Monthly Archives: Tháng Ba 2009

Ráo hoảnh


(TBKTSG) – Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ. Tôi nhớ một câu đố vui “Có cây mà chả có cành – Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa – Người bán thì bảo rằng già – Người mua thì bảo thực thà còn non” và câu giải đúng là “cái cân”.

Những ngày này thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó, không phải để suy nghĩ về tư duy kinh tế của người mình, mà cốt ghi nhận một xu hướng trong giao tiếp.

Là hình như nay trong nhiều chuyện chẳng biết thế nào là đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ quẹo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.

Có những việc “bánh đúc bày sàng”, giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình. Có người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế luồn lách cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi.

Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh.

Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh cái sự việc năm kia bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký mua chỉ nhận: “Chúng tôi hơi không được cẩn thận”, “Chúng tôi chưa có kinh nghiệm”.

Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế?”, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được”…

Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa… lại tiếp tục trong bóng tối.

Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch nọ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những cú chơi bời động trời mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo. Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và… bị bắt quả tang. Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng. Đằng này ông vẫn không có gì hoảng hốt. Bảo đợi tôi mặc quần áo đã. Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng tôi vào chơi nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản. Thế thôi, rồi lững thững ra về. Chẳng ai làm gì được ông cả!

Nói thật, theo dõi nhiều vụ bê bối sập cầu, đắm thuyền, kể cả những vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hóa ra kinh nghiệm của nhà thơ nọ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.

Trong Cổ học tinh hoa có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của con người. Một người lục tủ thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm. Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại đòi. Chị ta cãi: “Áo tôi mặc đây là áo của tôi, do chính tay tôi may ra”. Anh kia đáp lại bằng cái lý lẽ kỳ cục như sau: “Cái áo thâm của tôi mất thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa”.

Theo các tác giả Cổ học tinh hoa, mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười; mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai; mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba. Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt, quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm, cái gì cũng dám nói.

Có lẽ đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu thái độ trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh có thể dẫn người ta điên khùng đến thế nào. Trong những trường hợp như thế, nó thật đã vượt qua mọi cái ngưỡng vốn có của cách xử thế thông thường.

Và bạn có biết lúc đó chúng ta trở nên thế nào không? Tôi muốn nói khi trơ tráo và ráo hoảnh vậy, ta trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy. Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo. Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.

Đôi lúc trong cơn máu mê ham chơi, chúng không ngại nhận vơ của người khác cái nọ cái kia, thậm chí mở tủ hoặc lục áo, thó của chúng ta vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang, chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên “Ơ ! Con cứ tưởng…” hoặc “Thế à, thế mà cháu không biết”.

Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi “Ơ! Tôi cứ tưởng… Tôi đâu có biết”.

Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con thường chỉ “cháu không biết” trước một vài đồng, còn người lớn bây giờ thì “tôi đâu có biết” khi bỏ túi bạc tỉ.

Thứ Bảy, 28/3/2009
saigon times online

“Văn minh Việt Nam” đáng được phổ biến rộng rãi

Nhân ra mắt công trình Văn minh Việt Nam của cố GS. TS Nguyễn Văn Huyên (NXB Hội Nhà văn), nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn – người biên soạn sách, đã có cuộc trò chuyện với phóng viên.

+ Lâu nay những công trình nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt Nam vẫn xuất bản đều đặn. Nay Văn minh Việt Nam lại được ông đề nghị in thành một chuyên luận riêng (tách ra từ công trình Nguyễn Văn Huyên toàn tập – đã được trao giải thưởng Hồ Chí Minh), ông có sợ rơi vào tinh trạng “bão hòa”?

– Theo sự tìm hiểu của tôi, lâu nay Văn minh Việt Nam có phần thiệt thòi: nó không được biết tới rộng rãi, ngay cả trong giới chuyên môn. Chẳng hạn, nó không có mặt trong danh mục dài gồm 420 tên, thống kê các bài báo và cuốn sách có liên quan tới văn hóa Việt Nam trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (tôi đang có trong tay bản in 1996).
Một số người khác (nếu tôi không lầm có cả cố GS. Trần Quốc Vượng) dù đã nhắc nhiều về Nguyễn Văn Huyên, lại không mấy khi đề cập công trình này của ông.
Có thể cắt nghĩa tình trạng trên như sau: nguyên tác được viết bằng tiếng Pháp và chỉ gần đây mới được dịch ra tiếng Việt. Mà bản dịch lại nằm trong bộ toàn tập gần 2.000 trang khổ to, in lần đầu vào năm 1995, được phát hành theo lối bao cấp, thành ra “người cần thì không có sách và người có sách lại không đọc”.
Theo tôi, cuốn sách rất đáng được phổ biến rộng rãi. Không thể so sánh nhiều cuốn sách tầm thường hiện nay với nó được! Chính vì e sợ số người đã trực tiếp đọc nó không bao nhiêu nên tôi mới đề nghị in thành cuốn riêng.

+ Không thể phủ định giá trị của công trình, song dẫu sao, cho đến thời điểm này (chứ không phải thời điểm hoàn thành – năm 1939), tác phẩm đã không còn gây “sốc”…

– Ta hãy thử làm một đối chiếu nho nhỏ. Nếu chỉ tính sách vở của người Việt nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt, tôi thấy hai cuốn Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính) và Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh) nổi hơn cả. Tuy nhiên Văn minh Việt Nam có những điểm mới mà hai cuốn trước không có.
Ngoài ra, bao trùm ở đây là tinh thần phê phán được vận dụng một cách đúng mức khiến cho giá trị khoa học được nâng lên một bước.
Tính đến thời điểm công trình ra đời, Nguyễn Văn Huyên đã miêu tả rất đúng những khía cạnh khác nhau của văn hóa, văn minh Việt, và gợi ra được nhiều khái quát đúng đắn. Đến lượt mình, các nhà khoa học hôm nay sẽ phải đảm nhận việc miêu tả những biến chuyển xảy ra từ bấy đến nay.

+ Có ý kiến cho rằng bên cạnh Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh), chuyên luận Văn minh Việt Nam là một cuốn giáo khoa mẫu mực?

– Đúng vậy. Trong cuốn Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh có kể rằng ông viết Việt Nam văn hóa sử cương là do nhu cầu dạy môn văn hóa Việt Nam ở cấp cao đẳng.
Còn theo tài liệu của bà Nguyễn Kim Nữ Hạnh thì Văn minh Việt Nam được biên soạn trong thời gian Nguyễn Văn Huyên tham gia giảng dạy.
Nhân nhắc lại chuyện này, tôi chợt nhớ ai đó đã từng đề nghị tất cả học sinh, sinh viên cấp trung học, đại học phải được học chương trình văn hóa Việt Nam (chứ không phải chỉ sinh viên chuyên ngành). Đề nghị đó rất nghiêm túc, chỉ có điều, khoa nghiên cứu văn hóa dân tộc ở ta quá yếu, bây giờ có muốn dạy cũng không lấy đâu ra thầy đủ khả năng và giáo trình tốt.
Lâu nay chúng ta đã đi lệch, tức xem phần chủ yếu của văn hóa quy gọn cả vào văn học và khi nghiên cứu văn học thì lại mải đi vào bình văn, bình thơ, tầm chương trích cú, mà không chú trọng tới cái hồn của văn hóa nằm trong đó.

+ Văn minh Việt Nam khái quát sự phát triển của đời sống vật chất, tinh thần, đặc điểm nhân chủng, tâm lý, cá tính người Việt… Tuy nhiên, hình như sau Nguyễn Văn Huyên vẫn chưa có quyển sách nào nghiên cứu kỹ và có hệ thống hơn về lịch sử văn hóa Việt Nam mà bổ sung cho quyển này. Thậm chí nhiều người còn nói hơi “ngoa” rằng, giới nghiên cứu bây giờ chỉ “nhai lại” những gì mà người đầu thế kỷ XX đã viết…

– Đáng tiếc rằng đó là sự thật mà những ai có tìm hiểu văn hóa Việt Nam đều công nhận, tuy không phải lúc nào người ta cũng sẵn sàng nói thẳng tuột ra như vậy.

+ Đối tượng nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên rất rộng rãi, từ nhà sàn Đông Nam Á đến một khu phố Hà Nội, từ hát đối nam nữ đến Nội đạo tràng, từ các làng xã và nông dân đồng bằng Bắc bộ đến nơi cư trú của người Dao… Ông có định xuất bản tiếp những công trình này?

Vâng, tôi mong lắm vì mỗi lần bắt tay vào biên tập những cuốn sách đó là một dịp được học hỏi thêm. Sự thiếu hiểu biết về văn hóa nói chung vốn là “bệnh” của nhiều người làm công tác nghiên cứu phê bình văn học, trong đó có tôi.

Theo Thể thao và Văn hóaChủ nhật, 23 Tháng mười 2005

Tính tự phán của người mình

Gần đây, chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ của Trung Hoa trên trường quốc tế, lại thấy dư luận hâm nóng một cuốn sách được xuất bản cách đây hai thập kỷ. Đó là cuốn Người Trung Hoa xấu xí của Bá Dương.
Dường như có sự liên tưởng giữa sự dũng cảm nhận ra những yếu kém sẽ mang lại sức vươn lên mạnh mẽ cho một dân tộc. Trước cuốn sách của Trung Hoa, thì nước Pháp, nước Mỹ, nước Nhật Bản đều từng có những cuốn sách tương tự, nhận mình là xấu xí… Còn người Việt, một “Người Việt xấu xí”- tại sao chúng ta không bàn đến? Chúng tôi mời nhà sử học Dương Trung Quốc, nhà phê bình Vương Trí Nhàn và tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng cùng bàn về vấn đề này.

. Phóng viên: Vì sao chúng ta đã có một “Người Việt cao quý” mà mãi gần đây mới đề cập đến khía cạnh ngược lại?

– Ông Dương Trung Quốc: Một công bố gần đây của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn lục tìm trong sách báo cũ cho thấy, người Việt Nam ta đâu phải không biết tự phán. Ngay trong thời cận đại cũng từng có hai nhà chính trị, cũng đáng là hai nhân vật lịch sử quan trọng đã tự tay viết sách tự phê bình đường lối chính trị của mình. Tác giả Tự phán là nhà ái quốc nổi tiếng Phan Bội Châu, còn Tự chỉ trích là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Nguyễn Văn Cừ…
Nhưng tự phán và tự trào tính cách của dân tộc thì phải nói đến một nhân vật nổi danh trên trường văn học và báo chí là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) ở đầu thế kỷ 20 mà năm nay chúng ta sẽ kỷ niệm 70 năm ngày mất của ông. Như vậy là việc dám nhìn vào gương để tự soi mình, vạch ra những thói hư tật xấu để phê phán và khắc phục đâu phải là chưa từng có ở ta. Tự phê phán đã từng được coi là một vũ khí để tu thân… Vấn đề hình như ở chỗ khác!
Biết nhận thức cái xấu, biết tự phê phán là thái độ khôn ngoan

Nhà sử học Dương Trung Quốc

. Khác ở chỗ nào, thưa nhà sử học Dương Trung Quốc?

– Tôi nhớ đến một cách quảng cáo của một bà chủ cửa hàng tiên phong trong việc mở mỹ viện tại Hà Nội: “Không có người đàn bà xấu, chỉ có người đàn bà chưa biết cách làm đẹp”. Một con người đã vậy, với một dân tộc có vậy không?
Khi nói về biểu tượng “con cá gỗ” gắn với một xứ sở nổi tiếng nghèo nhưng cũng nổi tiếng có học ở miền Trung, cái biểu tượng ấy có thể gắn với tính bủn xỉn, keo kiệt ở người này nhưng lại là tính hiếu học, ý chí phấn đấu vượt khó ở người khác…
Vì vậy khi nói về một sự khác biệt trong tính cách của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, ta có thể nói về một số tính trội hay những tiềm năng mang các khuynh hướng khác nhau chứ không nên hiểu như những hằng số phản ánh một tính cách tuyệt đối, bất di bất dịch.
Trong sách du ký Hành trình Xứ Đàng Trong năm 1621 của cố đạo Alexandre de Rhodes có thuật lại trải nghiệm của một thương nhân Bồ Đào Nha. Ông ta đến Đàng Trong (vùng Hội An) và được nhiều người nước ngoài khác cảnh báo về một thói xấu của người bản địa là hay xin xỏ. Rằng người Đàng Trong rất chuộng của lạ, thấy ai có cái gì cũng ngỏ lời “Xin một cái”, do vậy ai có gì thì chớ để lộ ra kẻo họ lại xin. Sự việc diễn ra đúng như vậy. Nhưng một lần, ông thương gia này quyết định thử xem có đúng hoàn toàn như vậy không, bèn đến một gia đình thuyền chài nghèo và để tay lên cái rổ đầy cá rồi nói bằng tiếng bản địa “Xin một cái!”. Điều bất ngờ là người thuyền chài chẳng nói chẳng rằng đưa luôn cả cái rổ cá cho người ngỏ lời xin mặc dùcó thể đó là cả bữa ăn của gia đình mình. Thế là ông thương gia người Bồ lại phát hiện một tính cách đối lập với những thiên kiến về người Đàng Trong…

. Còn hiện nay thì sao?

– Ông Vương Trí Nhàn: Về chuyện ngại ngùng thì không phải nói nhiều. Sự thực là khi bắt tay vào công việc tìm hiểu người Việt xấu xí, bọn tôi nhìn chung quanh đã thấy nản lòng. Có người bảo thiếu gì việc cần làm sao lại đi vào bới lông tìm vết thế này. Có cả những người rất tốt cũng nói rằng không nên làm. Nói chung mọi người nhìn mình hình như không được thiện cảm lắm. Đôi lúc chúng tôi cảm thấy hình như mình có lỗi.
Tuy nhiên, gần đây tình hình có khá hơn, dân tình thông cảm hơn và đề tài càng ngày càng được mọi người cho là cần thiết. Tôi nghĩ đây là mình làm một việc không người này làm thì người khác phải làm.

Tại sao lại nảy sinh cái tâm lý ngại ngùng này và nó bắt rễ sâu vào lòng người như vậy?

Thời đại ngày nay không thể tính khôn vặt như trước được nữa. Làm ăn muốn lâu dài phải sòng phẳng

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn

Ông Vương Trí Nhàn: Có thể có nhiều lý do. Trước tiên phải thông cảm với nhau, đây kể ra cũng là một nét tâm lý thông thường của con người. Nhà văn Triệu Bôn có lần kể với tôi: Nguyễn Minh Châu viết một truyện hơi yếu, Triệu Bôn viết bài chê và nhận ra ngay là ông Châu giận, không muốn nhìn mặt người phê mình nữa. Tới buổi hai người gặp nhau trong nhà tắm (trước năm 1975, tòa soạn Văn Nghệ Quân Đội chỉ có một căn phòng tắm chung, đặt bên cạnh cái bể to). Triệu Bôn bảo: “Chẳng nhẽ tôi nói thế không đúng sao?”. Nguyễn Minh Châu mới thủng thẳng trả lời: “Đúng, nhưng người bị đòn đau bỏ mẹ, ai mà chịu nổi!”.
Đấy, với một cá nhân là thế, với cả xã hội lại càng như thế. Tản Đà từng đúc kết: “Dân hăm lăm triệu ai người lớn – Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”.

– Ông Dương Trung Quốc: Từ những câu chuyện về bà chủ thẩm mỹ viện và thương nhân Bồ Đào Nha, suy cho rộng ra thì phải trở về cái nguyên lý “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Những cái xấu,những cái đi ngược lại với thiện tính của con người không thuộc về tính cách của một dân tộc mà chủ yếu chỉ là biểu hiện của những con người trong những hoàn cảnh cụ thể đã để mất cái thiện căn của mình. Biết nhận thức cái xấu, biết tự phê phán là thái độ khôn ngoan không chỉ với một cá nhân, một cộng đồng hay một dân tộc. Và đó cũng là ý niệm cốt lõi của hai chữ “giáo dục” như bài thơ Nửa đêm (Dạ bán) của Cụ Hồ:
“Ngủ thời ai cũng hiền lương
Tỉnh ra mới rạch hai phương dữ lành
Dữ lành bá tánh trời sanh
Thường do giáo dục mà thành thói quen”
(Bản dịch của Quách Tấn)

. Đâu là thói xấu đáng sợ nhất?

Ông Vương Trí Nhàn: Xét trong lịch sử, sự ngần ngại nói trên là một tâm lý hình thành từ lâu. Dân gian ai cũng thuộc cái câu: Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại. Trong thâm tâm ta thừa biết mình không thiếu gì thói xấu. Song ta nhát, không muốn nhìn thẳng vào bản thân. Cái gì bê bối chỉ tính chuyện giấu nhẹm chứ không muốn giải quyết. Bởi bận bịu, mệt mỏi. Bởi quen dễ dãi với mình, không có nhu cầu hướng thượng, không cần đạt tới trình độ hoàn hảo. Sau hết bởi cảm thấy hình như không bao giờ giải quyết nổi. Tức là có phần tự ti nằm rất sâu trong ta mà ta không biết. Tự ti trong lòng, tự tôn ngoài miệng, cả hai đều thâm căn cố đế!

– Ông Nguyễn Sĩ Dũng: Có ai đó trong số những người ngoại quốc đã từng nhận xét: “Một người Việt thì hơn một người Nhật. Hai người Việt thì khó lòng hơn hai người Nhật. Ba người Việt thì chắc chắn thua ba người Nhật”. Đây có lẽ là một lời khen để chê cho dễ. Bởi vì rằng có bao giờ người Việt chúng ta sống riêng rẽ từng người một như Rôbinxơn Cruzô trên hoang đảo đâu. Hơn thế nữa, chúng ta lại rất chuộng tinh thần tập thể. Mà tập thể thì ba người chỉ là con số tối thiểu. Và nghĩa là, chúng ta chẳng có mấy cơ hội để cạnh tranh với người Nhật cả.
Việc một người Việt có hơn một người Nhật hay không là chuyện còn phải bàn. Thế nhưng, việc “tam nhân bất đồng hành” giữa ba người Việt thì không khéo là chuyện có thật. Điều này xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả những đặc tính nằm trong “gien” di truyền văn hóa của người Việt chúng ta.

Tuy nhiên, “tự ti trong lòng, tự tôn ngoài miệng” cũng đã từng phát huy tác dụng trong quá khứ?

– Ông Vương Trí Nhàn: Vả chăng, đối với một dân tộc, khả năng biết nói về mình một cách chính xác phụ thuộc rất nhiều vào khâu tiếp xúc với nước ngoài. Mà ở ta thì lịch sử đối ngoại quá nặng nề. Sống với những người hàng xóm mạnh, việc giữ nước đặt ra cái nhu cầu tâm lý phải khẳng định mình, phải khẳng định cái sự có quyền tồn tại của mình. Nói quá nhiều đến cái dở của mình có khi không còn sức mà đánh giặc.
Ngay cả sau chiến tranh, bước vào làm ăn kinh tế và thực thà muốn làm bạn với mọi nước trên thế giới, như những ngày này, thì cũng không dễ để sòng phẳng ngay được. Ta ở vào thế xuất phát quá kém. Thậm chí có người nghĩ mình không bao giờ đuổi kịp người. Vậy phải động viên nhau, nhấn mạnh cái phần thuận lợi vốn có cùng nhau. Sự lảng tránh khuyết tật giống như một nhu cầu tự vệ.
Chúng ta đã từng hợp tác được với nhau rất chặt chẽ trong chiến tranh… Sự hợp tác như vậy chưa chuyển giao được cho sự nghiệp xây dựng hòa bình

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng

– Ông Nguyễn Sĩ Dũng: Trước hết, đó là cái tâm lý “Trúc xinh trúc mọc đầu đình. Em xinh em đứng một mình cũng xinh”. Kiểu gì thì kiểu, cứ đứng một mình mới xinh. Như những cây “trúc” riêng rẽ, người Việt chúng ta thật sự có những phẩm chất trí tuệ khá cao siêu. Cứ nhìn vào những giải thưởng quốc tế mà người Việt giành được trong các kỳ thi olympic quốc tế về toán, lý, hóa… thì chúng ta sẽ rõ. Thế nhưng cứ gom những cây “trúc xinh” này lại với nhau thì chúng ta sẽ có cả một khóm trúc mịt mùng, rối rắm: Mọi lý lẽ,mọi cố gắng đều bị vô hiệu hóa trong sự bùng nhùng của các mối quan hệ.
Cha ông ta đã từng dạy “Xấu đều hơn tốt lỏi”. Khổ nỗi không hợp tác được với nhau thì “xấu” cũng rất khó mà đều. Thực ra, nói người Việt chúng ta không hợp tác được với nhau là chưa thật hoàn toàn chính xác. Chúng ta đã từng hợp tác được với nhau rất chặt chẽ trong chiến tranh. Càng bom rơi, đạn nổ, người Việt càng cố kết chặt chẽ với nhau hơn. Rất tiếc, sự hợp tác như vậy chưa chuyển giao được cho sự nghiệp xây dựng hòa bình.
. Thói xấu đáng sợ nhất vẫn là sợ không dám nhìn thẳng vào những thói xấu có thực của mình. Nó là thói xấu mẹ có khả năng đẻ và nuôi dưỡng mọi thói xấu kinh khủng khác?

Ông Vương Trí Nhàn: Người Trung Quốc xấu xí được nói nhiều nơi chứ không chỉ trong sách Bá Dương. Có lần qua tiếng Nga tôi thấy nói một nhà xuất bản ở London có chủ trương cả một xê-ri sách người mỗi dân tộc tự viết về thói xấu của mình, riêng hai bản tiếng Anh và tiếng Nga cuốn Những người Nga kỳ cục cùng lúc được phát hành ở London và Moskva. Sách người Anh người Mỹ tự nói về tật xấu của mình càng nhiều. Vậy thì tại sao ta không tìm để dịch?
Nghĩ kỹ thì thấy chính nhu cầu chung sống với mọi người, bạn bè với mọi dân tộc trên thế giới lại đang đòi hỏi chúng ta tỉnh táo nhìn lại mình. Xưa các cụ có thể theo chính sách “nội đế ngoại vương”, đưa vua giả đi triều cống. Thời đại hiện nay không thể tính chuyện khôn vặt như trước được nữa. Làm ăn muốn lâu dài phải sòng phẳng. Ngay đối với quá khứ cũng phải sòng phẳng. Do kém nên phải học, không có gì là ngượng nếu ham học hỏi. Chỉ không chịu học không biết học và chưa học đã lên mặt thành thạo mới đáng xấu hổ.

– Ông Dương Trung Quốc: Khi còn bỉnh bút cho tờ báo quốc ngữ ra đời sớm nhất ở Bắc Kỳ Đăng cổ tùng báo, Nguyễn Văn Vĩnh dưới bút danh giả nữ là Đào Thị Loan, ông đã viết những bài phê phán về tục đốt vàng mã, thói hư danh, nạn cờ bạc… Đến khi trở thành chủ bút tờ Đông Dương Tạp chí trong 2 năm 1913 và 1914, ông mở một chuyên mục lấy tên là “Xét tật mình” lấy cảm hứng từ một câu của văn hào Pháp Emile Zola: “Nói hết, để biết hết, để chữa hết” (Tout dire pour tout connaitre, pour tout guérir) và giải thích thêm rằng: “Các nết xấu, các hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói hết ra, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý là phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện”.

Thái An thực hiện
Việt Báo (Theo_NLĐ)
Thứ bảy, 31 Tháng mười hai 2005

Cuộc chia tay còn dang dở

Bây giờ, hội thảo nhiều lắm và tường thuật về hội thảo cũng nhiều, những bài tường thuật chung chung nhạt nhẽo khiến người đọc chúng tôi liếc qua là bỏ sang mục khác. Nhưng tôi đã phải dừng lại khá lâu trước bài “ Bao giờ Hà Nội “xuất khẩu”… thanh lịch “


Giã từ ảo tưởng

Người ta thường nói trong một lá thư thì mấy câu tái bút được đọc kỹ nhất. Với các bài báo cũng vậy, một thói quen phổ biến của nhiều người khi đọc báo là bập ngay vào cái đoạn đóng khung đặt ở giữa bài hoặc cuối bài.
Như trong trường hợp bài tường thuật nói trên của N.M.Hà: Chỉ liếc qua đoạn trích lấy ra từ tổng thuật hội thảo, chúng tôi đã gặp một cái gì khác thường. Một thói quen đã ăn vào máu chúng ta là viết cái gì cũng rào đón, che chắn, tự làm nhòe ý kiến của mình đi bằng cách pha phách một tí “ưu” một tí “khuyết” (rồi “ưu” tất nhiên phải nhiều hơn “khuyết”), rút cục chả nói được điều gì rõ rệt.
Đằng này đoạn đóng khung ở đây dành hẳn để nói về khuyết tật của đối tượng được mang ra bàn bạc là người Hà Nội.Và sau này đọc ngược lên cả bài, chúng tôi cũng bắt gặp tinh thần ấy. Nghĩ cho kỹ lại còn có thể nói những khuyết tật được liệt kê ra ở đây toàn thuộc loại “chết người” nữa.
Chẳng hạn hai người tham gia hội thảo nêu rõ rằng phố xá Hà Nội ngày xưa so với ngày nay sạch sẽ yên tĩnh hơn nhiều, người Hà Nội ngày trước hồn hậu hơn người Hà Nội hiện nay mà cách đối xử với người nước ngoài cũng thân thiện hơn.
Chúng tôi đọc được trong các so sánh loại này một cái ý ngầm mọi người muốn nói mà không tiện nói ra: Trong thời gian, Hà Nội quả là đang chịu một bước lùi rõ rệt, mà cái điều gọi bằng lùi, dở đi kém đi đây là ở cái tinh thần căn bản của đời sống chứ không phải ở những biểu hiện bề ngoài dễ xuê xoa và đánh trống lảng.
Có thể có người phản bác: Bài viết của N.M.Hà không phản ánh đúng những điều mọi người nói ra trong hội nghị. Nghĩa là những lời lẽ thuộc loại khen lấy lệ, vuốt ve, khoe tài khoe giỏi… sẽ nhiều hơn những nhận xét nói trên.
Nhưng trong ngôn từ luôn luôn người ta có thể đọc ra đâu là những lời nói suông, nói cho phải phép và những lời tâm huyết xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cùng khả năng suy nghĩ một cách sâu sắc. Chính vì như vậy mà có thể coi bài của N.M.Hà như một tấm ảnh bắt trúng được cái phần xuất thần của cuộc hội thảo.
Bởi lẽ những nhân vật phát biểu ở đây đều là tai mắt của giới văn hoá Thủ đô, chúng tôi muốn gọi đây là một bước tiến trong tự nhận thức của người Hà Nội. Một thời gian dài, chúng ta sống trong ảo tưởng về mình.
Nay Hà Nội đã thức tỉnh. Lòng yêu mến tự trọng biến thành cái nhìn sáng suốt, dám nhìn thẳng vào mình, dám nói rõ những yếu kém khuyết tật của mình. Đấy chính là bước đầu để nâng mình lên cho đúng với tầm vóc Hà Nội – nó là cái cách mà do nhiều người thích nói, nên đã có phần sáo mòn, song không phải là không có lý.


Cuộc chia tay còn dang dở

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn
“Quả là một sự khó khăn trong quan hệ giữa người với người ở Hà Nội”, đó là nhận xét của một người Nhật sống ở Hà Nội hai năm liền và được N.M. Hà dùng làm câu kết cho bài viết của mình. Tôi cho rằng đây mới là đầu mối chính mà những ai quan tâm tới Hà Nội hôm nay muốn bàn bạc. Theo ý nghĩa đó, cuộc hội thảo phải đi vào xem xét mọi mặt văn hóa sống của người Hà Nội hôm nay.
Nhưng chúng ta lại mới có một cuộc hội thảo mang tên “Người Hà Nội thanh lịch văn minh” mà chữ thanh lịch quan trọng hơn thì lấy ra từ câu ca dao “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
Chỉ qua mười bốn chữ được dùng ở đây, đã có thể đọc ra khá nhiều điều “tế nhị”:
1/ Trước tiên lối gọi mình là Tràng An đã ghi nhận một mặc cảm không hay của Hà Nội và tôi rất đồng tình với một ý kiến được nêu trong hội thảo là không nên dùng câu đó nữa. Đây là điều nhiều người như chúng tôi muốn nói mà chưa có dịp nói.
2/ Nói Chẳng thơm cũng thể hoa nhài là một lối cãi lấy được. Bông hoa cần thơm mà chẳng thơm thì còn có nghĩa lý gì nữa? Chẳng qua đây chỉ là một cách người ta vẫn gọi là tự tin không có cơ sở, hoặc bám lấy cái danh hão. Cũng tương tự như vậy khi đã đánh mất sự thanh lịch cần thiết mà còn lấy cái mác người thủ đô ra dọa thiên hạ thì thật vô lối. Tôi ngờ rằng chính đây là khẩu khí của nhóm dân mới nhập cư về Thủ đô ít ngày dọa đồng hương ở nhà quê, chứ người Hà Nội chân chính không có lối khoe trắng trợn như thế.
3/ Nói tới niềm tự hào làm người mà chỉ nói tới sự thanh lịch là còn quá đơn giản nếu không muốn nói là sai lệch phiến diện. Một bát canh mà chỉ có mùi thơm và cái vẻ màu mỡ có thể làm cho người ta vui mắt, chứ thật ra chẳng quý báu gì.
Bởi nó thiếu cái chất bổ dưỡng cần thiết. Cũng tương tự như vậy, khi nhấn mạnh cái sự thanh cao lịch thiệp như một phong cách, người xưa đã có phần lấy phụ bỏ chính, quá xem trọng bề ngoài mà quên thực chất (trong giới nghiên cứu văn học người ta gọi một nhà văn như thế là không có tư tưởng mà chỉ có phong cách; còn dân gian thì nói toẹt ra rằng “Tinh chẳng có lại có tướng”).
Trở lại với cuộc hội thảo:
– Đến bây giờ mà hai chữ thanh lịch vẫn được nêu lên như một tiêu đề không gì thay thế được.
– Chẳng những thế lại có những người cố gò hai chữ thanh lịch vào cái nhiệm vụ trọng đại là mang đến giàu có, từ đó mang ra xuất khẩu trên thị trường quốc tế, trong nguyên văn bài báo N.M. Hà dẫn là “phải thanh lịch hoá ít nhất ở Đông nam Á” (nếu tôi không nhầm thì ở đây nghe phảng phất cái mùi vị “về văn hoá chúng ta bao giờ cũng là nước dẫn đầu trong khu vực” đã quá lỗi thời).
Chính đó là lý do khiến chúng tôi muốn mạnh bạo mà nói rằng cuộc chia tay với ảo tưởng của chúng ta mới là cuộc chia tay dang dở và còn phải làm rất nhiều để người Hà Nội có sự tự nhận thức tức có sự đánh giá đúng về mình, từ đó hình dung ra con người mà mình phải trở thành.
Để kết luận, tôi muốn đề nghị cuộc trao đổi về đời sống văn hóa của người Hà Nội tiếp tục được diễn ra trên mặt báo. Trong trường hợp đó, những ý kiến được nêu ra từ cuộc hội thảo cũng như trong bài viết này chỉ được xem như một ít gợi ý sơ bộ, và chúng tôi sẽ rất sung sướng nếu được chứng minh một cách thuyết phục là mình đã nghĩ sai.
Dẫu sao cũng cám ơn rất nhiều những người tham gia hội thảo và người viết tường thuật!

Thứ năm, 20 Tháng mười 2005
Việt Báo (Theo_Tien_Phong)

"Có bị dồn vào chân tường, chúng ta mới khá lên dược!"

Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bản quyền xuất bản:

Ông Vương Trí Nhàn
“Nhiều người chúng ta có thói quen có bị dồn vào chân tường mới chịu làm, nhưng rồi nhờ thế mà khá lên được. Tôi thấy lần này cũng vậy”. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn trao đổi nhân việc VN gia nhập Công ước Berne về xuất bản.

+ Giới xuất bản đang xôn xao về chuyện VN gia nhập Công ước Berne vì tình hình làm ăn rồi sẽ gặp nhiều khó khăn: mảng sách dịch sẽ co lại, nghề xuất bản không chừng sẽ đình đốn và độc giả sẽ không thể có những tác phẩm hay để đọc, v.v… Ông có thể giải thích cho bạn đọc biết vài nét về

Công ước Berne?
– Để hiểu văn bản này, có lẽ báo chí nên gõ cửa các cơ quan hữu trách. Tôi chỉ biết một điều cơ bản của Công ước Berne là nước nọ in sách của nước kia cũng phải xin phép cẩn thận, rồi trả tiền đầy đủ như luật pháp người ta quy định.

+ Chúng ta làm xuất bản theo kiểu vừa qua cốt là để có sách nhanh sách rẻ phục vụ bạn đọc, giúp họ có điều kiện tiếp xúc với những thành quả mới của thế giới.

– Vâng, đấy là lý do thường mang ra để biện hộ. Song không thể có cái việc làm một nghề mà bất cần biết nghề đó trên thế giới ra sao và do đó trước sau mình cũng phải tôn trọng những luật lệ.
Đây cũng là một ví dụ cho thấy nhiều hoạt động của chúng ta còn mang tính tự phát, chưa tự giác biến thành một hoạt động văn hóa, tạo nên cái văn hóa ngành, ở đây là văn hóa xuất bản.
Nghề xuất bản ở ta hiện nay mang trong mình nó cả một ổ bệnh: làm ăn theo lối chụp giật, gặp đâu hay đấy, manh mún lặt vặt, mua tranh bán cướp, nhất là thích làm nhanh làm ẩu. Trong số những lý do khiến cho dân ta bây giờ lười đọc sách, có lỗi ở chúng tôi một phần. Chúng tôi đang làm cho sách mất đi tính thiêng liêng mà nó vốn có.

+ Ông có tin rằng nhiều người trong giới và cả bạn đọc cũng nghĩ như ông hay người ta nghĩ ngược lại?

– Tôi lấy một thí dụ: Hai NXB Trẻ, Kim Đồng đã rất khôn ngoan khi sớm ký thỏa thuận về mặt bản quyền đối với hai cuốn truyện tranh Doremon và Harry Potter. Giả thử ban đầu mà thiếu làm ăn đàng hoàng như thế, chắc là không sớm thì chày sẽ xảy ra những tranh chấp, kiện cáo.
Việc tham gia Công ước Berne ảnh hưởng đến hoạt động xuất bản nói chung chứ không phải chỉ có sách dịch.

+ Thế nhưng, ngay trong giới xuất bản của các ông, nhiều người cũng chưa sẵn sàng và sự thực là chưa biết làm thế nào?

– Một người bạn tôi vừa cảnh báo không chừng rồi đây ta chỉ có dịch và in lại những tác phẩm cổ điển, còn sách mới của thế giới thì thôi, tạm biệt. Và như vậy thì không còn sách hay để đọc. Có lúc tôi cũng thấy như anh ấy, nhưng rồi lại nghĩ: hãy thử nhìn một số cuốn gọi là tác phẩm có hạng của thiên hạ được ta dịch ra tiếng Việt gần đây, có phải là gần như toàn làm vội, chắc là cũng chỉ gây ra được sự hấp dẫn nhất thời, chứ không thể trường tồn cỡ như các bản dịch Những người khốn khổ, Chiến tranh và Hòa bình hồi trước.
Thành thử giữa một bên là mười bản dịch nham nhở, mỗi bản in ra cũng chỉ độ một ngàn cuốn, với một bản dịch thôi, nhưng là sách hay, lại dịch tốt dịch kỹ, với khối lượng in ra từ năm đến mười ngàn bản, tôi nghiêng hẳn về cách thứ hai. Lâu nay, có cảm tưởng chúng tôi chỉ được tiếp nhận những cái xác của nguyên bản. Thật không thể nghĩ là có thể lấy đó làm tự hào được.
Còn như những chuyện phải làm thì tôi tin rằng có nghiêm túc và quyết tâm, rồi sẽ học được hết. Để có những bản dịch tốt, phải có sự nghiên cứu văn học nước ngoài cẩn thận, để xem xem cái nào đáng dịch cái nào không. Bản thân người dịch phải làm kỹ trên từng trang bản thảo. Các biên tập viên phải làm việc kỹ hơn chứ không coi thường chính bản thảo có ghi tên mình như hiện nay.

+ một người 25 năm trong nghề, ông dự đoá Tức là theo ý ông nói, việc tham gia Công ước Berne sẽ góp phần vào việc đổi mới cách làm xuất bản. Với kinh nghiệm củan tình hình sẽ ra sao?

– Nhiều người chúng ta có thói quen có bị dồn vào chân tường mới chịu làm, nhưng rồi nhờ thế mà khá lên được. Tôi thấy lần này cũng vậy. Bên xuất khẩu thủy sản có cái lệ người nước ngoài người ta đến tận cơ sở sản xuất của mình theo dõi xem mình có làm đúng quy trình kỹ thuật không rồi mới nhận hàng.
Tôi dự đoán không chừng một lúc nào đó một NXB hay một tác giả nước ngoài sẽ làm cái việc tương tự là cho kiểm lại xem sách mình dịch có cẩn thận, có đúng không rồi mới cho phép phát hành sách dịch. Nhưng bạn đọc sẽ có lợi: Chúng ta sẽ có khả năng tiếp nhận những bản dịch có giá trị thực sự.

Theo Thể thao và Văn hóa – ND Thứ sáu, 13 Tháng tám 2004

Làm sao để hồi ký hấp dẫn?

So với sự bùng nổ trên thế giới, việc viết và đọc hồi ký ở ta phải nói là chưa thấm tháp gì. Tuy vậy, gần đây Việt Nam đã có biến chuyển trong thể tài này. Đã có một số hồi ký của các nhà văn được nhắc tới trong các cuộc bàn luận chung quanh đời sống văn học. Dưới đây là cuộc trao đổi bàn tròn giữa nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn với nhà văn Nguyễn Kiên, và nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh về các vấn đề liên quan tới sự phát triển của hồi ký hôm nay.

Vương Trí Nhàn: Mới đây tôi có liên hệ với một nhà văn trẻ, mời anh ấy tham gia cuộc trao đổi bàn tròn về hồi ký, nhưng anh ấy không nhận lời, lấy lý do là lâu nay mình không quan tâm tới thể tài này. Tôi không quá băn khoăn vì bị người bạn ấy từ chối, mà chỉ tự hỏi: Thái độ của người bạn ấy – nếu đúng như bạn ấy nói – có phải là thái độ chung của các bút trẻ hiện nay? Chẳng lẽ những người nắm giữ tương lai không quan tâm gì tới quá khứ? Trong bụng tôi không thật tin. Nói cách khác tôi cho rằng các hồi ký đang được viết có liên quan đến tất cả chúng ta, và với tư cách người đương thời, chúng ta nhất định phải quan tâm tới chúng. Anh, chị có lý lẽ gì thêm để biện hộ cho sự có mặt của hồi ký?

Nguyễn Kiên: Nếu tôi không lầm thì lớp người lớn tuổi như tôi nói chung thường đọc và thích hồi ký. Lui về thời xưa, thích Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, hoặc hơn chục năm trước đọc đi đọc lại Cát bụi chân ai của Tô Hoài, và gần đây hay bàn với nhau về hồi ký được viết dưới dạng tiểu thuyết của Nguyễn Khải… Mình cần biết cái cũ, như thỉnh thoảng cần nghĩ lại về cuộc đời của chính mình. Chi tiết trong hồi ký chính là sự thật lịch sử diễn ra trong đời sống hàng ngày. Vai trò của nó là bổ sung cho sử sách.

Đặng Thị Hạnh: Tôi không đọc được nhiều hồi ký của các tác giả trong nước nhưng trong những cuốn sách trong nước mà tôi coi là quan trọng nhất, thì đã có tới mấy cuốn hồi ký. Đó cũng chính là những quyển anh Kiên vừa kể.

Vương Trí Nhàn: Chắc hẳn anh, chị không đọc hồi ký để được thoả chí tò mò như cái cách một số người vẫn bảo, khi dúi cho nhau các cuốn sách ở thể tài này.
Đặng Thị Hạnh: Không. Những nét riêng tư hay bí mật mà một số độc giả thường chờ đợi ở các hồi ký với tôi không có ý nghĩa gì. Theo tôi hiểu, cùng lắm, điều đó chỉ khiến sách bán chạy lúc mới xuất bản.

Vương Trí Nhàn: Nhưng dẫu sao việc đi tìm tính chân thực của một tác phẩm văn chương (kể cả các hồi ký) vẫn là một thói quen khó bỏ. Nên hiểu thế nào về sự chân thực này ở hồi ký?

Nguyễn Kiên: Nhớ lại độ sinh hoạt ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp, tôi thường nghĩ ngay tới những phố tản cư, dựng lên tạm bợ mà vẫn có cái vẻ nhộn nhịp riêng, nó là dấu vết của thành thị giữa núi rừng. Giá như bây giờ được biết có ai đó, trong hồi ký của mình, phác họa lại những chi tiết sinh hoạt phố xá hồi đó, hẳn tôi sẽ tìm đọc bằng được. Một số hồi ký sở dĩ đọc chán ngắt vì đại khái toàn kể những chuyện người đọc đã biết rồi. Ngược lại những cuốn hồi ký mà tôi thích thường có cái sinh động của những chi tiết đời thường, kể cả những chi tiết mà bản thân tôi có biết nhưng lại chưa nhận ra hoặc chưa có dịp viết ra. Nếu không có cái vẻ sinh động của đời sống hàng ngày thì còn ai cần đến hồi ký nữa. Nhưng tôi cho rằng những cuốn hồi ký hay nhất phải là những cuốn ghi được những vận động trong tư tưởng. Loại này thì ở ta chưa có.

Đặng Thị Hạnh: Tôi hiểu tính chân thực trong tự thuật và hồi ký theo cái nghĩa miễn sao tác giả xây dựng được diện mạo người cùng thời, và qua chuyện của mình mà phác họa ra cả thời đại là tốt rồi.

Vương Trí Nhàn: Vậy cái gì tạo nên sự hấp dẫn của các hồi ký?

Nguyễn Kiên: Người viết phải có nhu cầu khám phá đời sống. Hồi ký là gì nếu không phải là để nói về thời cũ theo như cái biết của người viết. Trong khi kể chuyện, người viết đóng vai trò một nhân chứng. Sự trung thành với tài liệu ở thời điểm mà mình nhắc tới tự nó đã có sức mời gọi người đọc. Còn nếu như giờ đây mình nghĩ khác đi về chuyện xảy ra hồi trước thì lại càng thú vị. Ta có quyền viết ra cả hai, nhưng hai chuyện phải tách bạch cho rõ ràng.

Đặng Thị Hạnh: Đã từ lâu chúng ta có thói quen cho rằng chân lý là duy nhất, và chỉ có một số người (trong đó có ta) năm được chân lý đó. Một khi có được cách nghĩ ngược lại, thì hồi ức của con người như được giải phóng, tạo nên rất nhiều hào hứng.

(Theo TT & VH)
Việt Báo (Theo_VietNamNet) Thứ sáu, 04 Tháng bảy 2003

Thất phu hữu trách

Hàn Phi đến nước Tần làm thuyết khách, dâng vua Tần bài văn “Nan ngôn” (Ngại nói): “Bầy tôi là Phi sở dĩ ngại nói là vì: nếu lời nói thuận tai, trơn tru, đẹp đẽ, văn vẻ, hoa mỹ thì bị xem là phù hoa mà không chân thật. Nếu lời nói đôn hậu, cung kính, thẳng thắn, cẩn thận thì bị xem là vụng về không giống người ta. Nếu nói nhiều, dẫn nhiều lại hay so sánh thì bị xem là trống rỗng, vô dụng. Nếu nói tóm tắt, gọn gàng, trình bày thẳng mà không tô vẽ thì bị xem là gay gắt mà không giỏi biện luận. Nếu nói gay gắt đến những người thân cận, nêu rõ từng người thì bị xem là gièm pha và không nể nang người ta. Nếu nói chuyện rộng lớn, sâu xa không thể lường được thì bị xem là huênh hoang, vô dụng. Nếu nói chuyện vụn vặt trong nhà, trình bày hết điều này đến điều khác thì bị xem là thô lậu. Nếu lời nói gần với thế tục, giọng không làm phật lòng người trên thì bị xem là tham sống và nịnh hót người trên. Nếu lời nói khác xa thế tục, coi thường người ta thì bị xem là lừa do. Nếu lời nói lưu loát, nhanh nhẹn, biện luận thông suốt, có nhiều văn vẻ thì bị xem là hoa hòe hoa sói. Còn nếu bỏ văn chương, chỉ cứ theo phép tắc mà trình bày thì bị xem là quê mùa. Nếu luôn đem chuyện Kinh Thi, Kinh Thư nói chuyện bắt chước người xưa thì bị xem là kẻ tụng sách xưa. Chính vì vậy cho nên bầy tôi Phi ngại nói và rất lo lắng”. (Hàn Phi Tử – Thiên III bản dịch của Phan Ngọc).

Đó là cái khó của Hàn Phi Tử ngày trước. Ngày nay, đất nước đang vào vận hội mới, khẩu hiệu “đổi mới hay là chết” chắc vẫn còn ý nghĩa trong ngày hôm nay. Bởi vì, nếu không thoát khỏi nguy cơ tụt hậu mãi thì suy cho cùng vẫn là một kiểu chết. Điều quan trọng là người lãnh đạo cần tháo gỡ cho mọi công dân cái khó mà Hàn Phi đã phải nơm nớp trước đây, người dân thì tự giải tỏa được cái “ngại nói vì rất lo lắng” của người góp ý thì chắc chắn trí tuệ dân tộc được hanh thông, “cơ hội vàng” lại một phen bừng sáng trong tầm tay đất nước.
Đất nước nên hay hư, kẻ thất phu cũng có trách nhiệm là vậy.

Nguồn:
Thể thao văn hóa

Quan niệm của chúng ta về người nông dân đã thay đổi


Nhiều gia đình ở Hà Nội có ô-sin . Họ được sử dụng vào nhiều việc , thông thường là trong nom trẻ con , phục vụ người già yếu, và trở thành nhân công chính trong các việc buôn bán ở nhiều cửa hàng. Nhớ lại mấy năm về trước , và so với tình cảnh gia đình mình bây giờ, nhiều người Hà Nội chưa cần buôn tàu bán bè lớn lao mà chỉ làm ăn bình thường vẫn thở phào , không có ô-sin thì rồi không biết xoay xoả thế nào !
Thế nhưng những ngày gần đây, sự than phiền vì ô-sin đã trở thành câu chuyện đầu miệng . Làm ăn cẩu thả , đập giập bóp bẹp cho qua . Lãng phí , phóng tay áo xô đốt nhà táng giấy , bữa ăn còn hàng bát cơm với lại nửa bát nước mắm cũng đổ xuống cống hết . Ăn bốc ăn bải ăn vụng vô tư. Nói ngọng . Nói trống không. Nói dối thản nhiên, nói dối thành thần .Chẳng có lý do gì cũng cười , bị mắng càng cười vẻ như ta chỉ có thế. Dửng dưng vô cảm . Học đòi một cách vụng về .Nhiều người trong thế “ mắng mãi cũng chán “ , cực chẳng đã phải chấp nhận “ chung sống với ô-sin “ , nhưng lắm lúc nằm bắt tay lên trán nghĩ thấy sợ . Còn đâu là thứ văn hoá gia đình các cụ xưa để lại ?
Gia đình tôi cũng thuộc về những gia đình sống nhờ ô-sin kiểu ấy . Để cho công bằng nhiều lần tôi nói với vợ con: Họ hư một phần lớn cũng là do chúng ta .Thế này nhé : Đến với ta họ có được chúng ta bảo ban huấn luyện gì đâu ; và điều quan trọng, ta thuê họ bằng một mức lương rẻ mạt , làm chăm làm lười như nhau , đời sống chẳng có gì bảo đảm . Hơn nữa nhiều thói xấu bắt đầu từ ta .Chính dân Hà Nội hàng ngày đi làm cũng tìm mọi cách xoay xoả rút ruột nhà nước kiếm thêm, còn trong việc buôn bán làm ăn thì lừa lọc nhau, bà chủ bán hàng mong người giúp việc đánh lừa khách hàng, người nọ lừa người kia. Chỉ đến khi họ mang cái lối sống ấy vào việc gia đình , chúng ta mới lại cáu sườn lên cả một lượt .( Gần đây , tôi nhớ có người trên mặt báo đã khái quát rằng đang xảy ra một quá trình “ người nông thôn làm hỏng người Hà Nội và người Hà Nội làm hỏng người nông thôn “, cả hai đều “ vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân “.)
Vợ tôi nghe đến đây im lặng chỉ bảo là thiên hạ người ta sống thế , mình không sống khác được.
Mặc dầu trong đầu còn nhớ rằng chính cái lối nghĩ “không dám làm gì khác người ‘, “trông thiên hạ mà sống” thực ra vốn xuất phát từ các làng quê , song tôi thừa biết nói gì thêm cũng vô ích . Thôi chỉ có cách lặng im !
Chết nỗi do công việc của một người viết văn viết báo ,câu chuyện hàng ngày nói trên không ra khỏi đầu tôi mà nó còn làm tôi cứ phải vân vi thêm mãi . Nhà cửa mình làm do thợ các tỉnh lên xây , con cái trước khi đến trường do ô – sin dạy dỗ , vào một cửa hàng ăn nhận ra ngay người mang miếng ngon miếng sốt lên cho mình là “bà con ngoại tỉnh” mới được tuyển dụng .Có một lần tôi đã ghi được một con số , hàng ngày Hà Nội có khoảng 500.000 người các tỉnh đến làm ăn . Tức ra đến đường ta gặp người nhập cư , và cả Hà Nội thành một thành phố nhập cư chịu sự chi phối rõ rệt của cách sống nông thôn ( có lẽ đó cũng là một lý do khiến cho một nhà báo người Mỹ ở Việt Nam vài chục năm nay bảo rằng Hà Nội là một cái làng lớn ). Nếp sống phổ biến của những người nhân danh chân quê thường cũng là tuỳ tiện cẩu thả , nói thách nói dối , nhân danh sự nghèo khổ muốn làm gì thì làm , kể cả phạm luật: cứ trông mấy cô bán hoa quả dắt xe đạp đứng ở các ngã tư đầy xe cộ thì biết .
Giá mà tôi chỉ dừng lại ở đấy thì cũng đỡ . Giống như một thứ máy mồm máy miệng, tôi đẩy liên tưởng của mình đi xa hơn . Tôi nhớ đến những bài học mà học trò bao đời vẫn được nhà trường dạy dỗ : rằng do cuộc sống vất vả của mình nên những người chân lấm tay bùn thường là những người có phẩm cách tốt đẹp . Họ thật thà trung hậu ; họ nhân ái tiết kiệm ; họ siêng năng làm lụng ; họ “lành cho sạch rách cho thơm” … Những người ấy còn không ? Hay là tôi phải nghĩ khác và những người viết văn phải viết khác đi về họ ? .
Đến bây giờ thì bạn đọc thân mến đã hiểu lời tôi rào đón ban đầu rồi chứ . Tôi biết những liên hệ của tôi vừa rồi là mang tiếng suy diễn . Tôi vừa nghĩ vừa sợ tội và viết ra trong ngần ngại . Nhưng tôi biết dựa vào đâu để hiểu nông thôn bây giờ ? Chẳng nhẽ những người nông dân lên thành phố vài ba ngày đã không phải là nông dân nữa và tôi chỉ có quyền sống với người nông dân trong mộng ?
Ghép tôi vào tội suy diễn cũng được, nhưng đâu là hình ảnh chân thực của người nông dân thời nay , ai chỉ giùm tôi bây giờ ?
Tết đã đến nơi rồi . Tết có nghĩa là phố phường sẽ chỉ còn người Hà Nội với nhau . Tôi tưởng tượng ở nhiều làng quê các tỉnh lân cận , trong các gia đình , ông bố bà mẹ sung sướng đón nhận đứa con lên tỉnh làm ăn giờ về gặp lại họ. Các em các cháu còn mang về cho họ tiền , nhiều khi là tiền triệu .Thế nhưng trong các gia đình này liệu có ông bố bà mẹ nào chợt nhận ra rằng con mình bây giờ hư quá , mất hết cả nết ngoan ngoãn thuần hậu như ngày trước. Tôi se lòng lại khi nghĩ rằng người Hà Nội có lỗi trong việc hàng ngày hàng giờ đẻ thêm ra những công dân trẻ dở dang nham nhở , nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tôi càng buồn thêm khi nghe mọi người bảo rằng bây giờ ở các làng quê cũng chẳng còn ông bố bà mẹ nào sợ con hư đâu, chỉ cần có tiền là họ vui rồi, và họ cũng đang lây cả cách nghĩ cách sống mà bọn trẻ mang từ thành phố về .Tôi hiểu rằng nông thôn ta phải giàu lên chứ không thể nghèo mãi như cũ . Thế nhưng chẳng nhẽ giữa một bên là nếp sống tốt đẹp tử tế và một bên là sự giàu có hơn lên , chúng ta chỉ có quyền chọn một ?

HỘI NHẬP VĂN HÓA, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ

(Trò chuyện với Giáo sư Hà Văn Tấn, nhà sử học, nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ Việt Nam)

Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và bước ra sân chơi lớn của thế giới, với một số người, hình như là quá mới mẻ, chưa hề có tiền lệ trong quá khứ.
Song quan sát sự hình thành và đặc điểm của bất cứ nền văn hóa nào, người ta đều thấy ở đó không chỉ có sự vận động nội tại mà còn có vai trò trọng đại của yếu tố hội nhập. Với văn hóa Việt Nam cũng vậy.
Trong sự định hướng cho công cuộc tiếp xúc làm ăn trước mắt với thế giới, rất cần trở lại với các bài học rút ra từ lịch sử tiếp xúc, giao lưu, cộng hưởng….của văn hóa ta với các nền văn hóa khác.
Xuất phát từ phương hướng suy nghĩ đó, chúng tôi đã có cuộc trao đổi ngắn với giáo sư sử học Hà Văn Tấn. Bài phỏng vấn được thực hiện từ mười năm trước, nhưng theo chúng tôi đã bao quát đầy đủ các vấn đề của hội nhập văn hóa hôm nay. Tiếp tục đọc

Một ít rào cản tâm lý khó vượt

Nhiều lần đi mua thuốc cho người thân trong gia đình , tôi bắt gặp trong tôi một sự yếu lòng kỳ cục : trước cùng một tên thuốc , mặc dầu đã tự nhủ hàng nội dạo này cũng tốt lắm , giá lại thường hạ , song rút cục trừ phi không đủ tiền thì thôi, chứ nếu có đủ tiền , thả nào tôi cũng mua thuốc ngoại .
Hỏi sang bè bạn và người quen , tôi thấy họ đều nói là họ cũng có tâm lý giống mình và hiện tượng lặp lại không phải trong chuyện mua thuốc mà còn trong nhiều chuyện khác .
Đến khi được đọc bài viết của một bạn người Anh khuyên người Việt nên dùng hàng do Việt nam sản xuất – một trong những bài viết theo tôi là đáng nhớ nhất của báo Tuổi trẻ 2003 – thì càng giật mình .
Lời khuyên quá đúng đi và phải nói thật là chúng ta không khỏi cảm thấy xấu hổ khi được nghe những lời khuyên như vậy . Thế nhưng tại sao nhiều người đã biết đó là một việc cần mà không thực hiện nổi . Thiếu làm chủ bản thân . Tuỳ tiện trong cư xử hàng ngày …Cái đó có . Tuy nhiên sau đó còn gì nữa ?
Điều dễ nhận thấy là trong chuyện sính dùng hàng ngoại , có sự có mặt của tâm lý ham hưởng thụ . Từ những năm chiến tranh vất vả bước ra , chúng ta cảm thấy mình khổ quá , thiệt thòi quá. Loá mắt trước sự phát triển của thế giới , thấy của người ta cái gì cũng đẹp cũng tốt , trong thâm tâm mỗi người không khỏi len lỏi cái ý nghĩ chắc chẳng bao giờ chúng ta làm nổi , và giá kể được dùng một lần thì có chết cũng đáng . Ta muốn cho ta , cho những người thân của ta , được hưởng những sung sướng nhất của cuộc làm người thời nay , đến nỗi quên hẳn đi cái hoàn cảnh chúng ta đang sống .
Nhưng thử nhìn kỹ vào hành động hàng ngày của bản thân mình và những người quanh mình , tôi cho rằng ở đây còn có vấn đề tâm lý sâu xa hơn .
Nay đang là lúc toàn xã hội người nào cũng lăn xả vào công việc . Niềm kinh hãi của nhiều người ở tuổi sáu mươi như tôi mỗi sáng trở dạy là đi lại như thế nào bây giờ . Đường phố đông nghịt . Khuôn mặt nào cũng cháy lên niềm khát vọng . Sự mải miết lây truyền từ người nọ sang người kia , và trong thâm tâm ta chỉ sợ chậm chân một bước thì sẽ bị thiệt . Song kết quả ra sao ? Tốc độ giao thông trên các thành phố ở ta chắc chắn là loại chậm nhất trên thế giới .
Một tình trạng tương tự cũng đang xảy ra trong hoạt động sản xuất làm ăn . Cửa hàng mở thêm công ty khai trương ngày một nhiều thêm , nhưng hàng làm ra chỉ toàn những thứ hàng tầm tầm , hay nói theo mốt bây giờ , là second hand , giá cao song chất lượng kém , phần nhiều không thể xuất khẩu đã đành , mà người trong nước hình như cũng bất đắc dĩ mới phải dùng . Đến như trong sự giáo dục thì mặc dù mỗi kỳ thi đại học là một mùa náo loạn , mà việc học hành cũng có ra sao , sinh viên ra trường ngô nghê chả cơ quan nào muốn nhận và ai người có tiền bây giờ chỉ chăm chăm cho con đi học nước ngoài . Hình như cái nghiệp của người mình là chỉ làm được như vậy (!) . Sự thiếu lòng tin kéo dài triền miên trong nhiều năm ròng , cho nên nó mới có cái tình trạng bất công vô lý như tôi vừa nói ở đầu , tức là biết rằng thuốc nội rẻ hơn và đôi khi có thể tốt hơn mà vẫn ngại dùng .
Không phải ngày hôm nay mà theo chỗ tôi đọc được , cả lối làm hàng chợ lẫn thói quen chê đồ nội hoá vốn có ở người Việt Nam từ lâu . Đầu thế kỷ XX , Phan Kế Bính và Nguyễn Văn Vĩnh từng đã nhiều lần chế giễu thói quen kén đồ ngoại của dân mình . Còn Thạch Lam , trong Hà Nội băm sáu phố phường thì không quên kể một chuyện nhỏ : một chú khách (Hoa kiều ) bán mằn thắn ở Hà Nôi rất đông khách , vì hàng chú làm nói như ngôn ngữ hiện nay “ rất chi là chuẩn “…Rồi ông so sánh : “Cái chí của người Việt Nam ta cũng khác : món quà bán thì cứ muốn bán cho rẻ và nhiều , thích thế để xiêu lòng khách còn cái phẩm có tốt hay không , không quan tâm đến . Cho nên bát mằn thắn của người mình thì có đủ cả rau thơm , xá xíu , đôi khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt . Mằn thắn thì làm rất to bột, nặn xuề xoà để trông càng to hơn , nhưng nhân thì hết sức kín đáo và nhỏ bé vì được một tí thịt chỗ bàng nhạc mua rẻ của các hàng thịt lậu ôi ở ngoại ô, lúc trút hàng bán rẻ . Nước cũng rất nhiều nữa , dềnh lên như ao sau trận mưa , nhưng nhạt ví như nước bèo .Tất cả chỉ bán có năm xu . Tưởng đắt hàng là phải . Thế mà không . Khó mà lấy nhiều hoa mắt người ta được .”
Miễn là thức hàng bán xứng với đồng tiền , đừng lừa dối người mua , của ngon thì người ta ăn đắt rẻ không kỳ quản . Đó là kết luận mà Thạch Lam rút ra từ câu chuyện “cái gì cũng làm dối làm dá cho xong chuyện “.Tôi thì tôi muốn đề nghị , kết hợp với việc chỉ ra cái thói quen sính hàng ngoại nói trên , chúng ta cùng ngược lên để xét đến các khía cạnh tâm lý vốn kết tầng ổn định ở dân mình . Trở lại với ông cha là đúng , nhưng giữ nguyên những thói xấu của ông cha thì lại là điều không nên ./.

tuoi tre online

Lố nhố một đám đông lộn xộn


Nông thôn, làng quê, người nông dân… nghĩ tới xã hội Việt Nam là phải nói ngay tới cái bộ phận thiết yếu đó. Có lẽ bởi vậy mà trong truyện dài “Thiếu quê hương” ( in lần đầu năm 1940, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 2006), mặc dù lấy đô thị hiện đại là địa bàn chủ yếu của các nhân vật, song cuối truyện nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải một lần đưa họ về làng quê.
Ấy là khi Bạch – nhân vật chính – tính chuyện nhập vào một đoàn múa dân gian để đưa sang đấu xảo (như Hội chợ ngày nay) tận bên San Francisco nước Mỹ. Nhưng nông thôn xuất hiện thì cũng là lúc cái đình xuất hiện. “Bạch ướm chuyện mới gọi đến việc tuồng hát Xuân Phả có mấy câu thì ông lý đã nhanh nhảu mời chàng ra đình xem”.
Trong làng xóm xưa, hàng ngày dân chúng sống chủ yếu với cái gia đình của mình. Những thiết chế công cộng như sân chơi chung câu lạc bộ nhà văn hóa thường thấy ở các nước phương Tây, ở đây gần như không có. Trừ các phiên chợ, ngoài ra ở hầu như tất cả các làng xóm rất ít có những địa điểm để người ta gặp gỡ. Chỉ còn có đình.
Chức năng chủ yếu của đình là phục vụ cho các loại việc làng. Chúng ta hẳn còn nhớ cái đình từng được nhắc tới nhiều trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố. Đó là nơi diễn ra những cuộc tranh cãi của một bộ máy lý dịch kém cỏi. Là nơi đám cường hào mưu đồ chống phá nhau.
Trong những buổi họp chung có tính chất chính thức ở đình, dân chúng chỉ làm nền cho đám lý dịch. Đây là khía cạnh đầu tiên của các sinh hoạt đình làng. Trước mặt chúng ta là một đám đông thụ động. Họ không hiểu gì lắm về các trật tự ngôi thứ do bọn cường hào lập nên. Trong đám đông, con người gần như lẫn vào nhau, tâm trí mỗi người bị thu hút cả vào chuyện quan hệ với người bên cạnh, khiến cho người ta càng thấy rõ là thực ra các nhân cách chưa thành hình, chỉ có cái phần bản năng trong mỗi cá nhân cựa quậy rồi lẫn đi ngay.
Tuy nhiên, ở làng nào cũng vậy, đình còn là địa điểm diễn ra các loại sinh hoạt tinh thần khác – gọi chung là việc đám. Ở đồng bằng bắc bộ, những ngày đám này, các làng thường gọi các gánh chèo về biểu diễn ngay trên sân đình. Nam Cao có một truyện ngắn mang tên “Mua danh”. Nội dung truyện là anh cu Bịch nhân được giàn trầu tốt, bỏ ra cả trăm đồng chân hương trưởng trong làng, dẫn tới cái cảnh cốt truyện, khi làng có đám, anh ta được ra đình làm chân “dẹp đám”( nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là giữ trật tự). Và sự đời là như thế này: trong khi Bịch có vẻ hào hứng thì dân chung quanh buông ra đủ lời châm chọc khích bác. Họ lợi dụng ngay sự lúng túng của anh ta để chen lấn xô đẩy làm loạn xì ngầu ngay ngoài sân đình.
Nam Cao có thể là không cố ý, nhưng trong lúc nhân tiện nói về việc mua quan bán chức ở nông thôn cũ, đã vẽ ra một khía cạnh khác của sinh hoạt tập thể: từ chỗ nép mình trong một trật tự giả tạo, lúc này dân chúng đã trở thành một đám đông lộn xộn.
Nguyễn Tuân cũng có cảm nhận tương tự. Trong lần duy nhất viết về nông thôn hình ảnh các đám đông ở nơi công cộng để lại trong ông nhiều ấn tượng không lấy gì làm đẹp.
“Theo cái lối họp làng bàn chuyện lúc đã nói thì tất cả đều nhao nhao lên và lúc đã nói thì tất cả đều nhao nhao lên và lúc đã im thì tất cả đều nín thít…cả ba bản rượu đều lừng khừng kẻ hút thuốc người véo xôi, xoa kẽ chân hoặc nhìn lên rui kèo”.
Ta nhớ là lúc này những người dân được tập họp để bàn chuyện đi đấu xảo. Ngay lập tức thấy nổi lên những thắc mắc về quyền lợi. Ra cái vẻ thạo đời, một người đặt những câu hỏi nghi vấn chung quanh cái miếng lợi từ đâu mang tới. Và cả đám đông như bị kích động. Cái người thắc mắc lúc trước giờ tiếp tục tuyên ngôn tuyên bố hùng hồn:
“Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này là chúng ông đi Hoa Kỳ về mà đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp chúng ông, tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem”.
Có cảm tưởng đây là lúc những oán thù cũ được khơi dậy. Sau những ngày dài sống nhẫn nhục chịu đựng, người ta có dịp thức tỉnh. Họ thấy lâu nay họ quá thiệt thòi và lại nép vế nữa. Họ tính chuyện trả thù.
Ấy vậy mà đấy chẳng qua chỉ là giây phút bốc đồng. Ngay khi con người hùng hổ nói trên đẩy hành động lên tới cao trào “quẳng một cái bát đèn ra ngoài sân, vỡ tan”, bị các cụ bàn giữa mắng, anh ta lại ôm mặt khóc hu hu “lạy các cụ con khổ lắm”.
Lâu nay sinh hoạt đình làng nói riêng và sinh hoạt cộng đồng nói chung, thường được miêu tả với màu sắc thơ mộng. Đến với thơ Nguyễn Bính chẳng hạn thì mái đình chỉ còn là tượng trưng của tinh hoa quê hương làng xã.
Nhưng nhiều tài liệu nghiên cứu xã hội học khởi đi từ Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” qua Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, Nguyễn Văn Huyên trong “Văn minh Việt Nam” cho tới cả những điều tra của Vũ Văn Hiền trên tạp chí “Thanh Nghị” (1945) … đều cho thấy những bức tranh đại khái như Nam Cao và Nguyễn Tuân vẽ ra ở trên là xác thực. Trước 1945, nhiều miền quê Việt Nam là những vùng nông thôn trì truệ. Sau cái bề ngoài lặng lẽ ẩn mình dưới lũy tre xanh là cả một thực thể ruỗng nát; những gì cựa quậy bên trong thực ra chỉ lồng bồng lửa rơm chóng cháy chóng tàn, cố nhiên là không đi tới đâu, chẳng dẫn tới cái gì.
Nguồn:
Nông thôn Tết Kỷ Sửu

Làm quen với bất lực !

Truyện vừa Cha và con và…của nhà văn Nguyễn Khải viết đã lâu, từ 1978.Truyện kể về một cha đạo rõ ràng là có thiện chí, nhưng làm việc gì cũng hỏng. Chủ đề của truyện là sự bất lực.
Thiên truyện ấy thường trở lại trong đầu óc tôi khi phải đối mặt với nhiều chuyện xảy ra hàng ngày. Chẳng hạn, có một dạo Hà Nội chủ trương phạt thật nặng những xe chở vật liệu xây dựng rơi vãi trên đường, gây ô nhiễm bẩn thỉu. Nhưng kiểm tra 43 xe thì đã có hơn ba chục xe có sai phạm. Sau không thấy nhắc lại việc này nữa. Định phân luồng xe chạy trên đường Kim Mã, nhưng chỉ là được vài ngày rồi cũng phải bỏ : không lấy đâu ra người để lúc nào cũng đứng đấy uốn nắn mọi người. Mà làm thì chậm, vừa làm đã tắc đường.
Hàng ngày có biết bao nhiêu chuyện như thế. Cẩu thả, tuỳ tiện, bát nháo, luộm thuộm đã trở thành không thể kiểm soát. Nhưng do không uốn nắn từ đầu, nay không thay đổi nổi nữa.

Hồi đầu những năm 90, xe máy còn ít, có lúc những chiếc Honda Suzuki đã trở thành dấu hiệu của sự khá giả, nhiều bạn trẻ bảo rằng muốn đi liên hệ công tác với ai, mà cứ thũng thĩnh cái xe đạp xe không xong, nên phải sắm bằng được xe máy. Nhưng một vài năm gần đây, nhiều người đã bắt đầu cảm thấy cái xe là cả một sự phiền. Mà thành phố gồm toàn những xe máy là một thành phố lộn xộn, ô nhiễm, mà lại hung dữ, hỗn loạn dễ gây tai nạn. Nhiều người trong đó có tôi bắt đầu có cái mơ ước “ dở hơi “ là bao giờ trút bỏ được xe máy. Nhưng rồi thấy ngay đó là một ý nghĩ không tưởng : Bao giờ mới làm lại được thành phố ? Bao giờ mới có đường xá mới ? Bao giờ cho các tuyến xe công cộng đáp ứng đầy đủ nhu cầu đi lại. Bao giờ ư? Lâu lắm !

Không biết bây giờ có còn không chứ một dạo có tin mấy quận huyện ngoại thành thuộc TP Hồ Chí Minh đang phải sống chung với muỗi. Chết một nỗi là không biết cách nào để trị Tin đưa là mặc dù đã sử dụng đến đủ các biện pháp mạnh là dùng hoá chất để xịt., muỗi chỉ bớt được độ 50%. Và xịt xong chỉ đỡ độ 5 ngày, tới ngày thứ sáu muỗi lại sinh sôi nẩy nở. Mỗi mùa mưa là một mùa kinh hoàng

Khi giải thích việc phải dùng hoá chất để xịt muỗi, một quan chức y tế của TP Hồ Chí Minh giải thích “ môi trường bây giờ còn ô nhiễm hơn hoá chất “. Tôi hiểu ông muốn nói sử dụng hoá chất đúng là có hại thật,nhưng môi trường bây giờ đã hỏng nặng, cái hại của hoá chất cũng chẳng thấm thía gì.
Thế thì nghĩa là vô kế khả thi ? Và “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, cái câu Kiều ấy lại thấy ứng nghiệm.

Làng, phố và “nỗi buồn thương nhân”

Là một tên tuổi quen thuộc trong giới nghiên cứu văn học, gần đây Vương Trí Nhàn được công chúng tìm đọc nhiều hơn bởi những nghiên cứu và phát biểu ở góc độ một nhà nghiên cứu văn hóa. Phải nói rằng, cách tiếp cận văn hóa của ông ngay từ đầu đã dựa hẳn trên những nghiên cứu công phu để bứt khỏi những lối mòn truyền thống và sớm định hình một “phong cách Vương Trí Nhàn” với những chủ kiến sâu sắc, không câu nệ, những nhận định thẳng thắn, có trách nhiệm. Gần 20 năm nay, những kiến thức tự bồi đắp về lịch sử, dân tộc học, xã hội học, kinh tế và thương mại … đã giúp ông kiên trì trên con đường dích dắc, nhiều ngả rẽ, lắm rào chắn của dòng chảy văn hóa đương đại, ngõ hầu tìm kiếm được đâu là chân lý của sự phát triển nhìn từ góc độ văn hóa, nếu có thể nói như vậy. Trên hành trình ấy, Vương Trí Nhàn luôn luôn muốn được chia sẻ phản biện trao đổi. Trong phạm vi một cuộc trò chuyện đầu năm 2009 với Doanh nhân Sài Gòn cuối tháng, ông đã sơ bộ trình bày một vài chiêm nghiệm của mình liên quan đến làng, phố và…nghề buôn.

Sự bám rễ và ngự trị của tư duy tiểu nông


Tạm rời xa những nghiên cứu về thi pháp trong văn chương, nhà nghiên cứu trong ông đã đi theo một lịch trình như thế nào và rút cục đã tiếp cận được những vấn đề “thi pháp” của đời sống ra sao?

Vương Trí Nhàn: Văn hóa, đương nhiên không chỉ là “cờ đèn, kèn trống”, triết lý, tôn giáo, các loại hình nghệ thuật … mà còn hiện hữu trong lối sống, cách thức làm ăn, sản xuất, buôn bán, nuôi dạy con cái, quan hệ làng xóm, gia đình. Vì vậy, khởi đầu từ nghiên cứu cơ sở văn hoá của văn học, tôi tự thấy cần “ đánh lan sang” các vấn đề văn hóa nói chung, trong đó bao gồm cả các vấn đề về lịch sử và con người, sự phát triển của xã hội cũng như tư duy của người Việt. Ai mà chả biết đó là những vấn đề quá lớn. Nhưng nếu không có người thử lao vào thì bao giờ nó mới được cả xã hội cùng quan tâm ? Tôi nghĩ vậy, nên không ngại những cú bươu đầu sứt trán, cứ kiên trì làm, vừa làm vừa học hỏi. Thú thực là trong cuộc phiêu lưu này, tôi cảm thấy khá nhiều hào hứng, mà hào hứng nhất có vẻ như có nhiều người muốn nghe mình hơn, mình đang cần cho mọi người hơn. Chẳng hạn khi tôi đề xuất “ Thử nhìn những biến động kinh tế xã hội hiện nay dưới góc độ văn hóa” thì được nhiều bạn động viên, bảo cứ thử trình bày đi rồi cùng trao đổi thêm. Thì ra trước đây, chúng ta chỉ chú tâm nghiên cứu về con người Việt Nam yêu nước, con người đánh giặc mà hầu như chưa có những nghiên cứu cần thiết về khía cạnh bình thường nhất của con người Việt Nam từ xưa, nó đã và đang bộc lộ trong con người Việt Nam hôm nay !

Và ông đã rút ra cho điều gì đầu tiên có giá trị cho hướng nghiên cứu mới đó của mình ?

– Hẳn nhiều bạn còn nhớ, trên đường tìm hiểu tính cách dân tộc, mấy năm trước tôi tập trung nhiều vào việc tìm hiếu khả năng tự nhận thức của người Việt và đã nhận được phản hồi khác nhau, cả ủng hộ lẫn bài bác. Đang loay hoay trên đương đi tiếp, tôi chợt nhận ra một điều nếu bảo trong đời sống nói chung người Việt Nam nhiều nhược điểm, hẳn nhiều người còn phân vân; nhưng nếu nhận xét “Người Việt Nam sản xuất, kinh doanh kém”, sẽ nhận được nhiều đồng tình. Vì rõ ràng ai cũng thấy hàng hóa của ta từ xưa đến nay làm ra vẫn rất nghèo nàn về chủng loại, đơn giản về mẫu mã, hạn chế về chất lượng… từ nhà cửa, đường sá đến các vật phẩm thông thường đôi giày đôi dép cái chai cái lọ, cái gì chúng ta cũng quá đơn sơ. Chúng ta kém không phải vì chúng ta nghèo, không được thiên nhiên ưu đãi. Ngược lại, cái chính là chúng ta không biết tận dụng thuận lợi, không biết tổ chức sản xuất, không hình dung ra một đời sống như nó có thể có và đang bày ra trong thế giới hiện đại.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên trước hết là do những quan niệm chật hẹp, đơn giản về thế giới, ở tầm mắt hạn chế, ở sự thiếu nỗ lực vươn tới cái hoàn thiện, hoàn hảo…của người Việt.

Nói thẳng ra, tư duy tiểu nông vẫn đang ngự trị đời sống đương đại của chúng ta. Những lạc hậu, cổ hủ trong quá khứ vẫn đang níu kéo chúng ta.

Có một hiện tượng mà tôi tạm mô tả là sự suy đồi của nông thôn trong đời sống hiện đại. Người nông dân bị bứt ra khỏi ruộng đất, tràn ra thành phố quăng mình kiếm sống. Cuộc mưu sinh cuồng nhiệt đó hay ít dở nhiều, không cho họ nhiều cơ hội nâng cao trình độ làm người, đã biến họ thành nô lệ cho những nhu cầu vật chất, hưởng thụ…

Một cái nhìn chính xác về “căn tính nông dân” trong mỗi chúng ta hôm nay, thưa ông?

– Đúng vậy, cái điều tôi vừa nói về người nông dân thực ra có mặt trong mỗi chúng ta dù làm gì ở đâu thì chúng ta vẫn không rời bỏ nổi nó.

Tạm kể ra đây những thói quen xấu như: sống tạm bợ, ăn tối lo mai, không tính toán lâu dài, lãng phí, ít chịu đi xa, không dám sống khác đi so với những gì vốn có… Nói chung, người mình ít đặt đầu óc vào sự sống với tất cả những biểu hiện phong phú của nó; ít nghĩ chu đáo về mình, về người khác và về xã hội.

Tư duy tiểu nông cũng là nguyên nhân sâu xa khiến nền giáo dục ở ta từ xưa đến nay kém phát triển. Vẫn là quan niệm đơn sơ về sự học của bà mẹ nông dân mù chữ dắt con đến gửi thầy đồ làng “xin thầy dạy cháu mấy chữ để biết đọc tên mình ký được tờ văn tự , hiểu vài điều lễ nghĩa ”. Ấy cái loại mới đôi chữ võ vẽ thôi đó, sau cũng được xếp vào hàng “có học” rồi, hỏi làm sao mà dám tự nhận là xã hội có một lớp người biết học !

Chúng ta đã quen dễ dãi với bản thân, quen không đặt yêu cầu cao với chính mình quá rồi. Gần đây lại tư tưởng bình quân chi phối, với một nền kinh tế như thế này mà đòi hỏi giáo dục phổ cập, thanh thiếu niên đến tuổi ai cũng được đi học,– thì trách chi trường không ra trường lớp không ra lớp, sinh viên đại học ra trường không cơ quan xí nghiệp nào muốn nhận.

Sự trì trệ trong giáo dục như tất cả đang biết, đã là một minh chứng cho sự phát triển theo lối ăn xổi ở thì và thiếu nhìn xa trông rộng. Tôi lo cho những nếp cũ bám rễ trong ta sâu sắc quá, khó mà gột rửa được ! Khủng hoảng kinh tế thì còn có thể hồi phục được chứ sự khủng hoảng, xuống cấp về đạo đức, văn hóa thì rất khó chữa, rất đáng lo ngại bởi nó sẽ làm cho sự phát triển kinh tế trở nên vô nghĩa. Mà đấy là lạc quan rồi giả dụ thế thôi, chứ thiếu nền tảng chắc chắn về văn hoá giáo dục thì phát triển kinh tế làm sao bền vững được.

“Đô thị lép vế” và Hà Nội “chưa bao giờ là chính mình”


Gần đây có một vấn đề thời sự là vai trò của thủ đô nói riêng và đô thị nói chung trong sự phát triển xã hội. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, chứng kiến Hà Nội – “Kẻ Chợ” thành Hà Nội – phố trong hơn nửa thế kỷ qua, ông nghĩ như thế nào về vấn đề này ?

– Trên đại thể tôi có hai ý kiến, thứ nhất trong lịch sử chúng ta chưa có những đô thị như chuẩn mực chung về đô thị mà nước nào người ta cũng công nhận. Và thứ hai trong tâm lý xã hội cái đô thị ốm yếu ọp ẹp đó lại chịu rất nhiều thành kiến. Đến lượt mình, sự yếu kém của đô thị đã làm chậm lại sự phát triển của xã hội.

Bây giờ nói cụ thể về Hà Nội. Trong quá khứ Hà Nội của chúng ta hình thành bởi những mục đích quân sự (gắn liền với các toà thành), rồi dặm thêm vào đó mới có thêm những dãy chợ, người bán hàng phần chủ yếu là nông dân và thợ thủ công đem sản vật ở quê lên bán, có định cư ở đây cũng tạm thời, bụng dạ vẫn để cả ở quê. Bước sang thời hiện đại, Hà Nôi có một thời gian định hình là đầu thế kỷ XX. Ở đây, những gì tốt đẹp đã được sàng lọc để trụ lại được( ví dụ, người đem hàng hóa lên đô thị bán, hàng đẹp mới bán được, hàng xấu phải mang về, thợ giỏi mới sống được ở Hà Nội thợ kém chỉ thất nghiệp). Lúc đó nó trở thành đô thị với đúng nghiã của nó, nơi thu hút những tinh hoa của xã hội.

Nhưng rồi mấy chục năm trời đất nước chìm trong biến động, người ở các tỉnh lẻ dồn về ào ạt tự phát. Lần đổ bộ thứ nhất là trong chiến tranh, lần đổ bộ thứ hai là cuộc mưu sinh hỗn độn trong thời hậu chiến. Xét về cấu trúc dân cư Hà Nội chỉ còn là đô thị của những người nhập cư. Khi những lớp người nhập cư qua các thời kỳ chồng lên nhau, tinh chất của Hà Nội ngày càng trở nên mong manh và dễ bị tàn phá. Nói Hà Nội chưa bao giờ trở lại là chính mình chắc cũng không phải là quá.

Trong điều kiện chiến tranh kéo dài cả đất nước như là có sự thụt lùi nói chung, Hà Nội có trở nên nham nhở tầm thường đi cũng là lẽ đương nhiên. Nền văn hoá tự phát của nông thôn xô tới ngự trị và chi phối các đô thị nói chung, không chỉ Hà Nội mà cả TP HCM và một số đô thị khác, khiến chúng trở thành những đô thị lép vế, đô thị bị tàn phá, bị kìm hãm. Điều đó đem lại thiệt thòi chung cho tất cả chúng ta.

Đâu là lý do khiến cho người ta bảo cả Hà Nội là một“cái làng lớn” ?

– Phải nói cách định nghĩa về Hà Nội như thế này đã có một lịch sử hình thành lâu dài. Tức khái niệm này có sức tồn tai dai dẳng không ai bác bỏ nổi.

Ban đầu một số người rụt rè e ngại khi buột ra nhận xét như vậy. Nhưng càng ngày thực tế càng chứng minh đúng là như thế, Hà Nội của chúng ta nông thôn quá quê mùa quá. Cho đến hiện nay nhiều người vẫn tự hào cho rằng ăn quà ở vỉa hè, ngồi bên cống rãnh mà tán gẫu, hút thuốc lào rít sòng sọc đi lại xiên xẹo bừa bãi…là hay, là tự do, là “ Hà Nội”…. Tức là cái tốt đẹp không được khơi dậy, phần tùy tiện bừa bãi lại được lơi lỏng.

Xảy ra tình trạng “lại gạo” của các đô thị, phố mà như làng, muốn bảo làng nào là phố là phường cũng được.

Một điều ai đã sống hết với những thăng trầm của Hà Nội lâu hẳn thấy rõ là trước 1945, người tứ xứ lên đô thị luôn luôn có ý thức học hỏi, họ biết rằng cần phải từ bỏ cái nếp sống tuỳ tiện ở các làng quê mới trở thành người đô thị chân chính. Từ sau 1945, thì khác, người nông thôn lên đô thị mà vẫn giữ nguyên cái nếp sống sẵn có, lại luôn luôn cho rằng sống như mình mới là thuần hậu tốt đẹp giữ vững truyền thống chân quê. Cần nói thêm là như vậy trong khi góp phần vào việc níu kéo Hà Nội, họ cũng bỏ qua luôn cái khả năng làm thay đổi đời mình tự nâng mình lên để trở thành con người hiện đại.

Nhưng mà người ta vẫn tự hào là đã ở Hà Nội, có hộ tịch Hà Nội. Họ bảo nhau “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Ông có thường nghĩ kiểu như vậy? Phải hiểu vấn đề này thế nào cho chính xác?

– Tôi không thích câu ca dao này. Tôi đã nói chất Hà Nội khá mong manh, nhưng thực tế là bao giờ nó cũng vẫn còn tồn tại, và người Hà Nội thực sự luôn luôn hướng về nó, luôn luôn cảm thấy mình chưa xứng đáng với cái danh hiệu cao quý đó. Chính lớp Hà Nội mới nhập cư lại có sự tự hào quàng xiên về cái danh hão như bạn vừa nói. Nếu là người Hà Nội thực sự, họ sẽ không bao giờ nói thế, không bao giờ tự cho phép mình không thanh lịch chứ đừng nói là trâng tráo khoe khoang kiểu đó.

“Doanh nho” bên Tàu, “con buôn” bên ta


Như trên ông vừa nói trong khi phiêu lưu ông có lúc “đánh lan sang” cả các vấn đề kinh tế và muốn thử nhìn các vấn đề kinh tế dưới góc độ văn hoá. Trong bối cảnh “làng” và “ phố như trên ông hiểu sao về tư duy kinh tế của người mình ? Khi đi vào tìm hiểu lai lịch, xuất xứ, đặc điểm của những người Việt chuyên làm kinh tế tức là các doanh nhân Việt qua các thời kỳ lịch sử, điều gì khiến ông băn khoăn nhất?

– Xin thữ bắt đầu bằng một cách tiếp cận tạm gọi là “ tiếp cận ngôn ngữ học “. Nói nôm na là đã có lúc buồn tình tôi thử giở từ điển ra soi. Và tôi thấy gì ? Hoá ra ngay trong tư duy đã thấy người mình khác nhiều so với các nước. “Buôn ”, tại Từ điển của ông Hoàng Phê, chỉ được tóm gọn lại “ mua để bán lấy lãi”. Từ điển của Hội Khai trí Tiến Đức năm 1931 thì ghi là “mua để mà bán lấy lợi. ” Trong khi đó Tân hoa tự điển của Trung Quốc bản năm 2007 tôi đang có trong tay định nghĩa chữ thương trong thương nghiệp “ là hoạt động kinh tế lấy phương thức mua bán để lưu thông hàng hóa”. Hai cách định nghĩa đó cho thấy rõ người mình hiểu công việc buôn bán đơn sơ thế nào trong khi lẽ ra nó phải được quan niệm một cách đầy đủ ra sao.

Theo nghĩa hiện đại hoạt động thương nghiệp hay nói nôm na buôn bán là gì ? Là người ta phát hiện ra nhu cầu và tổ chức sản xuất để thoả mãn nhu cầu đó, hoạt động diễn ra trên phạm vi rộng rãi và ngày càng được đẩy tới theo một quy mô rộng lớn hơn so với từng làng nhỏ hẹp. Vòn ở ta thì sao. Tìm hiểu hoạt động buôn bán của người Việt, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế lớp trước như Vũ Văn Hiền Vũ Quốc Thúc đã chỉ rõ nó nằm trong tầm khống chế của tư duy tiểu nông. Đại khái ở ta buôn bán chỉ được hiểu đơn giản là “buôn thúng bán mẹt” “ buôn đầu chợ bán cuối chợ”, theo kiểu của người nông dân, đặc trưng là tính chất manh mún nhỏ lẻ, có gì buôn nấy và không loại trừ lừa lọc dối trá, tuỳ theo sự cần thiết của người mua mà bắt chẹt, làm hàng giả. Hiện tượng này kéo dài trong suốt trường kỳ lịch sử trung đại. Trong quan niệm dân gian, nghề buôn thường bị khinh rẻ, người ta hồn nhiên gọi người đi buôn là “con buôn”, nhiều thành kiến với họ. Càng thế thì nghề buôn càng không phát triển được.

Nên nhớ người làm nghề buôn của ta trước đấy thường xuất thân từ nông dân, thợ thủ công. Trong khi ở nước ngoài, doanh nhân phần lớn là trí thức, có trường hợp là nhà khoa học, họ đem kiến thức của mình để phục vụ kinh doanh, tổ chức sản xuất. Đọc truyện Liêu trai của Tầu, đã thấy thời ấy có nhân vật được gọi là “ thương nho” ( nhà nho thương nhân). Sự có mặt của đám có học này đã đưa nghề buôn ở nước Tầu lên trình độ thế giới. Còn ở Việt Nam cho đến gần đây, người mình vẫn chưa có quan niệm hợp lý về nghề buôn, chưa trân trọng nghề này, chưa thừa nhận đó là một nghề vinh quang (vì đã làm ra của cải vật chất và lợi nhuận cho xã hội) và chưa nhận chân giá trị của thương gia. Lịch sử, tầm vóc của nghề này vẫn chưa được nghiên cứu đúng tầm vóc phải có. Chừng nào cả những chỗ yếu chỗ mạnh của người xưa chưa được soi sáng đầy đủ, chúng ta làm sao thoát khỏi cái bóng của họ ?

Và khi hội nhập, đội ngũ doanh nhân chúng ta hôm nay đã mang theo những“Gót chân A sin” đó?

– Làm sao khác được ? Bước vào hội nhập, tư duy tiểu nông tiếp tục chi phối chúng ta với những biến tướng như làm ăn theo kiểu “đánh quả”, manh mún, không suy tính cẩn thận, thiếu kiến thức, tình trạng muốn bán hàng cho người ta mà không nghiên cứu kỹ thị trường vẫn rất phổ biến…

Hiện nay xã hội đã có chuyển biến, các doanh nhân của Việt Nam cũng đang thức tỉnh, họ được coi là “lực lượng xung kích” hội nhập kinh tế quốc tế…

– Vâng tôi biết. Tự soi lại mình, tôi cũng thấy có chuyển biến. Trước kia chỉ thuần bó hẹp trong phạm vi văn chương, rộng ra là trên phạm vi đạo đức tư tưởng trừu tượng, tôi cũng nhiễm phải lối nghĩ của các cụ đồ nho trước, coi thường nghề buôn, chê ai thì bảo người ta có đầu óc con buôn. Nay bản thân đã bắt đầu hiểu đất nước muốn khá giả hơn, phải trông chờ những người biết sản xuất, biết kinh doanh, chính họ sẽ đẩy tới sự phát triển của các ngành nghề khác, kể cả các ngành văn hoá .

Doanh nhân phải được tôn trọng, phải được làm chủ công việc một cách đúng nghĩa! Sự tôn trọng này đồng nghĩa với việc chúng ta yêu cầu cao ở họ, cùng giúp vào việc nâng cao tầm vóc làm người của họ. Hẳn là hiện nay đã có ai đó đang ấp ủ những công trình nghiên cứu về về lịch sử, nghề nghiệp, về thương nhân Việt Nam, việc làm đó không chỉ giúp cho hoạt động thương mại phát triển mà còn giúp cho những người nghiên cứu văn hoá Việt Nam nói chung.

Nghiên cứu“tầng chìm của văn hóa kinh tế”, thông điệp mà ông muốn gửi tới các doanh nhân Việt hôm nay là gì ?

– Tôi biết bên cạnh những người buôn bán theo kiểu đánh quả trục lợi lừa lọc dối trá, đang có những doanh nhân kiên nhẫn cần cù và đầy sáng tạo trong công việc. Tôi muốn nói với họ chúng ta cùng một cái đích là góp phần làm xã hội phát triển và nâng cao tầm vóc người Việt. Nếu được nói thêm tôi muốn nhấn mạnh phải có sự kết hợp giữa giới trí thức và các doanh nhân, sự kết hợp này chắc chắn là sẽ hiện ra trong những hình thức muôn màu muôn vẻ và sẽ thúc đẩy sự trưởng thành của cả đôi bên.

Xin cảm ơn ông./.
Kim Hoa
trên Doanh nhân Sài Gòn
số tháng 2-2009

Giá hoa sẽ tăng…và nhiều bó hoa bị vứt sớm

Có phải cách biểu hiện tình cảm của người mình nhiều khi quá ồn và mang nặng chất diễn , tức thích ngả sang khoe mẽ phô phang ? Liệu bao giờ chúng ta mới tìm ra được cái hình thức hợp lý cho những nghi lễ cần thiết ? Nhiều lần ý nghĩ ấy đã đến với tôi , nhất là trong những dịp vui , chẳng hạn một đám cưới hỏi , một lễ hội , và cả trong những ngày tết cổ truyền . Hôm nay đây nó lại đến với tôi nhân không khí xã hội vào đêm trước của ngày 20-11, ngày nhà giáo Việt Nam như nó vẫn được gọi một cách trang trọng . Một mặt , tôi thấy việc này là cần thiết và mong mỏi có cách gì đó thực hiện một nhu cầu tình cảm chân thành nơi mình ; mặt khác , lúng túng vì chẳng biết cách sao để bộc lộ . Nhìn ra chung quanh cũng thấy một tình trạng bất lực tương tự . Trong phần lớn trường hợp , nghi lễ được làm một cách vụng về , đi sát với sự sáo rỗng . Người này lặp lại người kia, năm nay nói những chuyện y như năm ngoái . Cười cười nói nói đấy mà không tạo được cảm giác thiêng liêng như nó phải có . Lời nói của con người lúc này trở nên nhàm chán , nó đã bị tha hoá ngay ở cái chỗ nó phải tự nhiên và tươi mới hơn ở đâu hết . Người ta , tức là cả học sinh và thày giáo , chỉ làm cái việc hình như ai ở vào hoàn cảnh ấy cũng làm , chúc tụng nhau , cám ơn nhau , hứa hẹn với nhau , ngoài ra các trò thường không quên có thêm ít quà , quà sẽ to nhỏ tuỳ tâm mà cũng tuỳ theo cái yêu cầu họ muốn gửi gấm và chờ đợi nơi thày — điều sau cùng này tuy không nói ra song ai cũng hiểu .
Ngày hội có quy mô ngày càng lan rộng , nhất là ở các thành thị . Đường xá tấp nập hơn những ngày thường . Trước khi nối nhau xuôi ngược , học trò chen chúc ở các cửa hàng . Giá hoa ở những người đạp xe bán rong tăng vọt hẳn lên , để rồi mấy hôm sau , đống rác nào nào bên đường cũng to hơn ngày thường vì những bó hoa vứt sớm .
Người có lỗi trước tiên phải kể là chính chúng ta , tức là các bậc cha mẹ học sinh , cái bên chủ động trong cái lễ hội tự phát này . Rằng tình cảm không thể là lời nói suông . Rằng mỗi người phải góp phần xã hội hoá giáo dục . Rằng lương của các thày các cô , cũng như lương của mỗi chúng ta , vốn đã quá thấp … Ta viện ra đủ thứ lý do để biện hộ như vậy . Song đằng sau cái việc mà bảo là làm vì các thày , thật ra ta đang làm vì chính mình .
Nhiều người tha thiết giục con đi đến thăm thày bởi chỉ sợ thày quên con mình . Không muốn để ai biết , nhưng trong thâm tâm , họ sẵn sàng tìm cách lấy lòng thày một cách thiết thực , như khi đi cúng bái , họ đã toan hối lộ thần thánh . Tức là cái tư duy thực dụng — một lối thực dụng sát mặt đất mà người ta thường tưởng lầm là đặc trưng của thời buổi kinh tế thị trường — đã sớm có mặt .
Thế nhưng các thày hoàn toàn vô can chăng ?
Trong khi đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này , tôi tìm được một đoạn trong cuốn Việt nam phong tục của Phan Kế Bính ( sách viết năm 1915 ).
Sau khi bảo rằng “người ta sinh ra ở đời , … có thày dạy mới khôn biết việc này việc nọ , cho nên học trò ở với thày cũng như con ở với cha mẹ , ấy cũng là một luân thường của Á Đông ta “ , tác giả than phiền :
“Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở . Kìa như các bực đáng mặt mô phạm , có công dạy dỗ có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành . Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách , văn chương chưa thuộc đủ lề lối , mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trường , gõ đầu năm ba đứa trẻ để hộ khẩu ( có thể hiểu là để kiếm ăn — VTN chú ) cho qua ngày , vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo . Động một tí thì bổ cho đồng môn , nào khi nhà thày có giỗ , nào khi thầy có việc mừng vui , nào khi thày lấy vợ , nào khi thày lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác , ấy lại là cái mọt của thiên hạ . “
Theo con mắt kinh tế học , cái hiện tượng mà Phan Kế Bính miêu tả thuộc loại những bi kịch của một xã hội dựa trên kinh tế tiểu nông — khi chưa tìm ra được cách thanh toán công xá với nhau người ta phải nghĩ ra nhiều thứ gọi là lễ để thay thế . Và cái bi kịch ấy vẫn còn , khi điều kiện kinh tế đẻ ra nó vẫn còn ! Vào những ngày này , nhiều thày cô giáo , ở chỗ riêng tư , vẫn bảo rằng nhận quà và nghe những lời chúc mà chẳng thấy thú vị gì cả . Song bất chấp những phản ứng lẻ tẻ , guồng máy vẫn quay, và đứng ở xa mà nhìn , thì thấy thày trò ai vẫn ở đúng vị trí người đó .

Đường xa vụng tính

Từ hồi bung ra làm ăn, mốt phổ biến ở Hà Nội là nhiều gia đình cả hai vợ chồng lao vào kiếm sống. Chồng làm thêm ở cơ quan lại đá thêm tí cò bất động sản. Vợ bỏ nhà nước ra chạy chợ. Con cái có khi cả ngày không thấy mặt bố mẹ. Tiền đây, đi ăn rồi đi học. Điểm khá ư, khó gì, muốn điểm giỏi cũng được, để lúc nào bọn này đến nói chuyện với các cô bằng phong bì là xong. Bọn trẻ con yên chí đã có tiền đút cho nhà trường rồi, không cần học, nên chỉ vạ vật vừa học vừa chơi, đến nỗi có đỗ đại học rồi cũng không thành người, xin việc không nơi nào nhận.

Gia đình anh M. bạn tôi thì khác. Anh chỉ để cho vợ chạy chợ. Còn anh vẫn chỉ làm việc bình thường, ngoài ra bao nhiêu công sức đổ vào dạy con. Con anh học hết đại học được học bổng đi nước ngoài học cao học, quay về lúc nào cũng sẵn những chỗ rất thơm mời mọc. So với các gia đình khác, mức sống nhà anh M. dăm năm trước có đuối hơn một chút, nhưng nay xem ra cũng chẳng kém ai. Lại được đứa con giỏi giang, ai cũng nói đùa giá tiền tỷ. Anh M. cắt nghĩa bằng giọng của người làm kinh tế: “Chẳng qua là tôi biết đầu tư thôi, kiểu đầu tư của tôi không ra lãi ngay, nhưng hiệu quả lâu dài. Ai cũng làm được, chỉ sợ không có gan”.
Sở dĩ cái lối nghĩ ăn xổi ở thì lan ra ở nhiều gia đình Hà Nội vì sau chiến tranh, nhiều người chúng ta ở thế cùng, không lao đi kiếm ăn không xong. Mà nó cũng là cái tính chung của dân mình, tham bát bỏ mâm, tầm nhìn hạn hẹp. Điều tôi muốn nói thêm hôm nay là không những nhiều gia đình làm vậy mà cả nước mình cũng vậy. Bước vào thời kỳ mở cửa, có bao nhiêu tài trí đổ ra lo làm ăn hết. Lo có gạo xuất. Lo có dầu xuất. Gỗ được giá thì phá rừng cũng bán. Tôm được giá thì bỏ ruộng nuôi tôm không cần biết sau này đất hỏng ruộng thoái hóa ra sao. Cốt ngân quỹ thu về ít tiền. Người ta lấy đồng tiền nộp vào kho để đánh giá từng ngành. Cứ ai làm ra tiền ngay thì được cả xã hội săn đón và tha hồ vênh vang. Còn ngành nào phải chi tiêu nhiều y như có tội, có khó khăn gì thì người làm những ngành không nóng lắm này cha con tự xoay xỏa lấy với nhau. Đến ngay cả mạch máu đất nước là giao thông, có cảm tưởng người ta cũng chỉ lo cho nó vừa vừa thôi. Tôm xuất khẩu, gạo xuất khẩu mà hơi kém một tí là cả xã hội lao vào tìm cách thúc đẩy, ai làm hỏng là phạt ngay. Chứ giao thông ấy ư, nhân viên trong ngành có chia nhau tham nhũng và toàn làm đường xấu đường hỏng cũng được, đường có xấu một chút hãy đi tạm, không đáng lo bằng chuyện con tôm với thùng dầu.
Trên cái nền tâm lý như trên chuyện giáo dục hiện nay có bê trễ cũng không có gì là khó hiểu. Về lý thuyết mà xét, không ai coi nhẹ chuyện “trồng người” này. Ngay cả tiền bạc được chi cho giáo dục hàng năm, theo chỗ tôi được biết, cũng lớn lắm, chắc chắn là loại hàng đầu trong bảng chi ngân sách. Nhưng ít ra có thể thấy mấy điểm:
Thứ nhất là tâm lý chủ quan, không thấy hết chỗ lạc hậu của giáo dục Việt Nam, cho rằng xưa nay dân mình vốn thông minh hiếu học, cán bộ mình vốn giỏi giang vậy chịu khó động viên nhau một chút là xong.
Thứ hai là không đặt vấn đề đưa giáo dục của mình hội nhập thế giới, tưởng rằng cứ đào tạo một lớp người làng nhàng thế này rồi liệu dần, dân càng dốt càng dễ bảo.
Từ đây dẫn đến tư tưởng chỉ đạo thứ ba là không thấy sốt ruột trước những tật bệnh của cái ngành máy cái này. Nghe nói một dây chuyền sản xuất ở ngành kinh tế nào đó lạc hậu là cuống lên lo nhập. Nhưng trước những đổi mới cần thiết của giáo dục thì ngần ngại, sợ tốn tiền, sợ gây ra những thay đổi bất ngờ.
Kết quả thế nào thì tất cả chúng ta đã biết, kết quả như kỳ thi phổ thông năm nay, cả nước cười dở khóc dở, đề ra dễ chưa từng có mà cứ chia ba thì có một học sinh trượt. Còn giáo dục đại học bất thành nhân dạng, bằng giả đầy, bằng thật thì chất lượng cũng giả, đụng đâu cũng gặp giáo sư, tiến sỹ mà chả ai có công trình nghiên cứu, chả ai có phát minh đóng góp gì cho sản xuất. Tính sơ sơ đã thấy, từ tầm nhìn của sự phát triển, cái “tội” lớn nhất của giáo dục là không đáp ứng nhu cầu về số lượng chuyên gia và các loại thợ lành nghề. Nói cho đầy đủ hơn, lỗi lớn của nó là ở chỗ không bảo đảm đào tạo được những con người có cách sống cách nghĩ phù hợp với xã hội hiện đại.
Bây giờ thì cái gì người ta cũng tính ra tiền được. Đại khái như đợt thi vừa qua, để nói không với tiêu cực số tiền chi ra sơ sơ đã là 45 tỷ. Vậy tác hại của việc kém cỏi của giáo dục đến sự phát triển của đất nước ra sao, hình như chưa ai tính, nhưng chắc tính ra con số cũng khủng khiếp. Việc quay về đầu tư vào giáo dục giờ đây đã quá muộn, nhưng làm gì có con đường khác?
20/08/2007người đại biểu nhân dân