được, trong ông còn mãi cảm giác tự hào chân chính.

Điều này còn được chứng minh bởi một sự thật là sau chiến tranh, Nguyễn Khải được cả những người vốn sống ở Sài Gòn trước 1975 tìm đọc. Tháng 4-2007, gặp nhau ở Hà Nội, tác giả Sông Côn mùa lũ Nguyễn Mộng Giác nói với tôi rằng ở bên Mỹ, một món nghiện của Võ Phiến là Nguyễn Khải. Đọc để bực, để sục sạo khó chịu, nhưng Võ Phiến vẫn cần đọc cả tác phẩm lẫn nghe mọi thứ linh tinh về nhà văn ấy.

Tại sao tác phẩm Nguyễn Khải có sức kích thích đến thế? Một mặt, cái chất cán bộ tuyên huấn không bao giờ từ bỏ ông và suốt đời ông hiểu rằng ngòi bút mình chịu sự ràng buộc của những yêu cầu xã hội, nó trở thành yếu tố độc đáo ở ông hấp dẫn người ta.

Nhưng mặt khác, chất say nghề nghiệp lại vẫn tồn tại và tạo nên cho các trang sách một sức sống nào đó. Cái việc được cả những người khác chính kiến với mình tìm đọc chứng tỏ rằng ở tác phẩm của Nguyễn Khải, vẫn có một phần nào đó thuộc về văn học chân chính. Nếu người ta không đọc ông vì những chủ đề vĩnh cửu, thì người ta lại phải đọc ông vì cái khả năng nắm bắt và kể lại đời sống trong cái thời đại đặc biệt mà ông đã sống.

V) Một chỗ mạnh trong ngòi bút Nguyễn Khải là cảm quan về thời sự. Ông sớm nắm bắt được những đổi thay trong khí hậu chính trị từng thời. Gần nửa thế kỷ nhà văn này đứng ở hàng đầu trong văn học vì những gì ông viết ra khá đa dạng.

Đặc biệt là giai đoạn 1987-1995, khi đời sống văn học có phần cởi mở, và ông thì viết như làm lại mình. Chỉ riêng tập truyện Một thời gió bụi (1993) khiến nhiều người có một ý niệm khác hẳn về nhà văn mà họ đã “chịu” từ 30 năm trước.

Ta hãy để ý đây là thời mà trong văn học bắt đầu xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp. Theo chỗ tôi biết, Nguyễn Khải có sự vì nể riêng với tác giả Tướng về hưu. Ông đặt mình trong thế “đối lập” với Thiệp.

Ông là nhà văn của những cuộc đấu tranh tư tưởng. Còn Thiệp là nhà văn của một xã hội dân sự. Cũng đã có lúc ông ghé chân sang cái phần đất xa lạ ấy. Tuy nhiên về căn bản ở Nguyễn Khải vẫn có một sự nhất quán. Trong khi cảm thụ đời sống như một nghệ sĩ, ông biết gạn lọc để chỉ viết ra những gì mà xã hội đặt hàng. Ông biết cái giới hạn mà ông phải dừng lại.

Mấy năm gần đây, chúng ta chứng kiến một sự song hành khác. Trong khi nhiều nhà văn cùng thời rơi vào bế tắc thì Nguyễn Khải trở về với cái mạch mấy chục năm trước của mình. Những cuốn sách ông mới cho in, nhất là cuốn tiểu thuyết tự truyện Thượng đế thì cười cho phép chúng ta nghĩ vậy.

Sự ra đi của ông làm rõ hơn cảm giác về một sự chuyển động chầm chậm đang diễn ra trong đời sống của văn chương nước nhà. Xét bức tranh chung, vẫn phải nói với nhau rằng một giai đoạn đang qua và một giai đoạn mới đang tới, dù là tất cả ẩn sau cái bề ngoài ngổn ngang lộn xộn. Ở vào đỉnh cao trong giai đoạn mà mình đã sống, Nguyễn Khải có một cuộc đời cầm bút thật trọn vẹn.

tuoi tre online

Những nỗi đau riêng của thời nay

Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ. Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao. Song nếu được so sánh tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội. Đau đớn không phải do “trời xanh” hay “ con tạo “ gây ra, mà đơn giản lắm, đau khổ do cái xu thế chi phối cả xã hội lôi cuốn người ta, đau khổ do người nọ gây ra cho người kia, hoặc suy đến cùng thì do chính mỗi người chuốc lấy cho mình. Cuộc sống trần trần trong ánh ngày đấy mà như trong cơn mê, và thỉnh thoảng người ta tỉnh ra thì cũng lập tức biết rằng tất cả đã muộn, tình thế vô phương cứu chữa. Tiếp tục đọc

Tinh hoa một thuở

Trường Chu Văn An và niên học 1955-56
Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi — Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.
Gọi là cũ, vì khu nhà đồ sộ, cây cối rợp bóng mát ở đầu phố, lúc ấy do nhà binh Pháp đóng, có tài liệu nói một binh đoàn xe tăng, nhưng tôi nhớ hình như là một đơn vị lính dù. Xe đỗ ngổn ngang bên trong, bên ngoài nhiều quãng còn chăng dây thép gai. Tôi chỉ nghe người lớn nói lại mà biết đó là trường Bưởi lừng lẫy. Tiếp tục đọc

Sự cắt nghĩa giản dị

cuộc bộc bạch của Nguyễn Công Hoan
trong Đời viết văn của tôi

Quyển sách phải có

Với khối lượng chữ nghĩa đã viết , trong văn học VN hiện đại , tác giả Bước đường cùng phải được xem như một trong số những người viết hoạt động có hiệu quả nhất .Trong khi không sống hẳn giữa giới cầm bút mà lấy dạy học làm nghề chính , Nguyễn Công Hoan vẫn biết giữ cho mình một nếp làm việc đều đặn . Giữa dự định và công việc , thường khi có sự ăn khớp . Đã viết là in được . Ông lại luôn biết chăm lo tới tay nghề . Dễ không ai say sưa nói về kỹ thuật viết truyện như ông , nào là dàn quân nào là bài binh bố trận , và cuối cùng còn là bẫy độc giả là đưa suy nghĩ của họ vào đúng cái luồng lạch mình đã bố trí sẵn khiến họ như cá vào lờ không sao thoát ra nổi…,từng cách thức được ông kể lại tỉ mỉ với niềm tin không thể lay chuyển : viết văn phải có mẹo .

Sự xuất hiện của một cuốn sách hồi ký như Đời viết văn của tôi nằm trong cái mạch liên tục ấy. Nó là một bằng chứng nữa đánh dấu tính cách chuyên nghiệp của ngòi bút Nguyễn Công Hoan . Một cách tự nhiên , đúng hơn một cách bản năng không cần tính toán gì nhiều , thật ra ông đã tiếp nhận quan niệm về một nhà văn chuyên nghiệp thường thấy ở phương Tây : sau những năm tháng cặm cụi làm việc một người làm nghề thực thụ thể nào cũng phải để ra một ít thời gian tính đếm lại đời mình . Hồi ký nên được coi là cái dấu chấm hết đẹp đẽ nhất cho một đời viết sung mãn .

Cuốn hồi ký này đã ra đời trong hoàn cảnh nào ?

Nguyễn Công Hoan đã sống những năm tháng trước 1945 một cách khá vẻ vang .Thế nhưng từ sau 1945 , quá trình sáng tác của ông so với các đồng nghiệp trẻ hơn như Nguyễn Tuân , Bùi Hiển , Nguyên Hồng … có nhiều chỗ khác .Tám năm kháng chiến , trong khi nhiều nhà văn đấu đầu lo liệu cho Hội văn nghệ thì ông làm việc ở một trường bổ túc văn hoá của quân đội ,và chỉ sau hoà bình lập lại 1954 mới trở về nhận biên chế ở Hội nhà văn . Sự nhập cuộc trở lại này không mấy hiệu quả .Trong khi những Đường vui ,Tình chiến dịch , Sông Dà , Truyện Tây Bắc hoặc Ngôi sao , Riêng chung , Anh sáng và phù sa ...viết thẳng về cuộc sống mới và được dư luận đón đợi ,được đủ các loại giải thưởng to nhỏ thì Nguyễn Công Hoan chủ yếu viết lại cuộc sống trước 1945 như Tranh tối tranh sáng( 1956 ), Hỗn canh hỗn cư (1961 ), Đống rác cũ (1963 ) , và mặc dù các sáng tác ấy đã được tác giả đặt nhiều công sức , song có vẻ như chúng không tương xứng với tầm vóc của nhà văn ; khi ra đời chúng chỉ được chào đón một cách dè dặt . Có cuốn chỉ in được tập một rồi dừng lại hơn hai chục năm sau mới ra nốt được tập hai ( Đống rác cũ ).Có cuốn viết xong đành xếp tạm đấy mãi khi nhà văn qua đời mới được in ( Anh con trai người bạn đọc ấy ).

Một người ưa hoạt động coi việc viết ngang với cơm ăn nước uống hàng ngày như Nguyễn Công Hoan trước hoàn cảnh ấy không chịu bó tay . Ông xoay ra làm một số việc khác như đi phỏng vấn các đồng nghiệp (Hỏi chuyện các nhà văn ) hoặc đính chính thơ văn của Nguyễn Khuyến ,Tú Xương .
Dẫu sao có thể dự đoán ,càng ngày ông càng cảm thấy vốn liếng mình là ở như những hiểu biết về xã hội cũ và chỉ trong khi viết về xã hội cũ mình mới trở nên có ích hơn cho con người đương thời . Cái định hướng này có thể ngẫu nhiên song đúng là đã trở thành nhất quán ở Nguyễn Công Hoan . Có lẽ bởi vậy mà ông sớm tính chuyện viết hồi ký . Trong một bảng niên biểu Nguyễn Công Hoan thấy đề rõ ngay từ cuối năm 1957 ,cuốn Đời viết văn của tôi đã hoàn thành ở dạng sơ thảo (tới năm 1969 thì hoàn thành ,và 1971 thì được in ra ở nhà xuất bản chuyên về văn chương duy nhất bấy giờ là nhà Văn học ).
Trong một bài viết về Nguyễn Công Hoan , nhà văn Tô Hoài từng ghi lại một đoạn đối thoại
(… ) Lại đến năm trước anh kể :
–Tôi mới nghĩ ra cái truyện dài ,cái truyện dài này thì dài vô tận.
–Truyện gì ạ ?
–Truyên nhớ gì ghi nấy.
Tôi vẫn chưa hiểu . Anh cắt nghĩa : ở tuổi anh bây giờ , những từng trải những mắt thấy tai nghe ,từ lúc mất nước đến khi độc lập ,biết bao phong phú ,phải ghi lại cho lớp người sau biết . Thế là anh đóng từng tập giấy hàng trăm trang ,mỗi khi nhớ việc gì ,suy nghĩ thấy nên ghi lại,anh ghi . Ghi hết giấy anh đóng tập khác .
Những ý tưởng này chủ yếu liên quan đến tập Nhớ gì ghi nấy , song cũng đã hé ra cho thấy một phần cái tâm sự của nhà văn khi đến với Đời viết văn của tôi . Đặt vào thời điểm mà cuốn sách được viết , phải nói sự xuất hiện của nó là táo bạo bởi lẽ khoảng những năm năm mươi sáu mươi thế kỷ XX , số nhà văn ở ta tính chuyện nhìn lại đời mình một cách rành mạch , số đó còn rất ít .

Một kiểu viết hồi ký , một kiểu tự phân tích

Thể loại văn học mang trong nó một sự đa dạng nhất định . ở đây có những nguyên tắc chung nhưng lại có chỗ rộng rãi cho sự sáng tạo . Lấy ngay thí dụ trong văn học VN hiện đại . Có hồi ký gần với tự truyện , tức là một thứ tiểu thuyết , như Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng . Có hồi ký có tính cách một sự suy nghĩ lại về đời mình và do đó giàu chất chính luận như Tự phán của Phan Bội Châu . Về mặt nhân vật mà xét , có khi tác giả bám sát quá trình cầm bút của bản thân như Hồi ký Nguyễn Hiến Lê , lại có khi người viết như tránh sang một bên , để nói về một ai đó hoặc nói chung về những người tác giả đã gặp và có vẻ chỉ nhân tiện mà nói thêm về mình như Cát bụi chân ai của Tô Hoài .

Còn Đời viết văn của tôi thì sao ?

Như tên gọi của nó đã chỉ rõ , cuốn sách nhằm tới cái đích chung là phác hoạ sự hình thành tính cách của tác giả và con đường tác giả đến với văn học . Ông không chủ ý kể về đời mình một cách chi tiết ,theo kiểu bám sát từng năm hoặc từng thời kỳ một . Mà ông khái quát lại thành các phần ảnh hưởng Hoạt động Sáng tác… Trong khi hàng ngày , nhà văn thường vẫn tuyên bố là mình viết một cách hồn nhiên không đắn đo cân nhắc gì nhiều thì lúc bắt tay vào viết hồi ký ,trên đại thể ông lại sử dụng một bút pháp mang ý nghĩa tổng kết tức là đi từ xa tới gần từ tổng thể đến trường hợp riêng từ nguyên nhân tới kết quả lớp lang đâu vào đấy . Cái việc mang mình ra mà phân tích được làm một cách khá bài bản . Ông hiểu ông là sản phẩm của một hoàn cảnh , cũng giống như tờ giấy thấm , con người ông đã thấm đẫm những ảnh hưởng của môi trường chung quanh .

Người ghi chép phong tục

Khi bàn về thể tài của Bước đường cùng , nhiều người thích xác định đấy là tiểu thuyết xã hội , tiểu thuyết tố cáo , song Nguyễn Công Hoan nói đơn giản hơn đấy là tiểu thuyết phong tục , chẳng qua thạo nhiều chuỵện ở nông thôn từ chuỵện đẻ đái cãi nhau vì mất gà tới cảnh vay nợ , cảnh ăn khao rồi bỏ ruợu lậu vào ruộng của nhau nên ông đưa cả vào trong sách .

Cách hiểu về chi tiết phong tục như thế này cũng chi phối tác giả khi viết hồi ký Đời viết văn của tôi.
Sinh năm 1903 , Nguyễn Công Hoan có thể tự nhận là người cùng tuổi với thế kỷ XX. Mà đặt trong lịch sử dân tộc thì thế kỷ này cũng là một bước rẽ ngoặt : từ đây xã hội rời bỏ mẫu hình phát triển trung đại của phương đông để sải bước trên con đường Âu hoá . Bởi vậy những kỷ niệm của tác giả trong tuổi niên thiếu có thể coi như những chứng tích về sự xâm nhập của văn hoá phương tây thông qua mọi yếu tố của môi trường xã hội cũng như con đường các gia đình nền nếp giáo dục các thành viên của mình để đứng vững trước mọi ảnh hưởng mạnh mẽ đó .
Những trang kể lại thời đi học ở trường Bưởi không hề mang tính cách thơ mộng như thường thấy mà cũng vẫn là những trang tự bộc lộ chân thành đến mưc có phần như là thách thức sự đời , và pha một chút trắng trợn bất cần . Nào là học trò làm giấy khai sinh với ít nhiều man trá . Nào là chia phe phái trọc ghẹo nhau và đánh nhau với bọn trẻ con Tây . Nào là vào hùa chạy theo phong trào “đế chế bắc hoá “ ,tẩy chay hàng Tàu ….Còn có hàng loạt những chi tiết có liên quan đến mọi mặt đời sống được Nguyễn Công Hoan nhân tiện ghi lại làm nên da thịt của cuốn hồi ký văn học .

Tiếng nói của người trong cuộc

Nguyễn Công Hoan đã liên tục có mặt trong những giai đoạn nối tiếp nhau của lịch sửvă học : ông vừa là người của thời kỳ dò dẫm tìm đường ( những năm hai mươi ),vừa là nhà văn hàng đầu khi đời sống sáng tác đạt tới một sự chín đẹp ( từ sau 1932 tới khoảng 44-45 ).

Mấy chục năm đầu thế kỷ là thời đặt nền móng của nền quốc văn mới mà cũng là thời của báo chí văn học . Đây cũng là môi trường tốt để ngòi bút Nguyễn Công Hoan tập dượt . Với tờ báo này , ông là bạn của người sáng lập , nhân nể bạn thì viết giúp .Với tờ tạp chí kia , ông là một trong những cây bút chủ trò ,người ta bàn với ông cả từ thể tài đến cách bán hàng . Những năm hai mươi khi mở mục Việt Nam nhị thập thế kỷ ba đào ký trên An Nam tạp chí , Tản Đà chỉ viết những bài đầu còn thực chất về sau là do Nguyễn Công Hoan gánh vác . Những quyển sách đầu tiên của ông được in ra khi các nhà xuất bản còn chưa thành hình và chỉ có các nhà in hoặc các hiệu sách đứng tên sau các xuất bản phẩm .
Đến khi Tiểu thuyết thứ bảy Phổ thông bán nguyệt san ra đời thì ông lai trở thành một trong những tác giả góp truyện đều đặn . Dường như có thể soi vào đời viết của ông để thấy bước đi của một mùa màng văn học từ lúc thịnh trị tới lúc lụi tàn : Nếu như Vũ Trọng Phụng trẻ hơn ông viết sau ông nhưng lại qua đời trước ông ( 1939 ) thì Nguyễn Công Hoan còn lải rải viết thêm mãi về sau , cả khi những ngày đẹp nhất của văn học đã qua .
Có thể xem đây là một trong những yếu tố chủ đạo tạo nên giá trị của cuốn hồi ký . Qua Nguyễn Công Hoan chúng ta được biết nhiều chi tiết có liên quan đến những sự kiện văn hoá mà không sách vở nào ghi lại . Chẳng hạn chung quanh Đông dương tạp chí Nam phong , tác giả Đời viết văn của tôi nói rõ hơn mỗi tờ báo đó được nhà nước bảo hộ trợ cấp bao nhiêu tiền hàng năm . Hoặc chẳng hạn chung quanh tờ Hữu thanh của Bắc kỳ công thương đồng nghiệp ái hữu hội ,lâu nay chỉ nghe nói Tản Đà làm với báo vài tháng rồi thôi . Cũng qua Nguyễn Công Hoan , chúng ta được biết thực chất cái hội đó ra sao và ông chủ báo có cái thói kỳ cục thế nào ( Nguyễn Huy Hợi , chủ báo Hữu Thanh là một kẻ rất hiếu danh. Bài viết ra để đăng báo , toà soạn họp để bàn thì bao giờ Nguyễn Huy Hợi cũng có mặt .Có mặt không để góp ý kiến mà để thấy bài nào hay cũng thò vào một câu “Hay là ký tên tôi “).Có những chi tiết thoạt nhìn có vẻ bâng quơ không đâu vào đâu nhưng nghĩ kỹ thấy có ý nghĩa , giá Nguyễn Công Hoan không kể thì ít người biết . Ơ phần Hoạt động Nguyễn Công Hoan bảo rằng một điều khiến ông tự hào là cuốn sách đầu tay của ông mang tên Kiếp hồng nhan chỉ toàn sáng tác . Mới nghe người đọc thời nay hẳn lấy làm lạ tập truyện ngắn nào mà chẳng toàn sáng tác nhưng đọc thêm đoạn dưới của cuốn hồi ký mới biết hồi ấy sách in thường tạp pí lù mỗi thứ một tí , truyện lẫn với thơ , truyện mới sáng tác chen lẫn truyện dịch . Và như vậy tình trạng ấu trĩ của văn học lúc ấy còn len vào cả trong quan niệm về sách còn Nguyễn Công Hoan thì có quyền tự hào là mình thuộc loại đi đầu trên con đường thay đổi để đi tới một sự thuần chủng .
Chẳng những biết sách vở khi nó đã được in ra , ông còn biết nhiều cuốn sách ngay từ khi nó được thai nghén . Đây là ví dụ : Khi thuật lại nguyên cớ thúc đẩy Ngô Tất Tố viết Tắt đèn Nguyễn Công Hoan nói rõ hồi ấy Ngô Tất Tố cũng chưa hề có ý thức tố cáo , chẳng qua thấy Vũ Trọng Phụng viết truyện Vỡ đê thì ông nói ” Vũ Trọng Phụng viết thế nào được truyện nhà quê . Để tôi viết cho “ . ý Nguyễn Công Hoan muốn nhấn mạnh điểm xuất phát ban đầu tiểu thuyết của Ngô Tất Tố khá giản dị , tính chất tố cáo của sáng tác chỉ đến về sau (đây là điều không chỉ đúng với Ngô Tất Tố mà còn đúng với nhiều nhà văn cùn thời )
Cũng nên biết thêm là trong một bài viết mang tên Mấy ý kiến về cuốn Văn học Việt Nam 1930-1945 in trên Tạp chí Văn học 1962 ( sau đổi là Cần hiểu đúng Ngô Tất Tố in vào tập sách Ngô Tất Tố với chúng ta , NXB Hội nhà văn 1993 ) Nguyễn Công Hoan từng đả động tới một sự việc mà nhiều nhà văn học sử thích nhắc lại coi như một niềm tự hào của ngòi bút nhà nho Ngô Tất Tố , ấy là quyển Tắt đèn bị cấm . Sau khi hạ một câu chắc chắn như đinh đóng cột “ Sự thực ,thì tôi không nghe ai nói điều này “ , Nguyễn Công Hoan để công giảng giả khá kỹ về cách cấm sách thời trước để khẳng định thêm chuyện này không xảy ra với đồng nghiệp của mình .
Tinh thần này được Nguyễn Công Hoan tiếp tục trong hồi ký Đời viết văn của tôi . Không phải ngẫu nhiên mà khi trích đoạn Nguyễn Công Hoan viết về Vũ Trọng Phụng ở đây vào sách Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta , một giáo sư đặt cho đoạn trích một cái tên Chiêu tuyết cho người đã khuất . Để hiểu điều này cần biết là trước 1975 ở Hà Nội Vũ Trọng Phụng được liệt vào loại nhà văn có vấn đề và nói như ở đây là một cách nói ngược dòng , nếu không phải ở miệng Nguyễn Công Hoan chắc là không được in .
Còn một nhân vật nữa lâu nay ít được nói cho minh bạch , ấy là Phạm Quỳnh . Ngay từ đầu Nguyễn Công Hoan đã nói rõ ai đã đứng tên trong việc tổ chức ra báo Nam Phong . Song đến khi Phạm Quỳnh không làm báo nữa mà đi nhận chân thượng thư ( một việc thường được người đương thời và hậu thế giải thích một cách như ta hay gọi là tiêu cực ) , Nguyễn Công Hoan không cần rào đón nhiều đưa ra cách hiểu riêng . Theo ông , Phạm Quỳnh là người yêu nước , cùng với những người lương thiện khác chịu chung cảnh ngộ người dân mất nước “ai không đau đớn ai không khóc thầm “ , và việc người chủ bút Nam Phong bỏ báo để đi làm quan chẳng phải do hám lợi như người ta vẫn nói , mà chỉ muốn có một dịp thuận lợi nói rõ ý mình , thế thôi . Giá kể vào tay người khác thì khi viết những chuyện này hẳn là phải ra điều quan trọng lắm coi như mình dám đi ngược lại ý kiến thông thường và nhờ thế khôi phục lai bộ mặt của lich sử và trước khi nói ra tiếng nói cuối cùng hẳn rào trước đón sau đủ chuyện . Nguyễn Công Hoan thì khác . Cách viết của ông ở chỗ này tự nhiên rành rẽ , dường như ông muốn nói sự thực rất đơn giản những người đa sự chỉ nói tầm phơ mà chẳng có ích cho ai !


Sự suồng sã cần thiết

Cái chết của nhiều nhà viết hồi ký là hay quan trọng hoá những hoàn cảnh những sự kiện mình đã từng sống . Nguyễn Công Hoan thì khác . Ông thích làm giảm tầm quan trọng của sự kiên đã nêu .Trong nhiều trường hợp ông lưu ý một việc người đời sau coi là tày đình xảy ra chẳng qua chỉ có lý do rất ngẫu nhiên .Đây cũng là một cách để phản ứng lại lối vào hùa hoặc thói cơ hội mà ông khinh bỉ .

Như trên đã nói ,mặc dù viết đều viết khỏe bậc nhất trong giới , song suốt trong thời tiền chiến , Nguyễn Công Hoan vẫn không bỏ nghề dạy học . Không bao giờ người ta thấy ông kêu than là phải làm gấp bản thảo để mang bán trong khi vợ đau con yếu kiểu như Vũ Trọng Phụng ,Nam Cao. Mà ông cũng không ham chơi đến mức luôn luôn cần tiền như Nguyễn Tuân hoặc Lưu Trọng Lư . Như vậy là đối với nghề văn, ông không bị ràng buộc đến bị động . Luôn luôn ông đứng cách nó một khoảng cách . Điều này chẳng những mang lại cho nhà văn một cuộc sống độc lập mà còn giúp ông thế đứng bên ngoài vốn rất cần thiết cho việc đưa ra một cái nhìn bao quát về nghề nghiệp . Chúng ta biết rằng suốt thời trung đại , văn học VN không có hồi ký mà ngay trong thế kỷ XX ,cả các nhà chính trị nhà hoạt động xã hội lẫn các nhà văn các hoạ sĩ nhạc sĩ và nói chung là những người lẽ ra nên viết hồi ký cũng không mấy ai tính chuyện động bút trong thể tài này . Tại sao như vậy ? Hình như ở đây có vấn đề của tư duy : người Việt tuy luôn luôn lưu luyến quá khứ song lại không thích chuyện tính sổ quá khứ một cách rành mạch . Xu thế tâm lý nói chung là tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại .Thậm chí nhiều người trong thâm tâm thừa biết rằng mình sống dở, sống chẳng ra sao , song khi kể chuyện cũ lại tìm cách tô điểm cho cái quá khứ ấy một vẻ dễ coi . Với những bộ sử những tài liệu nghiên cứu có liên quan đến mình , họ thường săn đón và tìm mọi cách chăm sóc sao cho khuôn mặt mình được tô vẽ cho dễ coi một chút . Còn hồi ký ấy ư — họ ngại!
Thế Nguyễn Công Hoan thì sao ? Những người thích đọc ông đều biết nhà văn này có một cách nghĩ riêng về đời . Đoạn văn sau đây là một tuyên ngôn :
Điều tôi lấy làm bực mình nhất là thế nào chẳng có một độc giả đa nghi ,xem xong câu chuyện này bảo một bạn rằng
–Hắn bịa .
Tôi hãy cãi trước rằng :
–Thưa không bịa tí nào .
Rồi không để ông độc giả ấy nói thêm , tôi phải tiếp luôn :
–Ngài cho là vô lý ? Ngài nên hiểu nghe chuyện gì mà ngài cứ lấy cái óc cổ đ iển ra mà xét thì cũng cho là vô lý cả . Vì thế sự đã xoay thành ngược mà đời ngày nay chẳng phải là một bà hiền mẫu thưởng phạt công minh . Đời đã hoá ra một con mụ chửa hoang đẻ bậy sinh non ra toàn những hạng hoặc mất dạy hoặc đói cơm .
Không . Ngài cho phép tôi nói nốt đã . Hạng đói cơm thì ngài thấy nhan nhản khắp mọi nơi . Thường họ gõ cửa nhà ngài xưng là thất nghiệp . Họ bị ngài đuổi đi sau khi đã bố thí cho một bài học về siêng năng không hợp thời . Còn hạng mất dạy cũng chẳng ít . Họ rất no đủ sang trọng ,song ,chuyên môn đeo mặt nạ để lừa dối bóc lột lẫn nhau .

Được cái trong khi giữ một cách nhìn bi quan về xã hội , đồng thời ông không biệt đãi bản thân mà cũng biết nhìn ra trong bản thân mình đủ thứ thói hư tật xấu . Nhìn quá rõ những mặt xấu trong con người , hoài nghi đối với nhân tâm thế đạo , rồi khinh thế ngạo vật rồi lười biếng ẩu không coi việc gì là quan trọng … xưa nay thật khó có ai tự nói về mình như vậy .

Và cũng vì thế nên trong Đời viết văn của tôi có những nhận xét về nghề cầm bút rất khắc nghiệt đại loại :
– Làng văn từ xưa đến giờ ,quả là cái chợ
– Một dạo người ta sợ những người cầm bút như sợ hủi
– Rất nhiều người viết chỉ láng tráng đến với nghề một chốc rồi chuồn thẳng đến mức phải gọi cái cách tồn tại của họ là nửa đời nửa đoạn .
Trong những trường hợp có thể , Nguyễn Công Hoan đã sòng phẳng .
Có thể nói đây là tinh thần chính chi phối tác giả khi nhìn lại đời viết văn của mình .


Cách tồn tại riêng trong nghề
Một kiểu người Việt

Tìm hiểu về Nguyễn Công Hoan , người ta không khỏi nhận ra một sự éo le rõ rệt . Một mặt , đây là một trong những cây bút hàng đầu của nền văn học dân tộc trong thế kỷ XX , một đô vật lực lưỡng trong trường văn trận bút . Mặt khác , đó hình như lại là cây bút đặt rất ít sự nghiêm chỉnh vào sáng tác . Như ông đã kể , có lần ông mang truyện của mình tặng cho người khác để người đó bán cho các báo lấy tiền . Lại như cái cảnh ông vừa chơi bài vừa viết truyện , hoặc viết tiểu thuyết đăng báo mà không thuộc hết tên nhân vật , phải để trống rồi nhờ toà soạn điền hộ . Người đời vốn ranh mãnh có làm như vậy đi chăng nữa thì cũng giấu biệt đi không muốn cho ai biết . Trong khi đó , Nguyễn Công Hoan lại bô bô kể hết cả ra trong sách . Qua những phát biểu trực tiếp cũng như qua cách làm việc của ông , thấy toát lên cái ý chẳng qua do lọc lõi thạo đời thì viết cho mọi người cùng đọc chứ trong bụng chả buồn để tâm gì đến nghĩa lý với lại vai trò rắc rối mà người ta thường gán cho nghề nghiệp này . Đại khái ông không phải trăn trở nhiều khi ngồi trước trang giấy , thảng hoặc đôi lần có để ý đến ý nghĩa xã hội của công việc ( như khi viết Bước đường cùng ) thì cũng là làm vội làm vàng chứ chưa phải đã dồn hết vào đấy tất cả tâm sức vốn có .

Nguồn cảm hứng nào đã thúc đẩy Nguyễn Công Hoan kể chuyện mình theo kiểu như vậy ?
Chúng tôi có cảm tưởng điều đầu tiên ông muốn truyền đạt tới mọi người , ấy là viết văn phải có năng khiếu và sự thành công không thể do ý chí hay day tay mắm miệng mà có được .Vốn thích đề cao những gì gọi là tự nhiên ông chúa ghét những nhà văn nào quan trọng hoá nghề nghiệp của mình và lấy sự viết lách ra để lừa bịp . Sự dông dài tuỳ tiện mà ông hay nói , đúng hơn sự đùa bỡn mà ông cố ý phô ra , là một cái gì quán xuyến trong ông , nó buộc người ta sau đó phải hiểu dần ra những điều đơn giản mà ông muốn nói việc viết văn cũng là một việc thường như mọi việc khác trên đời hoặc gán cho văn chương có lắm ý nghĩa đâu đâu tức là chẳng hiểu gì về nó cả .
ở chỗ này có thể nói cách làm của Nguyễn Công Hoan trùng khít với một xu thế của tư duy hiện đại ấy là nhìn đời sống ở một khoảng cách gần gũi , phi huyền thoại hoá nó , làm cho mất đi cái vẻ thiêng liêng giả tạo mà con người trung đại thích dùng để tự tô vẽ .
Đồng thời sự phi huyền thoại hoá này còn đi gần tới một quan niệm khác cũng chỉ thấy ở con người hiện đại ấy là nhấn mạnh tính chất trò chơi của cuộc đời , và cho rằng trong trò chơi , cả ý nghĩa nghiêm chỉnh lẫn cái vẻ hư vô của kiếp nhân sinh có dịp bộc lộ . Chơi để sống cho nhẹ nhàng và nếu có phải chết cũng là chết một cách thoải mái .
Trong tiếng Việt chữ chơi hay gợi ra cái ý ham vui gặp chăng hay chớ chả cần để tâm vào việc gì mà tha hồ làm nhanh làm ẩu làm hàng giả bịp bợm . Có thể nói Nguyễn Công Hoan chơi với nghĩa khác . Chơi ở đây thuộc về một cái gì nằm trong cách nhìn đời trong ý thức của con người nó giúp cho một cây bút như tác giả Bước đường cùng thêm hào hứng trong sự sáng tạo , khi viết tìm thêm được những trò hóm nghịch lôi cuốn bạn đọc .
Truy nguyên về tận nguồn gốc, có thể bảo cái sự nhởn nhơ ở Nguyễn Công Hoan còn thuộc về hồn cốt dân tộc mà ông thấm nhuần trong dòng máu mình .
Rải rác trong các đoạn trên chúng ta đã nhắc qua một số đặc điểm làm nên cách nhìn đời sống của Nguyễn Công Hoan qua các truyện ngắn truyện dài đã in : Thích sự tự nhiên và luôn luôn tự nhắc nhở mình là phải giữ bản sắc . Không tin lắm ở sách vở mà thích đề cao một sự khôn ngoan trời cho. Trong khi gắng gỏi học theo mọi người thì bề ngoài lại tỏ ra không coi cái gì là quan trọng và xem thường mọi chuyện .Lấy sự cười đùa làm vui tự nhiên , bài bác những sự quan trọng hoá giả tạo song lại sẵn sàng để tâm và tỏ ra rất thích thú với những sự sắp đặt tinh xảo v…v…. Đến Đời viết văn của tôi thì chúng ta lại gặp cái tinh thần đó trong chính con người Nguyễn Công Hoan . Trong khi nhìn lại đời mình , nhà văn hiện ra như một cá tính cụ thể , mà trong đó đồng thời thấy bao hàm những con người khác những cuộc đời khác . Xét theo nghĩa này , cuốn sách là một bộ phận hợp thành không thể thiếu trong sự nghiệp đồ sộ của tác giả ./.

Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở VN

(TT&VH) – Trước khi đòi hỏi người đọc Việt Nam đến với sách, nên nhớ là chúng ta, những người làm văn hóa, thường chỉ đưa đến họ những cuốn sách tẻ nhạt phù phiếm xa lạ với cuộc sống của chính họ. Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.

1. Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống.

Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam (1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách.

Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,… đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình.

Phải công nhận trong khi ghi chép và phân loại thành tựu văn hóa trong quá khứ, Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú đi xa hơn cả. Tác giả đã dành cả một chương mang tên văn tịch chí ghi lại sách vở các đời.

Thế nhưng đó vẫn không phải là lịch sử sách, càng không phải là sự trình bày quan niệm về sách, vai trò của sách vở trong đời sống của người Việt. Mà lý do chính là vì trong xã hội bấy giờ, những ý niệm này chưa xuất hiện, tác giả có muốn cũng không làm được.

Trong khi đó chỉ cần đọc lướt qua những cuốn lịch sử những nước có nền văn hóa phát triển người ta thấy ở xứ người, sách được dành cho một vị trí như thế nào. Sự ra đời của những cuốn sách lớn được ghi nhận như những cái mốc lớn lao đánh dấu thành tựu của cộng đồng trong việc chinh phục thiên nhiên và tự nhận thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình.

2. Để sang một bên cái nhìn lịch đại, mà chỉ xét trên phương diện đồng đại tức là nhìn tình hình sách trên một bình diện thời gian nhất định, cũng có thể thấy ngay là văn hóa sách của chúng ta khá đơn sơ.

Về kiểu loại sách: Nếu trên phương diện kinh tế, hàng hóa chúng ta sản xuất ra quá nghèo nàn về mẫu mã và chủng loại thì ở sách cũng có tình trạng tương tự. Sách được hiểu chủ yếu là các tập thơ tập văn. Trong khi đó, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, xuất bản phẩm có nghĩa rộng hơn nhiều, sách thường tổ chức theo một hệ thống thể loại chặt chẽ, bao gồm đủ loại từ các biên khảo, các sách biên niên sử, rồi từ điển và bách khoa thư. Việc làm một cuốn sách một bộ sách có khi được người ta dành cho cả một đời người.

Về nội dung sách: Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt Nam đã chỉ rõ trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, có quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm. Tức theo Phan Ngọc, đây chỉ là một nền xuất bản phục vụ cho việc học để làm quan! Trong số 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Trong sách về thủ công nghiệp chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề…

Về việc bảo quản giữ gìn sách: Sau khi được sao chép ra với số lượng ít ỏi, sách chỉ có cuộc sống ngắn ngủi. Ta hay đổ cho nước ngoài – rõ nhất là thời kỳ quan quân nhà Minh sang đô hộ – tịch thu và tiêu hủy nhiều sách của ta. Song theo Phan Huy Chú, trước đó sách từng là nạn nhân của những cuộc khởi nghĩa, khi Thăng Long bị cướp phá, sách vở đã bị đốt rất nhiều.

Một phương diện nữa đánh dấu sự phát triển của văn hóa sách một quốc gia là khả năng trao đổi của sách với các tài liệu in ấn từ nước ngoài, tức là vấn đề xuất nhập khẩu sách (từ đây mở đường cho những cuốn sách lớn trở thành tài sản chung của nhân loại).

Trong một tài liệu viết về thư tịch chữ Hán ở Nhật Bản (in trên tạp chí Nghiên cứu văn học ra ở Hà Nội số 4-2008), tôi thấy người ta cho biết triều đình Nhật có cả một Thư viện gọi là Văn khố hoàng gia, sau gọi là Sảnh thư, chuyên cất giữ sách Trung Quốc. Một văn khố khác mang tên Văn khố Hồng diệp sơn hoặc Văn khố nội các, hoặc Quốc lập công văn thư quán, đến nay còn lưu giữ 185.000 quyển. Đại khái có thể ước tính 50% điển tịch đời Tùy, 51,25 % điển tịch đời Đường đã được nhập vào xứ sở Phù Tang.

Tài liệu trên còn đưa ra một con số: tới đầu thế kỷ XIX từ 70 đến 80% sách in ở Trung Quốc đã được chuyển sang Nhật. Mà ở Trung Quốc sách in ra lúc đó đã tới 100.000 loại (loại chứ không phải cuốn ).

Còn ở Việt Nam thì sao? Trên tôi đã nói là sử ta không mấy khi nhắc tới việc buôn bán trao đổi sách. Chỉ đọc cuốn lịch sử Đông Nam Á của một tác giả người Mỹ tôi mới thấy ghi thời thế kỷ XVII, chúa Trịnh từng có lệnh cấm truyền tay sách Trung Quốc (sách này do những người Tàu nhập cư mang vào). Các chúa Nguyễn có chú ý hơn tới sách vở, nhưng chắc là chỉ khá hơn các triều trước chứ hãy còn đơn sơ, chắp nhặt lắm.

Có lần tôi được nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết ngày xưa các vị quan đi sứ, khi về hàng hóa bị kiểm tra rất ngặt nghèo, chỉ có hai thứ được khuyến khích là thuốc quý và sách. Nhập hàng theo lối tiểu ngạch như vậy, mà lại nhỏ giọt, nên khi mang về sách trở thành quá ư là quý hóa, thường người mang về chỉ giữ cho riêng mình. Tệ nhất là trường hợp vị sứ giả kia – không hề có ý thức rằng mình là sứ giả văn hóa – thuổng luôn của người ta, lấy của người làm của mình hoặc coi đó làm mẫu, mô phỏng theo. Trong trường hợp khá hơn, thì người có sách lại thỉnh thoảng kín kín hở hở mang ra khoe để trộ thiên hạ. Sách ngoại như vậy là chết luôn sau khi nhập khẩu, còn đâu vai trò kích thích việc làm sách trong nước.


thethaovanhoa

Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết

Mối quan hệ kéo dài trong suốt cuộc đời
Nguyễn Công Hoan thường nói về thơ với một sự nghiêm chỉnh hiếm có . Trong hồi ký Đời viết văn của tôi , ông tự hào kể : “ Ngay từ những năm tôi còn nói ngọng , tôi đã thuộc một số thơ cổ của Trung quốc . Rồi tôi học phương ngôn, tục ngữ ca dao của dân tộc . Rồi tôi thích nghe những vần thơ chống Pháp của những tác giả ẩn danh do cha tôi dạy truyền khẩu . ..” . Vai trò của thơ được ông diễn tả bằng những lời lẽ cảm động : “ Lúc đầu tôi đọc thơ, nhưng chưa hiểu . Rồi sau , vì đọc đi đọc lại luôn , tôi hiểu dần , ý nghĩa của những bài ấy như thấm thía tí một vào trong người và rồi hình như những lời ấy là của chính tôi nói với người khác vậy “ .

Những khi có điều gì không được như ý , sau khi làm vài chén rươụ , ông không chỉ đọc thơ mà còn làm thơ giải buồn . Trong hồi ký , ông từng chép ra nguyên văn mấy bài thơ ông đã làm .
Xem ra lời lẽ của một người suốt đời sống với thơ cũng chỉ chân thành đến vậy !
Song trong thực tế , nhà văn này sống với lịch sử văn học bằng văn xuôi và cái tư duy văn xuôi của mình . Ngoài một sự nghiệp truyện ngắn đồ sộ , ông là người đã viết khá nhiều tiểu thuyết , viết đều đều , có lúc một tháng viết vài cuốn . Trong số này có cuốn đương thời đã trở thành đối tượng để tranh cãi một hồi như Cô giáo Minh , có cuốn đã từng làm điên đảo một lớp công chúng như Lá ngọc cành vàng , có cuốn đã từng được các nhà nghiên cứu sau 1945 đề lên cỡ một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết hiện thực , như Bước đường cùng …
Người ta tỏ ra dè dặt khi đánh giá chất lượng các tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan , và điều này không phải là vô lý . Trừ mấy cuốn được nói trên ,các cuốn khác của ông thường mắc những lỗi khá nặng về mặt nghề nghiệp. Ví dụ như trường hợp cuốn Thanh Đạm . Không phải chỉ sau 1945 , đứng trên lập trường mác xít , mọi người mới chê quyển sách này . Mà ngay khi mới ra đời , nó đã bị một số người xem là áp đặt , giả tạo. (1)
Có điều , muốn cho công bằng , mỗi khi xem xét quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam trước 1945 , người ta bắt buộc phải dừng lại ở trường hợp Nguyễn Công Hoan . Đặt bên cạnh những tác giả có những thành tựu tương đối hoàn chỉnh như Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm, Khái Hưng với Hồn bướm mơ tiên , Vũ Trọng Phụng với Số đỏ, những người như Lê Văn Trương , Vũ Bằng , Lan Khai , Nguyễn Công Hoan có cách tồn tại riêng . Với họ viết tiểu thuyết là công việc hàng ngày . Hay dở chưa nói , chỉ biết những cái họ viết làm nên sinh hoạt đời thường của thể loại . Chính cái
dông dài tầm thường của một thứ giải trí không quá tốn tiền đã được bộc lộ đầy đủ qua các tác phẩm mà họ sản xuất đều đều .

Ngoài số phận chung như thế , với cái khu vực mà mình lập nghiệp , Nguyễn Công Hoan lại có một sự biệt nhãn hiếm có . Ông là người đã dành nhiều giấy mực để bàn về cái thể tài mà ông thường xuyên sử dụng . Khi thì ông có bài giảng chung về công việc của người viết tiểu thuyết ( bài nói ở Hội nghị viết văn trẻ lần thứ nhất ,1959 ) . Khi thì ông kể lại kỹ càng cho mọi người biết một số tiểu thuyết của mình đã ra đời trong những trường hợp nào ( hồi ký Đời viết văn của tôi ) . Người ta không thể bàn kỹ đến như thế về một công việc mà người ta chỉ làm một cách vô tình . Hoá ra Nguyễn Công Hoan đã nặng lòng với tiểu thuyết hơn nhiều , so với chính ông vẫn tuyên bố .

Sự chuẩn bị tự nhiên

Khi kể về cuộc đời của mình , nhà văn Nguyễn Công Hoan không có lối mơn man gượng nhẹ . Ông gây ấn tượng bằng cách làm ra vẻ nói tuột hết mọi điều cả điều xấu lẫn điều tốt . Thậm chí , vượt lên thói thường ông còn bất chấp dư luận , sẵn sàng đến mức trâng tráo kể lể tỉ mỉ mọi điều xấu sẵn có ở mình . Con người ông trong Đời viết văn của tôi hiện ra với hai đặc điểm :
Thứ nhất là thói lê la chơi bời từ đó biết nhiều biết rộng, biết từ việc trong nhà cho đến việc kín đáo chốn quan trường , rồi việc làng quê , việc chợ búa học hành thi cử . Hãy nhớ lại đoạn Nguyễn Công Hoan kể rằng mình bỏ học xuống ngồi gác đùi gác vế nói chuyện với những người lính trong huyện đường . Những lần tiếp xúc này để lại trong ông ấn tượng không bao giờ quên nổi ; nếu có thể nói đến một thứ vốn sống thì ở Nguyễn Công Hoan , cái vốn ấy đa tạp , vượt ra ngoài cái khả năng mà một người bình thường có thể có .

Thứ hai, là cái xu hướng nhìn đời theo lối khinh thế ngạo vật . Ông không coi cái gì là quan trọng , không thích tin ở những lời giáo huấn . Ông xa lạ với cách nhìn thiêng liêng theo kiểu lý tưởng hoá . Ông muốn nhìn gần nhìn thẳng nhìn tận tim đen mọi người mọi chuyện .
Cái vốn sống ấy , lối nhìn đời ấy quả thật là sự chuẩn bị tốt nhất để ông trở thành người viết tiểu thuyết . Tại sao ? Bởi có một đặc điểm của tiểu thuyết vốn gắn với thể tài này từ thuở ra đời , đấy là tính chất bình dân và khả năng sống lam lũ giữa đám chúng sinh . Như các nhà nghiên cứu lịch sử tiểu thuyết đã khẳng định , thể tài vốn bắt đầu từ những câu chuyện linh tinh người ta kể với nhau ngoài đường phố . Nó dông dài , nó ba vạ , nó có khả năng chứa chấp cả cái bi lẫn cái hài , cái cao cả lẫn cái thấp hèn . Với tạng Nguyễn Công Hoan , sự đa tạp đó rất thích hợp. ( Đôi lúc Nguyễn Công Hoan được miêu tả như là ngòi bút chỉ quen viết về những người cùng khổ, những phần tử thuộc loại dưới đáy trong xã hội . Thật ra thì nhà văn này đã viết đủ thứ : về người giàu và người nghèo , về cùng đinh và quan lại , về những mối tình cành vàng lá ngọc và những pha ghẹo gái ghẹo gái thô lỗ của mấy anh lính lệ phố phủ . .. Hầu như động vào đâu , ông cũng có kinh nghiệm . )
Lại như cái việc Nguyễn Công Hoan mải viết đến mức ngại học . Nghiên cứu mấy tác phẩm của A.Dumas hoặc Maupassant để học theo , ông cũng chỉ đọc một lúc thì bỏ . Nói chung là ông không chịu được những quy củ ràng buộc , mà chỉ thích làm theo ý mình .
Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX còn đang ngổn ngang trăm mối , mới cũ khó phân , mọi người mải miết sống cho kịp với thời đại , cái tâm lý hăm hở sẵn sàng dậy non và cảm thấy cái gì cũng có thể làm được mà Nguyễn Công Hoan thú nhận ở đây là một điều dễ hiểu .

Sở dĩ Nguyễn Công Hoan có thể đến với tiểu thuyết một cách hoàn toàn tự nhiên một phần còn do những đặc điểm mỹ học của thể tài : Về nguyên tắc , tiểu thuyết luôn trong quá trình hình thành. Nó không bị cứng lại trong những quy phạm có sẵn . Tiểu thuyết là một thể tài tự do , các tài liệu nghiên cứu các nước phương Tây cũng như ở nước Nga xô -viết trước đây đều nói như vậy . Còn ở Trung quốc , người ta nói rằng tiểu thuyết cần phải dã sinh , tức là có một cuộc sống của các loại cây cỏ ngoài đồng chứ không phải thứ hoa trồng trong lồng kính . Chắc chắn Nguyễn Công Hoan không hề biết những lý luận ấy , nhưng cái tinh thần của nó thì ông cảm thấy một cách đầy đủ và rất thạo trong việc khai thác . Đằng sau cái vẻ đạo mạo của một người thuộc loại con nhà gia giáo ,ở ông giáo tiểu học ấy luôn toát ra cái vẻ bất cần kỳ lạ . Hoặc nói cho sang , ở Nguyễn Công Hoan có một nhu cầu tự do nhất định , loại nhu cầu này là của chung của mọi thời kỳ lịch sử và đến xã hội hiện đại càng được khuyến khích . Mặc dù tự do nói ở đây được hiểu theo nghĩa đơn giản và có nhiều phần dung tục , song dẫu sao vẫn là nó , thứ tự do nó làm cho con người ta thêm tự tin ở mình . Đây là một đoạn đối thoại giữa nhà văn lúc mới làm nghề với một người bạn :
“Tương Huyền thấy tôi nghịch ngợm , nói chuyện có duyên , nên một lần đã bảo tôi :
— Mày biết lắm chuyện buồn cười , và hay nói chuyện buồn cười , thì mày viết kịch .
Tôi đáp :
— Viết kịch khó lắm …Nếu tao có viết, thì tao viết tiểu thuyết , dài ngắn tha hồ , đương cảnh nọ bật ra cảnh kia , đương năm này nhảy sang năm khác , không theo luật lệ nào cả “ (Đời viết văn của tôi )
Như vậy là có sự gặp gỡ giữa nhà văn tương lai và thể loại , một sự gặp gỡ không hẹn mà nên , hoàn toàn tự nhiên , không đòi hỏi quá nhiều cố gắng của người trong cuộc . Điều này thấy ở nhiều nhà văn , nhưng với Nguyễn Công Hoan , nó dễ thấy nhất . Nó khiến cho ông mặc dầu không thành công trong thể tiểu thuyết , vẫn là một ví dụ nổi bật về sự tiếp nhận một thể tài vốn có nguồn gốc ở nước ngoài , với tất cả cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật khá phổ biến ở hàng loạt người cầm bút thời tiền chiến .

Những điêù trái ngược
Tác giả Bước đường cùng từng có lần khuyên nhứng đồng nghiệp trẻ : Muốn viết văn thì hãy mạnh dạn bắt tay vào công việc . Như người muốn học bơi thì phải nhảy xuống nước . Chứ cứ đứng trên bờ thì cả đời cũng không bao giờ học bơi được .
ấy vậy nhưng đọc hồi ký của ông, người ta thấy ông chả bừa bãi bao giờ . Ngược lại ông suy tính cẩn thận xem mình nên viết loại văn gì ,và viết như thế nào người ta mới đọc . Sau khi viết xong , khi đưa cho bạn bè xem ông cũng hồi hộp , ai chê hay khen ông đều suy nghĩ để rút kinh nghiệm . Tóm lại trước khi bơi, ở ông có những sự chuẩn bị trên bờ khá kỹ .
Hoặc như ông hay nói rằng phải viết một cách tự nhiên và nói chung trong nghề chẳng có quy luật quy tắc gì cả . Nhưng trong cuốn hồi ký trên ba trăm trang của mình (con số của bản in Đời viết văn của tôi 1971 ) , ông lại để đến vài chục trang để giảng về phép tắc mẹo mực mà ông đã từng khéo léo áp dụng trong công việc .
Cả trong những lúc cần nói về những vấn đề lớn lao hơn , ở ông cũng có những mâu thuẫn tương tự .
Nguyễn Công Hoan thường tự hào dẫn lại lời khen của một người bạn gái “Đúng là người Việt Nam viết truyện Việt Nam bằng văn Việt Nam “
Một lần khác ông phản ứng trước lời khen của một người rằng văn ông gợi nhớ đến một nhà văn nước ngoài : như thế có khác gì khen người Việt mà bảo họ tóc quăn mũi lõ .
Có người hồn nhiên nghĩ — cả tác giả có lúc cũng có lúc hồn nhiên tương tự — mà khái quát rằng : như vậy Nguyễn Công Hoan là một trường hợp thuần tuý bản địa , xứ sở tự động đẻ ra ông , con người và sáng tác của ông không liên quan gì đến cuộc Âu hoá là hướng vận động chủ yếu của xã hội và văn học VN nửa đầu thế kỷ XX .
Nhưng liệu có một người đứng ngoài thời đại như vậy không ? Nhất định là không rồi .
Theo chúng tôi hiểu , quan hệ Nguyễn Công Hoan với xu thế Âu hoá hình thành qua nhiều phương diện , trong đó có việc sử dụng các hình thức nghệ thuật . Trong hoàn cảnh của nước Việt Nam từ thế kỷ XIX về trước , bước đi của văn xuôi gặp phải hai cái trở ngại to lớn : một mặt xã hội thiếu một thứ văn tự phổ thông để ai cũng dùng được . Mặt khác , các hoạt động mà thuật ngữ hiện đại gọi là mass media tức là những phương tiện giao tế công cộng bị hạn chế , sách không in hàng loạt , báo không có , và để cố định sản phẩm sáng tạo , người ta đành sử dụng một thể tài thông thường trong văn chương truyền miệng là các mẩu truyện , các mẩu này vẫn tồn tại độc lập mà lại có thể ráp nối vào nhau thành một chuỗi liên tục .

Bây giờ hãy thử nhìn vào các tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan và xác định cái ngôn ngữ thể loại mà tác giả sử dụng trong các tiểu thuyết đó . Như trong trường hợp cuốn Bước đường cùng . Bắt đầu là chuyện chị Pha đẻ , rồi gia đình Pha và Trương Thi kiện nhau , rồi Nghị Lại xui nguyên giục bị khiến cả hai người nông dân gia tài khánh kiệt riêng Pha vợ chết thân mình tù tội — tất cả những cảnh nói trên nối tiếp nhau như trong một cuốn phim , hoặc như một vở kịch có nhiều màn nhiều lớp . Không có lối mở đầu câu chuyện bằng cách kể lai lịch nhân vật như trong các truyện cổ . Không có những lời khuyến cáo đạo đức của tác giả . Đoạn kết bỏ lửng ( Pha giơ cánh tay bị trói lên trời [ …] kệ cho dòng lệ cứ tuôn trào ra và kệ cho ba anh em theo mình không biết đến đâu mới trở lại .) Như thế tức là cách viết của Nguyễn Công Hoan đã vượt ra ngoài truyền thống mà ông xuất thân . Ông đã vận dụng khá thường xuyên và hiệu nghiệm những thành quả nghệ thuật của thời đại , cụ thể là nghệ thuật tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX.
Trong khi tiếp nối tinh thần vượt ra ngoài mọi quy phạm của văn chương bình dân , thì đồng thời Nguyễn Công Hoan hiện ra với một y phục hoàn toàn mới . Vậy thì có gì là oan khi nói rằng ông đã chịu ảnh hưởng thời đại , cụ thể là cái chuyện Âu hoá mà ông và nhiều đồng nghiệp vẫn thành tâm chế giễu .

Vầy vò tuỳ tiện , với ý thức “ thể tài của mình “
Tìm hiểu tài năng Nguyễn Tuân , chúng ta biết rằng nhà văn và cái thể tuỳ bút độc đáo mà ông sử dụng chỉ có thể sinh ra trong điều kiện của một tư duy văn học cởi mở . Với tư cách một sản phẩm của xã hội được làm theo mô hình hiện đại đã đến độ chín , con người ông Nguyễn không vừa với những khuôn khổ cũ — ở đây là những thể tài cũ ; thể tuỳ bút phải được du nhập , phải thay hình đổi dạng , phải được tái sinh để con người tác giả tự bộc lộ .
Tương tự như vậy , chúng tôi ngờ rằng thể tiểu thuyết chính là một công cụ hữu hiệu nhất để một người như Nguyễn Công Hoan trở thành chính ông . Nó như nằm gọn trong bàn tay ông . Ông đùa nhại nó ông giễu nó . Đây vừa là một khía cạnh thuộc về cá tính con người nhà văn , vừa là sự gặp gỡ hiếm thấy giữa ông với cái thể tài mà ông sử dụng .

Trường hợp của Cái lò gạch bí mật thường đã được các nhà nghiên cứu nói tới mỗi khi nhấn mạnh cái quan điểm nghệ thuật mà Nguyễn Công Hoan ngấm ngầm theo đuổi .Thiên truyện thường được xem như một ngón đòn “ đả kích khá trúng thứ văn chương “ hiện đại “ lai căng toàn những ly kỳ rẻ tiền “ (2) Điều đáng nói là cái ghi chú bên cạnh đầu đề “ Truyện trinh thám An Nam “ . Lại một lần nữa , Nguyễn Công Hoan muốn cho mọi người thấy rằng cái tinh thần chính mà ông noi theo là chẳng coi việc gì quan trọng , việc gì cũng là dung tục nhảm nhí . Mà nó – cái quan niệm hư vô ấy — không của riêng ông mà phải gọi là tinh thần chung của dân gian , ông chỉ là một đại diện có tên tuổi .

Để hiểu rõ hơn quan niệm về sự tự do và thói thích đùa bỡn này của Nguyễn Công Hoan , chúng ta còn có thể dừng lại ở một cuốn tiểu thuyết tác giả cho in ở NXB Đời mới vào thời gian ngay sau 2-9-1945 do đó mà ít người biết , là cuốn Người An nam .Tác phẩm xoay quanh câu chuyện một viên tướng Việt Nam thời nhà Lê bị bắt làm tù binh , rồi trở thành rể vua Chàm . Nhưng dòng máu Việt trong người viên tướng này vẫn chảy mạnh , cuối cùng khi quân Việt đánh vào thành , nhân vật này lập công quay về với Tổ quốc bằng cách quay ra giết vợ và làm nội ứng cho quân Việt tràn vào . Sau hành động yêu nước ấy, viên tướng phát điên .
Chúng ta biết rằng đôi lúc trong truyện ngắn , Nguyễn Công Hoan cũng viết về những đề tài mà ông chỉ biết qua tài liệu sách vở . Như năm 1939 , ông có một thiên truyện mang tên Thiếu Hoa viết về một nhân vật phụ nữ miền nam Trung quốc . Lần này lại một sự xa lạ nữa , chắc chắn còn xa lạ hơn Thiếu Hoa vì là truyện về thời đã qua. Đối với một nhà văn từng nói chắc như đinh đóng cột rằng “ người đọc truyện chỉ thích đọc những truyện gần với họ , gần về không gian về thời gian “ — thì đây quả là một ngoại lệ . Nhưng như lý luận về nhận thức luận đã chỉ rõ , chính các ngoại lệ lại bộc lộ bản chất rõ hơn là các trường hợp thông thường .
Trong lời dẫn đặt ở đầu sách Người An nam , sau dòng chữ Bạn đọc yêu quý , tác giả có hai trang tạm gọi là lời phi lộ trong đó có đoạn ông biện hộ cho cách viết của mình :
“ Tôi không biết tiếng Chiêm Thành thì những người Hời của tôi chỉ được nói tiếng Nam bằng giọng đặc Việt Nam . Tôi không là người Chiêm Thành sống năm trăm năm về trước thì các chủ động trong truyện này cũng không thể tư tưởng theo lối họ về thời ấy. Và đến cả khung cảnh , ngôn ngữ , cách ăn mặc ,cách sinh hoạt dù ngay của người mình về đời Lê, đã không ở vào thời đó thì tả sao nổi .Vả biết thế nào là đúng .“
Chúng ta cảm nghe trong câu nói nếu không phải một thoáng”bất khả tri” thì cũng là lời châm chọc đối với cái cốt tử của nghệ thuật tiểu thuyết , đó là tính chân thực . Thế thì biết làm thế nào bây giờ ?! Rất may là rồi người ta cũng được thở phào khi nghe tác giả tâm sự :
“Vậy tôi dùng tư tưởng của tôi . Tôi dùng tưởng tượng của tôi . Tôi dùng ngôn ngữ của tôi . Tôi trông ở sự rộng lượng của các bạn “
Tiếp đó , tác giả nói về mình theo cái lối thật thà đến mức ngạo mạn “ Xin các bạn chớ đợi cuốn sách này một lịch sử tiểu thuyết hoặc một lịch sử ký sự . Tôi chỉ là một nhà tiểu thuyết , một nhà tiểu thuyết tầm thường , tồi hơn nữa một nhà tiểu thuyết ít đi, ít đọc . Bấy lâu nay sở dĩ được hân
hạnh quen biết các bạn là do chỉ đã khai khẩn địa hạt nhà , đào trong trí nhớ lấy những cái mắt thấy tai nghe rồi dùng sức óc chắp nối , thêm bớt cho thành những câu chuyện nhăng nhít “
Tuy nhiên đằng sau những lời lẽ xô bồ và có vẻ lỡm đời đó , ngầm chứa một ý tưởng khác : tiểu thuyết đã là chuyện của tôi , tôi ( tức Nguyễn Công Hoan ) vầy vò nó thế nào nó cũng phải chịu , nói xuôi nói ngược thế nào thì rồi mọi người cũng phải nghe . Cái nháy mắt tinh nghịch đi kèm với một sự hể hả khoái trá không muốn và không thể che giấu .
Đến đây , có thể nói quá trình tiếp nhận tiểu thuyết như một thể loại đặc trưng cho thời Âu hoá, việc tiếp nhận đó ở Nguyễn Công Hoan đã hoàn thành . Nhìn lại những chặng đường mà ông đã qua , có thể tóm tắt cách tiếp nhận thể tiểu thuyết ở Nguyễn Công Hoan như sau:
— bởi thích quá nên làm theo , thấy hợp thì làm , cứ tự nhiên mà lấy của người làm của mình , không chút mặc cảm ;
— tìm cách phát huy cái phần bản năng tự nhiên để làm theo hơn là học theo bài bản , không bị trói buộc bởi bất cứ chuẩn mực hoặc khuôn mẫu nào hết ;
— trong khi làm có một niềm tự tin kỳ lạ , tin rằng mình đã thông thạo đã lành nghề , đãnắm được tất cả , chính điều này góp phần giải phóng ở người viết văn mọi tiềm năng sẵn có .
Khó lòng nói đó là cách tiếp nhận lý tưởng , nhưng phải nhận đối với một tính cách như Nguyễn Công Hoan , đó là cách tiếp cận tối ưu .

Theo một sơ đồ thống nhất
Chung quanh mối quan hệ giữa Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết , điều cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý : cái cách tiếp nhận thể loại ở đây vốn mang nặng tính truyền thống tức đã có từ các thế hệ trước .
Sử sách nước ta thường ghi từ thời trung đại ông cha ta đã truyền tay nhau đọc một cách dấm dúi các bản truyện do người Trung Hoa viết và theo chân các viên quan đi sứ mang về . Thế nhưng đọc thì cứ đọc , song nói chung các cụ vẫn rất bảo thủ với nghĩa chỉ xem thơ là đáng học theo , còn tiểu thuyết là thứ ngoại sử , dâm thư , tiểu gia chi thuyết , không thể để cho niềm say mê ma quái đó lôi cuốn . Và đến khi không cưỡng lại nổi , phải cầm bút viết các loại truyện (tiền thân của tiểu thuyết ) , thì lại thấy nảy sinh tình trạng tâm lý lưỡng phân , tức là viết thì cứ viết , nhưng không thể để công tu luyện . Lối viết truyện nửa mô phỏng truyện Tàu , nửa tô vẽ thêm cho ra vẻ xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam , và cả cái tâm lý khi làm vừa tự hào vừa xấu hổ cộng lại , đã khiến cho công việc được làm thường còn dừng lại ở tình trạng dang dở .

Cái lối tiếp nhận như vậy đã ảnh hưởng sang thời hiện đại bao gồm cả thập kỷ ba mươi, bốn mươi thế kỷ XX như thế nào ? Chúng tôi xin phép không chép lai đầy đủ dẫn chứng mà chỉ ghi lại đây một sự thực là trong các tiểu thuyết của Khái Hưng và Lê Văn Trương , Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng , các nhân vật mỗi khi nhắc đến tiểu thuyết thường tỏ thái độ coi thường , nếu không nói là mỉa mai, khinh rẻ . Có lẽ ngoài đời con người thường vẫn nghĩ thế , nên các nhà văn cũng tự nhiên mà ghi lại chăng . Sự lặp lại còn thấy cả trong tâm thế sáng tác của nhà văn . Một mặt nhiều người thích viết tiểu thuyết, hăm hở rủ nhau viết tiểu thuyết . Trong đội ngũ các tiểu thuyết gia làm đầy các báo, người ta thấy có mặt chẳng những các cây bút văn xuôi chuyên nghiệp mà còn thấy cả một thi sĩ tài hoa như Tản Đà ( Giấc mộng lớn ) một cụ đồ tân tiến và thường chỉ giỏi về tư duy tư biện như Phan Khôi (Trở vỏ lửa ra ) một nhà thơ tính nết vốn bốc đồng như Lưu Trọng Lư ( Khói lam chiều ), một cây bút lý luận khá đa tạp như Trương Tửu ( Khi chiếc yếm rơi ) . Mặt khác nghệ thuật tiểu thuyết thì chẳng ai coi là nghiêm chỉnh , chẳng ai đọc và nghiên cứu về bản chất thể tài này cho cẩn thận , tóm lại là chẳng ai làm việc cho đúng bài bản . Đương thời , Vũ Bằng có so sánh tiểu thuyết Việt nam với tiểu thuyết Pháp ở phương diện sự khổ luyện của nhà văn để rồi nhận xét “ ở Pháp, những ông hàn lâm và những nhà triết học thường băn khoăn đi kiếm những cái mới lạ để giúp ý kiến cho các nhà viết truyện ; khi lại nói rõ cho những nhà viết truyện biết những kỹ thuật mới trong làng tiểu thuyết ngoại quốc để làm gương “; ngược lại ở ta , “ thật hoàn toàn không có gì , toàn là học theo lối bắt chước cả kiểu như những người thợ không học trường chuyên môn một ngày nào mà cũng chữa được máy móc và chế được ra máy móc .” (3) Nói như ngôn ngữ bây giờ , tức trong khi các nhà văn Pháp đưa sáng tác lên lĩnh vực ý thức và tìm thấy sự hỗ trợ của giới nghiên cứu , thì nghề viết tiểu thuyết ở Việt Nam dừng lại ở tình trạng một nghề thủ công, dựa chính vào năng khiếu và thói quen . Nhiều người khác cũng có ý tương tự . (4)
Đó là những nhận xét có phần suồng sã , kết quả của một lối nhìn nhận tiểu thuyết ở khoảng cách gần gũi , song nó có khả năng giúp ta hiểu thêm tại sao việc vận dụng thể tài này lại có những hạn chế rõ rệt : những bài học ban đầu vận dụng rất nhanh ( điều này khác với thơ ) , được khai thác đến mức gần như cạn kiệt ; nhưng sau đó không khai phá tiếp tục , không làm giàu thêm cho nó được bao nhiêu .
Chính cái cách các nhà văn đến với thể tài đã giải thích một phần kết quả chúng ta đạt được . Trường hợp Nguyễn Công Hoan nói ở đây thực ra là tình trạng chung , cùng lúc thấy ở nhiều nhà văn khác ./.

—— (1) Theo Đinh Gia Trinh “ Ông Nguyễn Công Hoan đã tả một người hoàn toàn quá nên quan huyện của ông chỉ như một vai tuồng vụng về không sống và không tiêu biểu cho một cái gì cả … Lỗi của tác giả là đã muốn dùng tiểu thuyết để diễn một quan niệm , mô tả một khuôn mẫu lý tưởng mà quên rằng nhân vật tiểu thuyết phải có hoạt động ăn nhịp với đời sống “ . Xem bài Nay và mai , tạp chí Thanh nghị số 51-54 ,1944 , in lại trong Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lý trí NXB Văn học ,1996 , tr. 235 (2) Nguyễn Hoành Khung , phần viết về Nguyễn Công Hoan, in trong Văn học Việt Nam 1930-1945 tập I , NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp , H. 1988 , tr 111 (3) Vũ Bằng Khảo về tiểu thuyết in trong Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 , Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn NXB Hội nhà văn 2004 , các trang 175-177 (4) Một văn sĩ có thiên về khảo cứu là Nguyễn Triệu Luật còn đưa ra những khái quát cực đoan hơn , xin được phép ghi lại để tham khảo : “ Hiện bây giờ , những người gọi là trí thức của ta đều đào tạo ở hai trường Tây và trường Tàu . Hạng đào tạo ở trường Tàu – nói là hạng học từ chương cử nghiệp cuôí mùa thì đúng hơn — bây giờ tàn tạ rồi . Còn hạng ở trường Tây ra , vì phải uốn theo khuôn khổ Tây , không thành người Việt nữa … Không ở hai trường ấy ra mà lại làm văn sĩ thì thành hạng văn sĩ quốc ngữ , hạng chẳng có trí thức chi chi hết , chỉ múa mép láo mấy câu sáo cũ , mấy lời rỗng tuyếch chẳng có ích gì cho văn học , văn hoá một nước nào cả . Văn sĩ ta bây giờ chỉ có thể rơi vào hai cái bị . Một là cái bị Tây là bị lơ lửng giữa trời , không tây không ta ; hai là cái bị quốc ngữ . Cổ lai không có nước nào mà cái nghề làm văn sĩ lại dễ dàng rẻ rúng quá như ở nước ta hiện giờ. Ta thử đọc những cuốn tiểu thuyết bình dân , những cuốn tiểu thuyết bên Pháp gọi là “ tiểu thuyết của phường coi cổng “ . Đọc những cuốn ấy , ta thấy rằng tác giả của chúng tỏ ra là người có trí thức ít ra cũng qua bậc trung học rồi nghĩa là có phổ thông trí thức rồi . Những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ta bây giờ , già lắm chỉ bằng những cuốn tiểu thuyết của phường coi cổng bên Pháp mà thôi ! Xem Tao đàn 1939 , sưu tập trọn bộ , NXB Văn học 1998 t.1, tr . 420 421

Một thời tuổi trẻ hồn nhiên

¢m h­ëng l¹c quan

trong th¬ Ph¹m TiÕn DuËt



Ngư­êi chiÕn sÜ nh÷ng n¨m chiÕn tranh th­ưêng tù tr×nh diÖn nh­ư nh÷ng con ng­ưêi cã mét ®êi sèng tinh thÇn hån nhiªn nhÑ nhâm .C¸c anh rÊt dÔ vui, vµ niÒm vui cña c¸c anh rÊt trÎ, khoÎ. Hµnh qu©n nhäc mÖt như­ng ®Æt ba l« nghØ lµ nãi ®ïa, nãi “tr¹ng”. Leo nh÷ng c¸i dèc “ª Èm”, ®Æt cho dèc ®ñ mäi thø tªn ®Ó c­ưêi. Lµm ®ư­îc c¸i hÇm ®Ñp ®· vui. C¶i thiÖn ®ư­îc b÷a rau rõng còng vui! §¸nh xong trËn ¸c liÖt vÒ, c¸c anh l¹i cµng t×m thÊy nhiÒu chuyÖn vui. C¸i l¹c quan, c¸i vui ®­îc xem nh­ư mét nÐt b¶n chÊt cña ng­ưêi chiÕn sÜ, nã n¶y sinh trong mäi hoµn c¶nh, nh­ư mét thø th¸ch thøc v­ưît lªn khã kh¨n; nã lµ c¸i h¬i Êm to¸t lªn tõ t©m t×nh cña nh÷ng ngư­êi tù tin vµ ®ang chiÕn th¾ng.

Ph¹m TiÕn DuËt lu«n lu«n cã mÆt gi÷a nh÷ng ngư­êi chiÕn sÜ như­ thÕ. Anh ®i víi l¸i xe, víi c«ng binh, víi thanh niªn xung phong trªn mét tuyÕn ®­ưêng vËn t¶i qu©n sù ®Æc biÖt, vµ nh÷ng bµi th¬ cña anh in l¹i trong VÇng tr¨ng quÇng löa, trong Th¬ mét chÆng ®­ưêng chÝnh lµ ®ư­îc b¾t nguån tõ c¸i vui, c¸i l¹c quan cña c¶nh vµ ngư­êi anh sèng, anh gÆp trªn ®ư­êng. Như­ lµ cã mét sù gÆp gì ®Æc biÖt gi÷a t©m hån mét ng­ưêi chiÕn sÜ vµ mét ngư­êi lµm th¬. Vµ chóng ta cã mét tiÕng th¬ kh¸ ®éc ®¸o.

Trong v¨n häc, tõ viÖc sèng ®Õn viÖc viÕt, cã nhiÒu c¸ch thøc kh¸c nhau. Cã ngư­êi ®i rÊt nhiÒu như­ng chØ cèt n¾m lÊy kh«ng khÝ, c¸i “thÇn” chung nhÊt cña khung c¶nh. §äc nh÷ng trang viÕt cña hä, nhiÒu khi thÊy ¸nh lªn mét c¸i g× rÊt míi mµ kh«ng bao giê cã ®Þa chØ râ rµng. Ph¹m TiÕn DuËt kh«ng nh­ư thÕ. Anh ®i ®Õn ®©u, anh gÆp nh÷ng ai, ta dÔ ®o¸n biÕt. Anh muèn mang vµo trong th¬ c¶ nh÷ng chi tiÕt bén bÒ như­ v¨n xu«i: nh÷ng chuyÕn xe bom giËt, bom rung vì kÝnh; nh÷ng ®ªm “cao x¹ th×nh th×nh ®iÓm ®Çu canh ba”; khu vùc kho mét ngµy 17 trËn bom Mü déi. Gîi ý cho bµi th¬ cña anh lµ mét c¸i cÆp tãc ai ®Ó quªn trªn cá, tiÕng ®uæi gµ cña bµ mÑ khi lóa chÝn trªn ®ång. §äc th¬ như­ ®­ưîc cïng anh vµo mét cuéc ®i xa x«i vµ ®Çy høng thó. Mäi thø ®Òu ®­ưîc anh ch¨m lo, chi chót. Lóc nµo anh còng gi÷ ®­ưîc mét thø ng¹c nhiªn, mét niÒm say mª “say miÒn ®Êt l¹” rÊt tù nhiªn. Qua nh÷ng ng­ưêi, nh÷ng c¶nh cô thÓ mµ Ph¹m TiÕn DuËt , mäi ngư­êi kh¸c, ë nh÷ng ®¬n vÞ kh¸c, ®Òu cã thÓ t×m thÊy mét sù th«ng c¶m. Trong khi nãi râ nh÷ng vÊt v¶ ®Õn víi mçi chóng ta trong cuéc chiÕn ®Êu nhµ th¬ kh«ng lµm chóng ta b¨n kho¨n do dù . Dï cã thÕ nµo vÉn “kh«ng cã chuyÖn g×” vÒ tÊt c¶ nh÷ng ng­ưêi ë ®©y hÕt. Nh÷ng xa c¸ch “Tr­ưêng S¬n ®«ng Tr­ưêng S¬n t©y” kh«ng lµm cho ai buån. Trong c¸i ®ªm bom rung vì c¶ m¸i ngãi, ng­ưêi chiÕn sÜ vÉn ung dung ngñ l¹i víi giã s«ng Lam. Ph¶i l¹c quan l¾m míi cã ®ư­îc mét giäng th¬ như­ trong bµi Qua mét m¶nh trêi thµnh phè Vinh Êy! Cµng ®i vµo nh÷ng miÒn träng ®iÓm nh­ư Seng Phan, “tiÕng bom nh­ư tiÕng thó” nghe l¹i cµng nhá. Vµ h¬n thÕ n÷a, kh«ng nh÷ng ung dung tù tin, ngư­êi chiÕn sÜ cßn t×m ®ư­îc nh÷ng niÒm vui Êm ¸p. Anh kh«ng bá qua mét ®µn b­ư¬m b­ưím trªn lÌn ®¸, mét c©u hß trong ®ªm bèc v¸c rén rµng. BiÕt tiÕng h¸t trong rõng “nhÞp víi ph¸ch xem chõng sai c¶” anh vÉn l¾ng nghe. Mét t×nh thư­¬ng mÕn bao trïm.

Thư­¬ng em, thư­¬ng em, thư­¬ng em biÕt mÊy.

Trong nh÷ng bµi Göi em, c« thanh niªn xung phong Khi em qua ®Ìo, Nghe em h¸t trong rõng, t×nh c¶m gi÷a anh bé ®éi vµ c« thanh niªn xung phong, ®­ưîc biÓu hiÖn thËt tù nhiªn mµ thÊm thÝa.

TÊt c¶ nh÷ng t©m t×nh chiÕn sÜ Êy lµ rÊt phæ biÕn, như­ng l¹i mang mét d¸ng vÎ riªng cña Ph¹m TiÕn DuËt. Anh hãm hØnh nghÞch ngîm mµ ®«n hËu th­ư¬ng yªu. Anh dÔ dµng sao trong viÖc lµm th©n trß chuyÖn víi mäi ng­ưêi! Vµ kh«ng chØ cã vui, anh cßn cã dông ý muèn mang tíi chóng ta nh÷ng suy nghÜ kh¸i qu¸t. VÒ mÆt nµy, bµi th¬ dùng c¶nh VÇng tr¨ng quÇng löa kh¸ tiªu biÓu. Trong ¸nh chíp nho¸ng nhoµng cña bom ®¹n, tiÕng h¸t vÉn cÊt lªn, mäi dÊu hiÖu cña sù sèng vÉn n¶y në. “Vµ vÇng tr¨ng, vÇng tr¨ng ®Êt n­ưíc – vót qua quÇng löa vôt lªn cao” – như­ lµ cã mét tho¸ng tư­îng tr­ưng, nöa thùc nöa hư­, vÒ ®Êt nư­íc, vÒ chiÕn th¾ng nh­ư cïng trë vÒ trong ta. Søc thuyÕt phôc cña bµi th¬ lµ ë c¶ mét kh«ng khÝ ®­ưîc gîi lªn kh¸ trän vÑn.

Kh«ng ph¶i ngÉu nhiªn, trong nh÷ng n¨m chèng Mü, th¬ Ph¹m TiÕn DuËt th­ưêng ®­ưîc mäi ng­ưêi nh¾c nhë. §ã lµ mét tiÕng nãi trÎ, thø tiÕng nãi míi trong th¬. Anh chän ®­ưîc t×nh thÕ ®¸ng nãi. Anh biÕt nãi mét c¸ch ®Æc biÖt, thư­êng l­ưít qua nh÷ng chç lÆt vÆt, giµnh bÊt ngê cho c¸i chèt chÝnh, c¸i kÝp næ cña bµi th¬. §äc th¬ anh, dÔ cã nh÷ng tho¸ng giËt m×nh: sao cã nh÷ng ®iÓm thi vÞ thÕ nµy mµ kh«ng ai nh×n ra! Trong lóc say th¬ , nhµ th¬ nµy ®«i khi ra khái mét sè khu«n s¸o th«ng th­ưêng. VÒ mÆt giäng ®iÖu, nÕu xư­a nay th¬ cña nhiÒu ng­ưêi như­ mét tiÕng h¸t, th× Ph¹m TiÕn DuËt lµm c¸ch kh¸c: Anh muèn trß chuyÖn víi ng­ưêi ®äc. Anh lu«n lu«n ®i bªn c¹nh ta, th× thÇm víi ta ®iÒu kia ®iÒu nä. C¸ch viÕt nµy mang l¹i cho t¸c gi¶ mét lèi ®i riªng, hîp víi søc viÕt ®ang ®é khoÎ. C¸i tµi hoa, c¸i khÐo lÐo tay nghÒ, lµ t­¬ng øng víi c¸ch c¶m, c¸ch nghÜ cña anh vµ hai mÆt ®ã g¾n bã lµm thµnh mét phong c¸ch thèng nhÊt. T¹i sao l¹i n¶y sinh vµ tån t¹i phong c¸ch ®ã? Tõ nh÷ng n¨m chèng Mü, trong bé ®éi ta ®· h×nh thµnh mét líp chiÕn sÜ míi, víi c¸ch sèng, c¸ch chiÕn ®Êu míi, d¸ng dÊp t©m lý míi, cã phÇn kÕ thõa mµ cã phÇn ph¸t triÓn so víi c¸c thÕ hÖ cha anh. Hä vÉn ®äc nh÷ng bµi th¬ cña c¸c nhµ th¬ líp tr­ưíc. Nh­ưng hä cÇn cã tiÕng nãi cña m×nh trong v¨n häc. Th¬ Ph¹m TiÕn DuËt lµ mét trong nh÷ng tiÕng nãi ®ã.

Cã ®iÒu kh«ng nªn c­ưêng ®iÖu, coi th¬ Ph¹m TiÕn DuËt lµ mét mÉu mùc, h¬n n÷a, mét mÉu mùc duy nhÊt cho tiÕng th¬ cña c¶ thÕ hÖ cïng tuæi víi anh. Chç yÕu trong th¬ Ph¹m TiÕn DuËt lµ bÒ ngoµi bao qu¸t ®ư­îc mét hiÖn thùc nhiÒu mÇu s¾c, song vÉn cã c¸i vÎ ®¬n ®iÖu cña nã. §©y ®ã, mét vµi bµi th¬ d­ưêng nh­ư chØ kh¸c nhau vÒ ®Ò tµi, vÒ khung c¶nh, vÒ c¸ch nãi, mµ ý tø th× lÆp l¹i. Thùc tÕ lín lao qu¸! Cã lóc, t¸c gi¶ nh­ư bÞ ngîp: Anh chØ kÞp lµm nh÷ng ®o¹n “èng kÝnh chôp nhanh” mµ chư­a cã sù c¶m thô vµ chuyÓn ho¸ s©u s¾c. Thư­êng khi anh ch¹y theo nh÷ng thay ®æi ë bÒ ngoµi khung c¶nh mµ quªn l¾ng nghe ®óng møc vÒ nh÷ng ph¶n ¸nh, nh÷ng vang väng cña mäi thay ®æi ®ã trong lßng, ®Ó sù kiÖn cã dÞp hoµ cïng nhÞp ®iÖu víi lßng m×nh. Còng như­ nhiÒu ngư­êi viÕt trÎ kh¸c, mét sè kh¸i qu¸t ë Ph¹m TiÕn DuËt hoÆc kh«ng s¸ng râ, hoÆc r¬i vµo chç ®¬n gi¶n, s¬ l­îc. NiÒm vui mµ anh gîi lªn cã phÇn dÔ dµng, nh­ưng l¹i chư­a thËt s©u l¾ng. “Say miÒn ®Êt l¹”, anh ®©m ra sa ®µ vµo nh÷ng c¸i ngå ngé, kú l¹, råi tù b»ng lßng, cư­êi ®ïa vui vÎ mµ kh«ng thÊy hÕt nh÷ng c¸i míi c¬ b¶n trong khung c¶nh vµ trong lßng ng­ưêi. Trong ®êi sèng còng nh­ư trong v¨n häc, kinh nghiÖm cho biÕt ch­ưa bao giê nh÷ng c¸i ngå ngé ®ã cã kh¶ n¨ng biÓu hiÖn nh÷ng ®iÒu quan träng nhÊt trong ®êi sèng tinh thÇn con ngư­êi . Còng nh­ư vÒ mÆt c¸ch viÕt, khi nµo cè lµm ra vÎ ®¬n gi¶n Ph¹m TiÕn DuËt l¹i r¬i vµo mét sù s¾p xÕp, thµnh ra mét thø s¸o míi, muèn lµm duyªn h¬n lµ cã duyªn thËt sù.

Ph¹m TiÕn DuËt lµ ngư­êi cã b¶n s¾c m¹nh mÏ, b¶n s¾c kh«ng gièng ai, nªn rÊt khã thay ®æi. Mµ cã thay ®æi, th× vÉn lµ ®æi míi trong cung c¸ch cña m×nh. Nh­ưng cã ®iÒu ch¾c ch¾n: ngay trong chiÕn tranh nã ®· lµ mét kÝch thÝch tèt cho nh÷ng tiÕng nãi b»ng th¬ kh¸c ®ang tiÒm tµng trong líp ng­ưêi trÎ tuæi ®ang cÇm sóng .

VẪN ÔNG DẾ MÈN ẤY

Tô Hoài vừa cho tập hợp các tản văn phiếm luận sổ tay viết cho các báo dăm năm nay thành một tập sách mang tên Giấc mộng ông thợ dìu (nxb Hội nhà văn và Cty Phương Nam liên kết xuất bản)

Hồi cùng với Nam Cao viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Tô Hoài đã có lối làm hàng chăm chỉ, bận việc gì đi nữa vẫn lo bán bài đều đều cho báo. Sau này cũng vậy, ngoài viết tiểu thuyết và công tác xã hội, hễ nhận viết báo là như ngồi trước khung cửi, có khi một ngày guồng được vài bài — nói chuyện với tôi, ông thú nhận, có vẻ như hơi buồn cười trước một cái tật của mình.
Khoảng 1992, tôi giữ chân phụ việc cho ông trong một chương trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Lúc ấy, Cát bụi chân ai vừa in năm trước và đang tái bản thêm nhiều lần, một hôm ông bảo :
— Tôi lại vừa đóng một tập giấy mới. Từ mai bắt đầu viết. Kể toàn chuyện đi thực tế sau Nhân văn, với lại chuyện làm tổ trưởng dân phố Hà Nội hồi chống Mỹ, rồi chuyện đi nước ngoài cả Nga la tư lẫn Ấn Độ, Ai Cập, đủ hết. Đặt tên là Những câu chuyện với ông Sóng.
Sau này, khi in ra, cuốn sách mang cái tên Chiều chiều. Đúng như ông tự nhận, khác với Cát bụi chân ai, tập trung kể về Nguyễn Tuân, Chiều chiều lan man đủ thứ, vậy mà vẫn tạo một ấn tượng thống nhất về một cuộc sống lam nham dang dở. Thừa thắng xông lên, tôi gạ :
— Thả nào anh cũng phải làm một cuốn, viết từ thời đổi mới đến nay
— Thời này mình già, có đi đâu mà biết.
— Anh cứ kể những chuyện người ta đồn đến tai anh rồi anh nghĩ lại ra sao, thế cũng đủ hay rồi.
Tô Hoài không nói gì tiếp. Tôi chỉ biết chắc là ông vẫn viết, và với con người này thì giữa chuyện đời sống và chuyện văn chương thường không có gì phân biệt, ở đâu thì cũng một cốt cách ấy, thiêng liêng có mà nhăng nhít ngơ ngẩn cái gì cũng đều có cả.
Giấc mộng ông thợ dìu đánh dấu sự có mặt của ngòi bút Tô Hoài, cái nhìn Tô Hoài trong ngày hôm nay. Tác phẩm gồm phần lớn các bài viết vặt đã in trên tờ Người Hà Nội và một số báo khác. Một thứ Chuyện mới tiếp vào Chuyện cũ Hà Nội sáu bảy trăm trang hồi trước.
Hôm bắt tay vào biên tập, mới cầm bản thảo, tôi đã định kêu lên, sao lại thợ dìu, chắc thợ mộc đây, vậy thì viết thợ rìu mới đúng, vẫn cái tính ẩu của ông già đây mà. Bởi bản thảo Tô Hoài thường không thiếu lỗi chính tả nên tôi nghĩ liều như vậy.
May quá trước khi thò bút chữa, tôi đọc lại bài viết. Thì ra thợ dìu đây là các vũ sư nghiệp dư chuyên đi dạy nhảy đầm ở các lớp khiêu vũ hiện nay.
Trong một bài phỏng vấn gần đây trên TT&VH, nhà văn già gần chín mươi vui vẻ khoe là chữ nghĩa của mình còn mới lắm, mình còn nhặt được khối chữ chỉ vừa xuất hiện trong đời sống hôm nay. Mà còn chữ mới nghĩa là còn cảm nhận được cuộc sống mới.
Chữ thợ dìu thuộc loại mà ông tự hào.
Tôi ghi lại đây những gì mà Tô Hoài viết trong Giấc mộng ông thợ dìu :Những nếp sống có từ ngày xưa nay phôi pha hoặc biến dạng như chơi chim, chơi dế, đi hội. Một số thú chơi mới xuất hiện. Cảnh dô dô bốp bốp ngoài quán. Sự nẩy nở nhiều như kiến của cò đểu trong mọi mặt sinh hoạt. Cảm giác hoang vắng trong một ngày cuối năm ở Bờ Hồ. Cảnh người Việt di tản nay từ hải ngoại trở về trong các gia đình. Nạn dân ném đá lên đường tàu. Cái túi ny lông và việc phá hoại môi trường…
Lịch lãm và lẩn mẩn. Tinh tế và vơ véo nhặt nhạnh. Vui đấy rồi buồn ngay đấy. Yêu thích sống trong nền nếp và chán chường trước những nền nếp trì trệ. Trân trọng quá khứ và biết rằng nhiều khi quá khứ chỉ đáng quên đi. Ham hố phiêu lưu thay đổi và không bao giờ ngạc nhiên trước mọi tàn lụi hư hỏng. Chăm chú quan sát mọi sự đang xảy ra và giữ cho lòng mình một sự dửng dưng dài dài …Bấy nhiêu sắc thái cùng lúc có ở văn xuôi Tô Hoài, làm chứng cho sự có mặt của nhà văn giữa đời thường. Dường như cái gì với ông cũng mới mẻ sinh động mà lại chẳng có gì lạ, xưa đã vậy và nay còn như vậy.
Nếu bạn còn đang phân vân không biết có nên đọc cuốn sách này của Tô Hoài không, tôi muốn bạn hãy bắt đầu bằng mấy mẩu ông viết về hội làng. Chung quanh cái sinh hoạt văn hóa mà người ta thường ai cũng tự hào này, có những điều mà ngoài Tô Hoài chẳng ai dám nói. Ông kể rằng vùng ông xưa nay nhiều hội, nhưng toàn hội nhạt như nước ốc. Khá nhất có hội làng Đông thì cũng là dịp để các họ tranh chấp, trai gái đi hội để khoe khoang mấy thứ mốt mới học đòi và những cậu choai choai nhâng nháo chim gái hoặc đánh nhau. Chính làng ông ở xưa nay đâu có hội, chỉ toàn đi xem nhờ thiên hạ. Làng mỗi năm vào đám một lần, nhưng cũng sơ sài tạm bợ, có năm mất trộm áo thánh “phải lấy vạt cờ đuôi nheo trùm lên ngai làm áo khoác cho thánh”. Xưa những gánh chèo mời về đám cũng toàn là phường kiết xác, mấy bác kép vừa hát xong chạy vội vào hậu trường, rệp rơi lả tả từ miếng gỗ làm chỗ cắm cờ đeo sau lưng. Nay việc làng do mấy anh cán bộ đi khắp thiên hạ về khởi xướng thì cũng chẳng khá hơn.Toàn thợ tế đi thuê ở các làng bên cạnh. Còn ông chủ tế thì chữ nho bẻ làm đôi không biết, đến thánh hoàng làng tên gì cũng không biết nốt.

MỘT CÁCH SỐNG TRONG TUỔI GIÀ

Cho đến những năm ngoài 70 tuổi, Tô Hoài vẫn giữ nhiều trọng trách bên Hội Văn nghệ Hà Nội trong đó có việc làm báo. Có người thắc mắc, đến tuổi nên về hưu, nhường chỗ cho người khác thì phải. Nhưng có đến mấy lần, ông đã sắp sửa thôi thì lại có việc phải tạm cáng đáng. Xưa nay, ông vẫn vừa lo công tác vừa viết đều đều ra thành được chấp thuận lại làm, ai nói thế nào cũng không để ý.
Nhưng bây giờ thì Tô Hoài về hưu thật rồi. Hôm qua, còn ở Đoàn Nhữ Hài, đi bộ vài bước là đến cơ quan của Hội Nhà Văn, hoặc có lên Hội Văn nghệ Hà Nội cũng không xa là bao. Nay ông sinh hoạt tổ hưu tận trên Nghĩa Tân, đúng là một chỗ khuất nẻo. Thỉnh thoảng gặp lại, nhận ra nơi ông khuôn mặt của một người già thực sự, da nhiều chỗ mồi, đuôi mắt nhăn nheo, con mắt lờ đờ hơn xưa , chúng tôi bảo nhau thế là tuổi tác đã thắng, dù người ta có là Tô Hoài đi nữa, thì cũng phải già, và sở dĩ ông làm cho người ta chưa quên ngay được chỉ là vì có cách sống riêng trong tuổi già của mình.
Một hai năm gần đây, gặp cô Sông Thao, tôi thường nghe cô kể:
– Bố em vẫn cứ thích ngồi vào bàn cả ngày. Chỉ thỉnh thoảng đứng lên, vặn lưng vài cái, rồi lại hí hoáy viết như thường.
Làm chứng cho nhận xét ấy của cô con gái, là vố số những bài báo mà Tô Hoài vẫn viết, là những quyển sách được bày bán đều đều ở các hiệu sách, trong đó không chỉ có những cuốn in lại, mà còn cả nhiều cuốn mới viết. Và đây, một chuyện vặt: Có lần, nhân đọc một tiểu thuyết của nhà văn X., Tô Hoài có viết một bài điểm sách ngắn cho báo Người Hà Nội, độ trên ngàn chữ. Bây giờ thì báo ra nhiều quá, chả ai đọc xuể, nên X. không biết, đến lúc được Tô Hoài báo là có viết thì đã quá muộn, tìm không ra số báo cũ, liền gọi điện than thở. Mấy hôm sau X., nhận được một lá thư. Phong bì là thứ đã dùng, nay lộn trái, dùng một lần nữa. Và bên trong là bài điểm sách nọ, được Tô Hoài chép lại bằng thứ chữ đều đều vốn có. Nghe chuyện hẳn đám thanh niên lắc đầu, các bố già lắm thời gian rỗi thật, không đi photo mà còn ngồi chép lại bài tặng nhau nữa, rõ thật tội! Nhưng những người có quen riêng tác giả Dế mèn …. đều thừa biết rằng không phải về già, những sự tỉ mỉ như thế mới đến với Tô Hoài. Mà từ trẻ, ông đã là người tảo tần làm ăn, thượng vàng hạ cám thấy việc gì cần đều đứng ra làm, không để chân tay rỗi rãi bao giờ.
Có thể nói, ở phương diện làm nghề, nhà văn này già từ rất sớm, và bây giờ không thể già hơn được nữa.
Muốn xem xem tuổi già đã mang lại cho ông cái gì mới, và ông đã chung sống với nó như thế nào, người ta phải tìm ở chỗ khác.
Năm 1987, Nguyễn Tuân qua đời thì năm sau, Tô Hoài nói với tôi, lúc đó đang làm xuất bản bên Moskva :
– Mình cũng muốn viết về cụ Tuân nhưng không phải theo lối kính bút người ta vẫn viết. Mà chỉ muốn nói về ông, vốn như ông ấy vẫn sống.
Qua năm 1992, cuốn sách về Nguyễn Tuân (mà cũng là về chính Tô Hoài) ra đời trong sự chào đón của cả người trong nghề lẫn đông đảo bạn đọc. Từ nay nếu cần kể thật ngắn gọn về nhà văn mà họ yêu thích, họ sẽ bảo ông không chỉ có Dế mèn phiêu lưu ký mà còn có Cát bụi, chân ai.
Có thể nói Cát bụi, chân ai đã phát hiện ra một Tô Hoài mới: Tô Hoài của hồi ký. Thoạt nghe tưởng đó là một việc dễ ợt, hễ ai sống nhiều mà chịu khó ngồi viết một tí, làm gì chẳng ra được một cuốn “nhớ lại và suy nghĩ” tàm tạm đọc được. Nhưng có vào cuộc mới thấy công việc hóc hơn nhiều. Cả Nguyễn Tuân lẫn Xuân Diệu, hai ông kễnh đó trong giới, những năm cuối đời, người nào cũng để tâm chăm lo tới vị trí của mình trong lịch sử văn học, nhưng có người nào viết được hồi ký? Lý do thật đơn giản: Viết hồi ký để tự ca công tụng đức khoe tài, khoe giỏi chẳng nói làm gì. Chứ viết hồi ký theo đúng nghĩa của nó phiền phức lắm. Nói như Aragon “tôi lật con bài của tôi”, tôi bộc lộ cái phần lâu nay vẫn ẩn kín trong tôi cho mọi người xem, phải giàu có mà dũng cảm lắm mới làm nổi! Nói trộm vía, một người về già còn thích tự ngắm mình như cụ Nguyễn và một người sắp bảy mươi rồi, còn nhuộm tóc và thích đua với thiên hạ trong việc viết nhiều viết khỏe như tác giả Thơ thơ, làm sao viết hồi ký được?! Thế cho nên, cái việc tưởng trong tầm tay của mọi người, lại chỉ có ít người làm đến nơi đến chốn, trong đó có Tô Hoài. Ông viết hồi ký, không phải chỉ vì có một trí nhớ tốt, mà cái chính là từ lâu, sẵn có những mảng ký ức chưa khai thác, tưởng như trong ông đã cùng tồn tại những con người khác nhau, việc viết văn xưa nay mới chỉ động đến một cách nhìn một cách nghĩ, nay còn những cách nhìn cách nghĩ khác, nên trình ra cho mọi người cùng biết. Hồi ký như vậy, là một cách bổ sung cho những gì nhà văn đã viết. Chẳng những Tô Hoài không “kính viết” về Nguyễn Tuân mà với một người như Vũ Bằng, ông cũng có một thái độ tương tự. Một mặt, ông ân cần ghi ơn dìu dắt của Vũ Bằng. Mặt khác, ông không quên chỉ ra cho mọi người thấy ở Vũ Bằng một cách sống cách viết quậy phá, bạt tử, nó đã hủy hoại một phần khả năng và khát vọng của tác giả. Với Nguyễn Văn Bổng, một người bạn thân, hay với Trọng Hứa, một cây bút mà bóng dáng chỉ hiện ra thấp thoáng trong đời sống văn nghệ, Tô Hoài đều có sự công bằng và tình nghĩa, nó khiến cho qua chân dung người được ông nói tới, bạn đọc nhận ra được cái không khí thực trong sinh hoạt của những người làm nghề một thời.
Bên cạnh những ông già ốm yếu, yên tâm nghỉ ngơi thì trong giới cầm bút thời nay lại thấy có người dù cao tuổi song vẫn tỏ ra năng động lăn lộn để viết và mải miết viết, mặc dù nhìn kỹ thì những điều họ viết chỉ là nối dài của những cái đã in ra từ trước. Tô Hoài khi về già trẻ theo nghĩa khác. Ông làm lại một phần hình ảnh của mình trong lòng đồng nghiệp và bạn đọc. Với những người muốn hiểu lại lịch sử văn học, ông như một thứ từ điển, hỏi đâu biết đấy, và bao giờ cũng có ý kiến riêng.
Bởi vậy, những khi có dịp gặp ông, tôi thường tỏ ý mong muốn Tô Hoài tiếp tục công việc của mình (trong lúc trò chuyện, tôi vẫn thường gọi ông già 80 tuổi này bằng anh):
– Còn bao nhiêu người anh đã gặp gỡ, người nào mà chẳng bao nhiêu kỷ niệm, xem ra anh có thể làm hẳn một bộ chân dung những người cùng thời.
Tô Hoài chỉ thủng thẳng đáp:
– Ấy, có những người cùng làm việc cả đời, nhưng chả thấy thân thiết, xong việc là quên ngay, đến tên tuổi mình cũng không muốn nhắc đến nữa thì viết gì?
Hình như Tô Hoài muốn lẩn, muốn giữ cho mình những bí mật riêng? Mà lại hình như Tô Hoài nói thật? Mặc dù có cả chục năm cùng làm việc với Tô Hoài, nhưng thú thực, tôi vẫn không dám nói là mình biết kỹ về ông già này, thậm chí đôi khi tôi còn thoáng có ý nghĩ chính ông cũng không biết ông là như thế nào, luôn luôn ông có thể thế này và có thể thế khác. Song có lẽ vì thế mà ông có sức hấp dẫn lạ lùng. Chỉ một điều có thể cầm chắc, ấy là Tô Hoài còn đang làm việc và luôn biết dành cho đồng nghiệp và bạn đọc những bất ngờ. Một sức khoẻ dẻo dai trời phú, nhất là một cách nghĩ phóng túng , thích ứng với hoàn cảnh một cách tự nhiên, mà vẫn giữ được cho mình những phần riêng tư – nhiều khi đó chính là một cách nghĩ tự do không chịu khuôn hẳn theo nền nếp nào – tất cả những cái đó bảo đảm cho Tô Hoài lung linh ẩn hiện trong đời sống văn chương và nếu như hôm nay mọi người vẫn thường nhắc đến ông, thì điều đó trước tiên là một may mắn cho chính chúng ta.

MUÔN MẶT NGHỀ VĂN

Trong hoàn cảnh nghề viết văn ở ta còn mang nhiều tính cách nghiệp dư, tự phát, Tô Hoài có lẽ là một trong số ít ỏi các cây bút đã sống với nghề bằng tất cả sự chăm chút, sự tận tụy của một người làm nghề chuyên nghiệp.
Nhớ ngày nào liễu mới ngâm
Le te bên vũng độ tầm ngang vai
Chợt đâu bóng cả cành dài
Đã sương đã khói đã vài năm nay
Mấy câu thơ đó, trích trong Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, do Tô Hoài phát hiện. Trong cuốn Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1960) khi kể lại kinh nghiệm tìm chữ, học chữ của mình, ông đã đưa ra để giảng giải về vẻ đẹp và sự giàu có của tiếng Việt.
Tô Hoài là thế: trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại, ít ai như ông, lúc này còn thường nói tới truyện nôm thế kỷ XVII-XVIII. Vả chăng, câu chuyện không phải chỉ là chữ nghĩa. Trong nhiều thiên truyện viết hồi tiền chiến, Tô Hoài không giấu giếm một sự thật là trước khi viết, ông đã nghiền ngẫm rất kỹ những Kiều, Nhị độ mai, Phan Trần … Và người ta có cảm tưởng việc anh thợ cửi 20 tuổi ở làng Nghĩa Đô này viết văn chẳng qua cũng chỉ là tiếp tục công việc của bao nhiêu chàng trai thợ cửi tài hoa khác, như anh chàng Hời trong Quê người thường tập Kiều, lẩy Kiều để làm duyên với những cô Mơ, cô Hẹn, cô Lụa trong làng. Văn chương nảy nở tự nhiên như thể nó bắt rễ ngay vào cuộc sống, ở đâu có con người với những vui buồn ao ước thiết tha chìm nổi của mình, ở đó có văn chương.
***
Nỗi ham đi, ham biết là một bản tính bền vững ở Tô Hoài. Trong các tài liệu hướng dẫn công việc các nhà văn trẻ, tác giả Dế mèn phiêu lưu ký vẫn được nêu gươngn như một nhà văn thường xuyên lăn lộn với thực tế.
Nhưng trong bước chuyển từ cái nền của năng khiếu tự phát sang hoạt động đa dạng của một nhà văn hiện đại, còn nhiều việc khác phải làm, và thực tế đã được Tô Hoài làm một cách tự nhiên “ngon lành”. Một loại phiêu lưu đã diễn ra thường xuyên: phiêu lưu trong sách vở. Đến với Vũ Ngọc Phan để nhờ hướng dẫn cách xin thẻ thư viện, Tô Hoài đã được làm quen với tủ sách của Vũ gia trang. Nhớ tới Vũ Bằng, là nhớ tới cuốn sách đã được nhà văn này cho mượn và chuyền tay đọc suốt mấy đêm, cuốn Phố Mèo câu cá của J. Foldes, nhà văn Hungari. Biết rằng những ngày này ở tuổi bảy mươi, Tô Hoài còn rất thích Alberto Moravia và thường vẫn được một người bạn ở Paris gửi tiểu thuyết của nhà văn này về tặng, người ta sẽ không ngạc nhiên với việc Tô Hoài kể là hồi nào vừa viết Dế mèn… Quê người, vừa kỳ cạch tập dịch Maupassant từ tiếng Pháp để học thêm, cũng như sách tiếng Việt thượng vàng hạ cám gì ông cũng đọc và ngán mấy cũng không bỏ dở. Tô Hoài cắt nghĩa: đơn giản, đó là thói quen của người tự học. Nhưng ở cái nghề kỳ lạ này, có ai không phải thường xuyên và miệt mài tự học, nếu muốn là người tự trọng?!
Nhà thơ Tế Hanh nói trong buổi họp mặt mừng Tô Hoài 70 tuổi:
– Có những người như Picasso sinh ra để vẽ. Ở một mức độ nào đó, cũng có thể nói Tô Hoài sinh ra để viết. Cứ có cái bút và tập giấy trong tay là Tô Hoài phải viết.
Tiếp lời Tế Hanh, có thể nói tới mấy khía cạnh khác làm nên tính cách chuyên nghiệp của ngòi bút Tô Hoài:
– Viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn, viết báo, viết tin và bình luận văn học, từ A đến Z. Việc gì cũng làm.
– Tận dụng cái hướng đã mở, thường có ý thức tạo nên những “khu vực thâm canh” của ngòi bút: viết về ngoại thành, viết về thiếu nhi, viết về loài vật, viết về miền núi.
– Khi cần, ngòi bút ấy có thể “guồng” rất nhanh, một tối xong một truyện ngắn. Nói chung đã định viết là viết được.
– Tuy nhiên cũng hơn ai hết, đấy là người thấu hiểu cả những đen bạc, những thách thức của nghề, và sẵn sàng chấp nhận chúng. Mới đây thôi, trong Hội nghị những người viết văn trẻ 4-1994, có một câu chuyện Tô Hoài kể làm anh em tham dự hội nghị thấy ông, một nhà văn lão thành, vẫn rất gần gũi với chính mình. Đó là câu chuyện chung quanh một vài bản thảo của Tô Hoài mới viết gần đây: Truyện ngắn này quăng đi quăng lại trên bàn biên tập mấy tờ báo mà chưa được đăng; chùm bài điểm sách kia bị trả lại, thôi thì đành tự nhủ là mình vô duyên với báo; và cuốn tiểu thuyết kia nữa, viết ra đã mấy năm vẫn xếp xó, nhà xuất bản bảo còn phải chờ, có cơ hội thuận tiện mới tung ra được… Những nóng lạnh như vậy, ai người làm nghề đều có trải qua, và Tô Hoài không phải là một ngoại lệ, con người ở tuổi thất thập cổ lai hi ấy đôi khi cũng chẳng được ưu tiên chút gì. Song chính ra điều đó lại làm cho ông càng trở nên khôn ngoan, thành thạo, và trang viết của ông vẫn gần gũi với cuộc đời này, cái cuộc đời vất vả nhưng nếu biết sống, nhẩn nha thanh thản mà sống, thì vẫn là đầy hấp dẫn. Nó không cho ai hơn mà cũng chẳng bớt phần của ai cả!
***
Trong các tự truyện, Tô Hoài đã thường nói tới cái cảm giác lớn nhất chi phối ông lúc vào nghề: trước tiên, đó là công việc để duy trì sự sống. Từ góc độ một thanh niên đang lay lắt kiếm sống, ông thấy việc viết lách của mình lúc ấy chẳng khác việc đi giữ chân bán hàng cho hãng Bata, nghĩa là cũng phải nghiêm túc cần mẫn thì mới sống nổi.
Cái nhìn ấy còn theo đuổi ông mãi trong nhiều năm về sau.
Nhưng nếu văn chương chỉ có chuyện bán bản thảo và nhận tiền thì còn gì buồn hơn! Đến “ông lớn” một thời như Lê Văn Trương có lúc còn thấy nó vô nghĩa nữa là bao nhiêu kẻ mặt trắng thư sinh khác! May thay với Tô Hoài, và qua Tô Hoài, chúng ta thấy: bên cạnh đồng tiền, nghề văn còn có một cái gì khác, sương khói mông lung mà vẫn là một nguồn sm vô hình mang lại cho người ta niềm tin và nghị lực. Cũng giống như chú Dế mèn rời xa tổ ấm để chu du thiên hạ, con người này đã đến với nghề văn để được nhìn rộng ra hơn cái làng của mình. Được lang thang chơi bời mà cũng là được thấm thía bao nhiêu bài học nghề nghiệp trong những chuyến giang hồ vặt. Được thuận chân miên man đi tận Huế, tận lục tỉnh Sài Gòn, để rồi lại trở về, nằm khàn nghe những lời tâm sự của ông bạn nghèo Nam Cao. Văn chương chẳng là gì cả, nhưng nó đủ sức mang lại cho kiếp người tẻ nhạt một chút ý nghĩa và trước sau, nếu biết để cả tâm hồn mình vào, thì đấy vẫn là một nghề giúp đời, một nghề lương thiện! Chẳng những thế, ở lớp người như Tô Hoài không chừng văn chương còn khiến người ta vững lòng trong những khốn khó để chân cứng đá mềm mà sống tiếp nữa. Thử tưởng tượng mấy năm 1947-1948, một lớp thanh niên – người trẻ nhất mới 25, 27; người cứng tuổi hơn một chút mới trên ba mươi – như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi…, theo tiếng gọi của cách mạng, kéo nhau lên tận Tây Bắc, Việt Bắc để họp hành, thảo luận, làm thơ, viết báo phục vụ cho cuộc kháng chiến thần thánh. Biết đâu trong những lý do khiến trí họ sáng lòng họ bền, chả có văn chương? Với thói quen sống, quan sát, ghi chép đều đặn, Tô Hoài đã vừa công tác vừa tìm hiểu quan sát cuộc sống giản dị của những bản Dao ở Bắc Cạn, của đồng bào Thái, Mường ở Nghĩa Lộ, ở Văn Yên… Và thế là lúc nào đó những Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn, Cứu đất cứu mường … lại được viết ra, vừa mang đến cho mọi người trang sách bổ ích, vừa giúp cho tác giả những đầm ấm tin yêu. Trong trường hợp như thế, nghề văn đã là cả nguồn sống của một đời người và đây có lẽ là thứ ân sủng nghề nghiệp mà chỉ những ai hết lòng với nó mới được tận hưởng.

CUỘC PHIÊU LƯU GIỮA TRẦN AI CÁT BỤI

CUỘC PHIÊU LƯU GIỮA TRẦN AI CÁT BỤI

Với nhiều truyện ngắn đăng ở Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan hoặc Mê gái đăng ở tờ Chủ nhật của nhóm Tự lực văn đoàn, có thể coi Tô Hoài chính thức có mặt trên văn đàn từ 1940 . Vừa vào nghề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề – một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong tẻ nhạt — đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận.
Năm và năm mươi
Ít ra 55 năm liên tục làm nghề của Tô Hoài, người ta có thể nhận ra hai giai đoạn.
Một là 5 năm lập nghiệp đầu tiên, từ những ngày bơ vơ không biết làm gì cứ viết liều và gửi ào đi các báo rồi bắt đầu nhận được những đồng nhuận bút đầu tiên… tới những ngày được các ông chủ hợp đồng đặt hàng, viết đến đâu bán hết đến đấy, nên có đồng ra đồng vào đủ sống và “giang hồ vặt”, dông dài với những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
Hai là 50 năm gần đây, khi giữ chân phóng viên ở Nam Trung bộ, khi cùng với Xuân Thủy, Nam Cao, Trần Đình Thọ lo làm báo Cứu quốc dưới chân núi Phia Boóc (Hoa Sơn), khi được kéo về phụ trách nhiều mặt công tác khác nhau ở Hội Văn nghệ, rồi Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu chỉ tính 5 năm trước đã bao nhiêu trầm luân chìm nổi thì sang cái thời gian 5 năm mười lần hơn lên về sau, vui buồn sướng khổ nguồn cơn còn kể đến đâu là cùng!
Hãy thử nhớ lại những khó khăn khúc mắc như thế nào đã đến với những kiện tướng của nền văn học cũ như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ… khi xử lý đề tài mới, nhân vật mới, người ta mới thấy những thành tựu của những người trẻ hơn Tô Hoài, Chế Lan Viên, Tế Hanh… là tự nhiên, nhưng cũng thật là đáng quý. Riêng Tô Hoài thì gần như không bao giờ im lặng quá lâu, mà thời nào cũng có tác phẩm được nhắc nhở. Điều gì đã xảy ra ở đây? Phải nhận Tô Hoài có sự thích ứng cao, có sự bền bỉ dẻo dai, rất tự nhiên, mà không phải ai cũng có.
Cuộc sống quanh mình
Nhớ lại những ngày mới tập viết, Tô Hoài kể: lúc ấy đọc sách Nhất Linh, Khái Hưng viết thì cũng thích lắm, nhưng tự xét mình không thuộc cuộc sống như họ, nên không thể viết như họ.
Cách nói ý nhị, tưởng như một lời tự thú khiêm tốn về sự bất lực của mình. Nhưng thật ra ở đó, ngầm chứa một thứ tuyên ngôn nghệ thuật: ngòi bút này dựa trên sự quan sát thực tế chung quanh và sống đến đâu, viết đến đó, viết ngay về những gì từng biết từng trải quanh mình.
Có thể bảo một thứ tuyên ngôn như thế quá thông thường, không đủ làm ai giật mình, mà lại cũ nữa. Nhưng nó thích hợp với cá tính Tô Hoài, thói quen ham nghe ham biết, hóm hỉnh hiền lành của Tô Hoài lúc ấy, cũng như những chăm chỉ dùi mài nghề nghiệp những năm về sau. Cuộc sống vốn không chỉ có cái phần dồn dập sôi nổi bên trên mà còn có cái phần chậm chạp từ tốn, đôi khi uể oải ngưng trệ, song thật ra là những chuyển động chắc chắn, ở tận đáy sâu. Được khích lệ bởi không khí thời đại, một số người chọn lối viết “đặt vấn đề” dồn hết tâm lực vào việc nắm bắt những cuộc đấu tranh tư tưởng, và quả thật có mang lại cho các trang sách một sinh khí mới. Không phải là Tô Hoài đứng ngoài chuyện đó, ông có biết và đã để tâm đưa vào sáng tác cái không khí sôi sục của đời sống. Nhưng ông vẫn thấy tạng của mình là viết về cái mạch ẩn chìm kia hơn và lặng lẽ làm cuộc phiêu lưu đơn độc. Có một hồi ngòi bút Tô Hoài đã hứng chịu nhiều chê bai, nào là chỉ thích ngắm nhìn, nào là chỉ giỏi phong tục… Nhưng thời gian lại có sự sàng lọc riêng của nó, gần đây một số cuốn tiểu thuyết, nhiều truyện ngắn đậm chất phong tục của tác giả, đã được in lại, âu cũng là bằng chứng về sự công bằng của bạn đọc. Một người khá thâm trầm là Tế Hanh có lần nhận xét “Đọc tập Truyện Tây Bắc, trong khi nhiều người chỉ nhớ Vợ chồng A Phủ thì tôi (tức Tế Hanh) lại rất thích Mường Giơn”. Không rõ liệu có nhiều người cùng chia sẻ nhận xét trên với Tế Hanh, song nếu có, cũng không có gì là lạ. Trong khi Vợ chồng A Phủ nói được cái sự thực lớn lao rằng thời đại ta, là thời đại của những sự quật khởi, những sự đổi đời, thì Mường Giơn lại là câu chuyện mà hình như thời nào cũng có, bởi thời nào mà cuộc sống chẳng bao gồm đủ cả những nồng nàn sôi nổi lẫn những cay đắng mất mát, và khi nghĩ lại về nó, nhất là về một cái gì sẽ tàn phai mà không sao cứu vãn nổi, bao giờ trong con người chẳng thoáng qua một cảm giác buồn buồn man mác.
Sáng tác không phải tất cả
So với các cây bút đương thời, Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu viết đến đấy. Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày. Ông lại có nhiều kinh nghiệm tổ chức công việc, nhờ thế, mọi khâu vận hành nhịp nhàng mà con người vẫn thoải mái có chơi có nghỉ như mọi người khác.
Nhưng đừng thấy thế mà bảo với nhà văn này, sáng tác là tất cả. Một nét đặc biệt cũng thấy rõ trong cuộc đời viết văn của Tô Hoài là ngoài nghề viết, ở ông luôn luôn có một cuộc sống khác, cuộc sống của người cán bộ chính trị hoặc nhìn rộng ra, cuộc sống nhà hoạt động xã hội. Trong 5 năm mới vào nghề, ông vẫn tiếp tục sinh hoạt trong các tổ chức cách mạng ở quê nhà như thời còn làm anh thợ cửi, đồng thời có chân trong khối Văn hóa cứu quốc mới được thành lập. Từ sau 1945, ngoài làm báo, làm xuất bản hoặc làm công tác đối ngoại, ông còn tham gia sinh hoạt tổ dân phố, các hoạt động của mặt trận, của tổ chức người già… nói chung là trăm thứ bà rằn linh tinh khác. Phải chăng đó chỉ là một động tác nghề nghiệp, nghĩa là làm thế để hiểu đời hiểu việc, có thêm tài liệu ngồi viết? Không khẳn! Đằng sau cái sự Tô Hoài việc gì cũng nhận, đâu cũng có mặt… còn bao hàm một nhận thức sâu xa hơn. Gần nửa thế kỷ sống trong chiến tranh, mảnh đất này lấy đâu ra chỗ cho những hoạt động văn chương thuần túy? Ở nước nào kia, còn có thể có hạng nghệ sĩ thu mình lại trong tháp ngà, ở ta, cái bàn viết của nhà văn nằm giữa cuộc đời. Sở dĩ Tô Hoài thành ra Tô Hoài như ngày nay mọi người nhìn nhận – với tất cả cái hay cái dở của một ngòi bút năng động – cũng là do một phương hướng sống đúng đắn mà ông theo đuổi, ngay từ khi còn rất trẻ.
Một cuộc đời dài dặc
Chỉ một ít dịp cùng đi công tác với Tô Hoài song tôi đã được nghe, được chứng kiến không biết bao lần bạn đọc nồng nhiệt đón chào ông. Tiếng reo hân hoan cất lên. Cái nhìn sững ra, tưởng không còn tin ở mắt mình nữa – bao giờ thì những người mê văn chương chả nhìn tác giả mà mình ngưỡng mộ bằng con mắt ngạc nhiên như vậy! Phần ông, Tô Hoài đáp lại thịnh tình của mọi người theo một cái cách hầu như đã thành quy tắc: trân trọng mà bình thản. Cho đến lần ấy, ở cửa sân bay Nội Bài, lại thêm tiếng reo một cô gái trẻ.
– A, bác Tô Hoài! Bác viết Dế mèn phiêu lưu ký đây mà! Hồi đi học cháu đã được đọc của bác rồi.
Tưởng cũng như mọi lần khác, Tô Hoài chỉ mủm mỉm cười đáp lễ rồi cho qua. Không ngờ lần ấy, đi được một quãng, một ý nghĩ bất thần chợt đến trong đầu, ông ghé vào tai nói nhỏ với bọn tôi:
– Không phải nó đọc mà là bố mẹ nó đọc, ông bà nó đọc ấy chứ!
Đến lượt chúng tôi sững sờ, không tin ở tai mình nữa, nhưng rồi nhanh chóng ai nấy hiểu ra mọi chuyện: không, cùng đi với chúng tôi không phải là một người bình thường mà là người đồng hành của hơn nửa thế kỷ văn học vừa qua, người đã mang lại vui buồn cho bao thế hệ bạn đọc. Tô Hoài, đó là văn chương tiền chiến, Tô Hoài, đó lại là đồng tác giả một đời sống văn học 50 năm sau cách mạng với hai cuộc chiến tranh và bao nhiêu thăng trầm thay đổi. Chỉ riêng cái việc người ta tồn tại được, ở giữa cái dòng đời cuồn cuộn sôi nổi này, đã là một chuyện đáng tự hào lắm!

CON MẮT TÔ HOÀI BÓNG DÁNG NGUYỄN TUÂN

Khi được mời viết hồi ký, không ít nhà văn ở ta thích trả lời: Khi nào già tôi sẽ viết. Nhưng trong phần lớn trường hợp, họ không giữ được lời hứa. Hoặc giả, theo nghĩa đen, không đủ sức thực hiện ý định. Hoặc giả theo nghĩa rộng, già cả, cũ kỹ đi, chỉ sợ người ta quên, nên khi viết ra sức tô vẽ cho mình. Những thiên tự thuật kiểu đó đánh mất đi gần hết giá trị chúng có thể có.
Về phần mình, Tô Hoài quan niệm hơi khác. Ông viết hồi ký từ khi còn rất trẻ. Cuốn Cỏ dại ra đời năm 1944 khi ông mới 24 tuổi.
Bước sang tuổi năm mươi, ông công bố Tự truyện (in báo từ 1971, in thành sách 1978, từ đó về sau nhiều lần tái bản ). Nay ở tuổi bảy mươi, ông lại có Cát bụi, chân ai. Sống đến đâu, viết đến đó – dường như ông muốn nói vậy. Và các cuốn hồi ký của ông chỉ tự nó trần trần đối diện với bạn đọc, người viết ra nó không cần nhân danh tuổi già, nhân danh năm tháng, kinh nghiệm để… “bắt nạt” ai cả.


Một cách nhìn, một cách viết

Thông thường ở ta hồi ký được hiểu là những cuốn sách người viết tự kể về đời mình. Có nói về những người khác cũng là nhân tiện mà nói, nói tạt ngang cho đậm câu chuyện. Hồi ký của Đặng Thai Mai hay Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan. Từ bến sông Thuơng của Anh Thơ hay Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng v.v đều chung một kiểu viết như vậy. Cho tới Tự truyện Tô Hoài cũng không ra ngoài thông lệ vốn có.
Chỉ tới Cát bụi, chân ai, nhà văn mới tạo cho thể tài một sự xô đẩy nho nhỏ. Khi còn trích in trên báo, người ta tưởng đây là loại hồi ký với nhiều chân dung liên tục xuất hiện, trong đó, mỗi người bạn từng đi lại thân quen với tác giả được ông dành riêng một chương: Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Xuân Diệu. Nhưng đọc cả quyển mới vỡ nhẽ ra Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân là chính, chẳng qua học theo A. Malraux (trong Phản hồi ký) ông cũng gặp đâu viết đấy, nên ngòi bút mới đôi khi sa đà viết thêm về những người khác ít trang. Vẫn là hồi ký – chân dung, nhưng Cát bụi chân ai là bức tranh truyền thần khuôn mặt Nguyễn Tuân, như Tô Hoài được biết, một thứ Nguyễn Tuân nhìn gần ở khoảng cách rất gần, không bị tô vẽ, bị thiêng liêng hoá, có điều không vì thế mà mất đi vẻ khả ái và nhất là những nét đáng thông cảm.


Chỗ giống người của “kẻ khác người”

Tuy luôn luôn không quên điểm xuyết đôi nét về con người Nguyễn Tuân giai đoạn tiền chiến, thậm chí đi ngược lại mãi về một thời rất xa, khi Nguyễn Tuân cùng một người bạn định trốn qua Xiêm theo đường Campuchia rồi bị bắt, nhưng trên nét lớn, Cát bụi chân ai là để nói về cuộc đời dấn thân của Nguyễn Tuân như Tô Hoài biết từ sau 1945 tới nay. Đường đời sự nghiệp khác nhau, tâm tính càng không giống nhau, vậy mà giữa hai người đã có chung bao kỷ niệm. Hồi kháng chiến chín năm ở chiến khu sống chung trong một cơ quan đầm ấm, thân mật. Lần theo bộ đội vượt sông đánh đồn. Những năm tháng sau hoà bình 1954, đời sống văn nghệ Hà Nội ngổn ngang bao chuyện. Dăm chuyến đi dài lên các tỉnh miền núi phía bắc những năm chống Mỹ hào hứng, lý thú cũng có, mà giá lạnh đơn độc cũng có. Ai người quen nghĩ Nguyễn Tuân khinh bạc, ích kỷ nghênh ngang tự thị sẽ tìm thấy ở đây, qua những chi tiết rất thật, những giây phút Nguyễn Tuân cũng rất nồng nàn quý trọng tình nghĩa, cũng chi chút trong từng việc nhỏ của đời sống gia đình và của sinh hoạt văn nghệ. Hơn thế nữa, Nguyễn Tuân cũng yếu đuối, cũng làm dáng, điệu bộ, và cũng biết sợ như bất cứ ai. Cái tài của Tô Hoài trong cuốn hồi ký này là ở chỗ phác ra rõ rệt những nét độc đáo trong tính cách Nguyễn Tuân – một câu tiêu biểu “Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” (tr. 7) – song vẫn cho thấy tác giả Vang bóng một thời thực ra rất gần với chúng ta, với tất cả những phiền luỵ tầm thường, những hy vọng dang dở, những trái khoáy vô lý… của kiếp người. Đã bước trong đời thì hỡi ai kia, chân người rồi cũng lẫn trong cát bụi như mọi chúng sinh mà thôi, nhất định là thế, không thể nào khác, không phải vì thế chúng tôi xa lạ, ngược lại, cát bụi khiến chúng tôi thêm gần gũi với người biết mấy!


Niềm cảm khái cuối cùng

Nhưng dẫu sao, Cát bụi chân ai vẫn là một cuốn hồi ký. Dù bóng dáng của Nguyễn Tuân có trùm lên cả quyển sách, thì cạnh đấy, vẫn hiện lên mồn một cái bóng dáng chính của người viết, một Tô Hoài lịch lãm, ý nhị, bắt vở hết các bậc đàn anh, biết thóp đủ mọi chuyện, khinh bạc, đáo để, song cũng lại biết thiết tha với từng chi tiết trong cuộc sống hàng ngày, lại càng tha thiết trước một chén rượu quý, mấy câu tâm sự bâng quơ, những lá thư cảm động. Công bằng với Nguyễn Tuân cũng tức là Tô Hoài có được công bằng với giới văn nghệ. Dẫu sao, những người này cũng đã có mặt trong suốt cuộc đời tác giả, cùng ông chia sẻ vui buồn, và suy cho cùng, giá mà chẳng tốt hơn, thì họ cũng chẳng xấu hơn những người khác. Với sự chính xác của một thứ bộ nhớ điện tử, đầu óc Tô Hoài thường khi nhớ lại vặt vãnh đủ chuyện. Ngòi bút ông sau những khoáng đạt chơi vơi với những cảnh tượng hùng vĩ ở miền núi, lại thản nhiên, thủng thẳng, mà vẫn không kém sinh động, quay về dựng lại những phút vắng lặng trong câu chuyện mấy bạn tri kỷ, giữa một hàng quán xô bồ của chốn thị thành.
Còn như cảm hứng cuối cùng về cuộc đời? ở cuối chương Một chặng đường (in trong Tự truyện) Tô Hoài viết: “Trên sóng cát cuộc đời, mình đã từng sống cái kiếp phong trần, vào đâu nên đấy, của con phù du”. ở cuối Cát bụi chân ai lại vẫn cái giọng mệt mỏi và biết điều ấy “Tôi ngồi lại đây trông vào mịt mùng nhìn thấy xa lắc xa lơ một thời đã qua. Âu cũng là cái nhộn nhạo được khấy dộng chốc lát”. Tiếp đó là cái hình ảnh có sức khơi gợi: “Bãi tắm Cát Cò. Hai bên vách đá thẫm đen, không có bóng người. Con kỳ đà đủng đỉnh bò ra giữa đường hầm, bạnh mang, rướn chân nhìn quanh rồi lại nép vào mép những tảng đá… Vết chân người lẫn chân con kỳ đà in vân vân trên cát”. Một chút hư vô bàng bạc ở đây chỉ làm rõ thêm ấn tượng đã toát ra từ cả cuốn sách, ấy là dù hay dù dở thì tác giả cũng đã viết nó bằng sự thành thực và toàn bộ kinh nghiệm sống của mình, nên chi, nó đáng được đối xử một cách trân trọng và cả độ lượng nữa.