MỘT CHÚT LÀM DUYÊN


VƯƠNG TRÍ NHÀN :MỘT CHÚT LÀM DUYÊN
HAY LÀ SỰ CÓ MẶT TRONG ĐỜI
YÊN BA (Thực hiện)
“-Vẽ không vẽ, viết không viết, chỉ có mỗi phê bình mà cũng không xong, thế thì còn gọi là làm văn nghệ ở cái nỗi gì nữa? ”– Trong cuộc đời làm nghề tôi đã nghe bao nhiêu lời ruồng rẫy chê bai tương tự, đến mức cảm thấy đấy là một thứ thân phận của nghề mình — thân hèn, phận tủi…Tôi đã chán, đã mệt, đã thử cựa quậy để ra khỏi nghề, nhưng không ra nổi…”(Tự thú của một người viết phê bình văn học-Vương Trí Nhàn)

TÌNH TRẠNG TẺ NHẠT KHÓ CHỮA


Yên Ba:

Có lần ở đâu đó, anh đã nói về sự tẻ nhạt trong đời sống văn học ; vậy theo anh, cho đến bây giờ, cái sự tẻ nhạt ấy có còn không và tại sao?
Vương Trí Nhàn:
Theo tôi, chúng ta đang sống trong cái-thời-văn-học mà có khi hàng năm trôi qua cũng không thấy có gì thay đổi lắm, không có sự kiện gì đáng kể .Thỉnh thoảng tôi vẫn mang một số bài cũ của mình in lại , bởi tin rằng nhận xét của mình về tình hình chung vẫn đúng. Cái cảm giác về sự tẻ nhạt vẫn còn, nó là cái có thực và chưa biết bao giờ mới gạt bỏ được.Tôi nghĩ rằng cái đáng lo của đời sống sáng tác nói chung và phê bình nói riêng,là nó cứ đều đều ,làng nhàng ; giở một tờ báo ra , đọc vài dòng thấy chán , lại bỏ xuống. Lâu lâu, có ai bảo báo đó có một hai bài đọc được, lại mới đi tìm. Đọc lại báo chí cũ, khoảng 50 năm đầu của thế kỷ trước, thấy người đương thời làm được nhiều lắm . Tôi nghe nói , trước 75 Sài Gòn cũ đã hơn Thái Lan, còn bây giờ thì chưa biết bao giờ ta có thể đuổi kịp cái đất nước láng giềng gần gũi ấy .Văn chương cũng thế , trong vòng 5, 10 năm, kiểm điểm lại thấy chúng ta không làm được cái gì cho đáng kể .Có lần, chính các anh ở Hội nhà văn cũng nói đại ý : văn chương ta hiện đang ở tình trạng có nền không có đỉnh, không có những tác phẩm đủ sức gây bất ngờ, không có cái gì xuất hiện như một hiện tượng kỳ lạ để có thể làm cho mọi người phải đi tìm . Trong giới với nhau ai sống thế nào đã biết , nên ai sắp viết ra cái gì đại khái ra sao cũng đã biết được rồi . Người doạ điên thì có , người điên thật thì không , nói chung toàn những người tỉnh như sáo và hết sức thực dụng thì làm sao có cái gì mới mẻ, táo bạo cho được .
Yên Ba:
Tức ý anh muốn nói sự tẻ nhạt là một đặc điểm có tính chất giai đoạn ?
Vương Trí Nhàn:
Đúng thế . Lịch sử văn học có những lúc rất lạ . Như hồi Thơ mới , báo Ngày nay những năm 38-39 mỗi số chỉ đăng độ có 3 -4 bài thơ ( nhiều nhất là của Xuân Diệu Huy Cận ) nhưng toàn những bài có giá trị lâu dài . Hoặc Tiểu thuyết thứ bảy mấy năm 40-42 có thời gian in liên tiếp cả loạt truyện ngắn của Nam Cao mà toàn truyện bây giờ người ta vẫn đọc . Còn An Nam tạp chí trước và sau 1930 ( hoặc Nam Phong cũng thế ) , số báo nào cũng đăng hàng vài chục bài thơ , mà trừ thơ Tản Đà , không bài nào bây giờ được in lại . Tôi có cảm tưởng thời nay cũng có gì na ná như cái thời trước 1930 ấy . Trong một lần trao đổi với anh Vũ Quần Phương trên VTV1 , anh ấy cho rằng các nhà xuất bản chưa chịu gạn lọc kỹ . Tôi bảo là không có cái hay thì lấy gì mà gạn ! Làm kỹ cũng chỉ đến thế thôi ! Bảo một tác giả viết 100 bài thơ thì làm được ngay , nhưng bảo làm lấy một bài hay thì chịu .
Yên Ba
Chẳng nhẽ anh không thấy là mọi người đang nỗ lực để vượt lên trên sự trì trệ đó ?
Vương Trí Nhàn :
Có nhưng chưa đủ . Hiện chúng ta đang thiếu những cuộc thảo luận kỹ lưỡng để bàn đến cùng về những vấn đề thiết yếu . Ví dụ để chuẩn bị cho những cuộc thi tiểu thuyết , lẽ ra phải có một cuộc trao đổi sôi nổi : Thế nào là tiểu thuyết? Trong quá khứ , tiểu thuyết đã có một tiến trình tiến hoá như thế nào ? Chỗ khác của tiểu thuyết phương Đông với tiểu thuyết phương Tây , chỗ khác của tiểu thuyết thế kỷ XX với tiểu thuyết các thế kỷ trước ? Và nhất là những xu hướng phát triển của tiểu thuyết trên thế giới hiện nay. Phải có người dịch giới thiệu , rồi các nhà văn trao đổi và thảo luận ,mỗi người tìm lấy cho mình một hướng đi mà mình thấy gần gũi nhất . Lý luận , không gì khác , chính là những thăm dò tưởng tượng , là cái mũi dùi khoan vào những bí mật phía trước để gợi mở cho người viết . Hiện nay, trên nhiều lĩnh vực khoa học , lý luận và thực hành gần như song hành với nhau, chậm chí lý luận đi trước thực hành. Trong thiên văn, có nhiều trường hợp người ta tìm thấy những ngôi sao trên giấy tờ trước , rồi sau đó dùng kính viễn vọng mới nhìn thấy được . Nhà văn cũng thế thôi . Có người như Claude Simon ( giải thưởng Nobel 1985 ) chẳng hạn, là loại có lý thuyết trước, sau đó ông ấy mới dùng văn chương để minh hoạ cho lý thuyết của mình. Ở ta có tình hình ngược lại . Lý luận bị coi là xa lạ với sáng tác. Các nhà văn chỉ lo viết và viết , không tính cái định viết sẽ như thế nào, có thể có một ý nghĩa lý luận nào chăng , trong thể loại có định mở ra một con đường mới không? Thế thì làm sao có được những cách tân thực sự .
Theo tôi quan sát , rõ ràng ở các nhà thơ lớp trước , văn hoá thơ ( tức là sự hiểu biết về bản chất thơ ca , lịch sử của nó , con đường đi tới của nó ) khá hơn các nhà thơ bây giờ . Trong những năm sáu mươi ở Hà Nội ,Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh , Nguyễn Đình Thi …..đã bỏ nhiều công sức dịch văn học nước ngoài, mang thơ thế giới vào Việt Nam . Xuân Diệu còn viết nhiều tiểu luận giới thiệu về các nhà thơ thế giới . Mà những cái đó ông làm tốt hơn nhiều nhà nghiên cứu , do đó tác động đến anh em viết văn làm thơ trẻ lúc ấy rất lớn . Bây giờ, sự tiếp xúc với văn học nước ngoài có thể rộng rãi hơn, nhưng không được kỹ như hồi trước , mà lại chỉ do các nhà nghiên cứu làm , và ảnh hưởng tới giới sáng tác là khá hạn chế .
Mặt khác , nay cũng là lúc nhà văn nhà thơ ít có ai đi vào khám phá văn học cổ như các thế hệ trước . Xuân Diệu 42 tuổi đọc diễn văn trong lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1958 ở Nhà hát lớn , Xuân Diệu viết cả quyển sách về Nguyễn Du và Truyện Kiều . Các bạn làm thơ trẻ, cỡ khoảng 30, 40 bây giờ, khó lòng mà làm được như vậy , không phải không ai cho làm mà cái chính là có cho làm cũng không làm được . Đáng lẽ phải học hỏi Xuân Diệu để rồi vượt lên ông , đi xa hơn ông, thì lại biến ông thành đích , thành ngưỡng, thành cái trần và tự coi thế là đủ . Một người bạn tôi quan sát cách viết phê bình của một số nhà thơ hiện nay nói đùa : các ông toàn ngồi ngửi hơi nhau rồi viết . Lối nói có thể hơi thô lỗ nhưng nó nói đúng một sự thật , là nhiều bạn trẻ bây giờ chỉ loanh quanh ngồi tán với nhau và tán về nhau . Đấu hót với nhau một hồi rồi viết lại . Chỉ sợ không ai biết nên phải lo giảng cho mọi người biết là bạn mình làm thơ hay lắm! Trong khi đó rất ngại đọc các tác giả cổ điển . Chiếm lĩnh lại thơ của Nguyễn Du , Hồ Xuân Hương Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái ,Nguyễn Khuyến , Tú Xương , Tản Đà … không phải chỉ là việc của các nhà nghiên cứu , nó còn là việc của các nhà thơ . Mà ở đâu cũng thế thôi , ở Liên xô trước đây , một trong những người viết hay nhất về Tchekhov là nhà văn Zalyguil, còn nhà văn Nabokov ( sống ở Mỹ , tác giả Lolita) thì có cả một loạt bài giảng về các văn hào cổ điển Nga . Bởi các nhà văn thường có sự đồng cảm riêng khi đọc văn của nhau . Ở nước ta, tôi có cảm tưởng lớp nhà văn mới trưởng thành sau chiến tranh ít hiểu về sáng tác của ông cha , chính điều đó cũng góp phần tạo nên cái sự tù túng, không phát triển.
Tôi muốn nói thêm một chút về về việc trao đổi và giới thiệu văn học nước ngoài . Bây giờ , có thêm nhiều sách văn học phương Tây để đọc , song thử hỏi có mấy người biết các nền văn học phương Tây đó một cách cặn kẽ theo dõi từng biến động ở đó chứ không phải chỉ đọc các bản dịch ? Một cây bút phê bình trẻ gần đây nhận xét rằng người đọc Việt Nam cách đây 15 năm thì có thể đối thoại cùng người đọc Nga , còn người đọc bây giờ không làm được việc đó. Theo tôi nói thế có phần chung chung , vì người đọc có nhiều loại .Tôi chỉ muốn nói trong phạm vi giới cầm bút . Cách đây 15, 20 năm , một số anh em yêu mến và “thuộc “ văn học Nga biết rõ Moskva có mấy tờ báo hay tạp chí văn học quan trọng, khuynh hướng từng tờ ra sao , hiện do ai nắm , nội tình nó như thế nào? Còn bây giờ có ai thạo văn học Mỹ, văn học Pháp như thế không , tôi có cảm tưởng là không , hoặc chỉ có rất ít .
Theo tôi, luôn luôn cần đặt văn học chúng ta trong văn mạch chung của văn học thế giới, để mà thấy được tình hình của mình thực trạng của mình , đồng thời học hỏi được những cái mới lạ , cũng tức là cái người ta đã trải ,và trước sau ta cũng sẽ đi tới . Năm 1995, tôi đã nói chuyện hội nhập nhưng không có người nghe nên qua đi . Tôi nói là: chúng ta đang có một nền văn học “lạc hậu so với xã hội” với nghĩa trong khi tất cả những thứ khác của ta từ quần áo may mặc xuất khẩu, cho đến cá, tôm, hàng công nghệ , thời trang, ca nhạc phim ảnh … đủ mọi thứ lo hội nhập với thế giới , thì văn học chúng ta bằng lòng dừng lại ở trình độ một thứ hàng nội địa trong nước dùng với nhau . Chưa tính đến chuyện đặt văn học Việt Nam vào văn mạch văn học thế giới , hoặc mới nhìn việc giao lưu một cách rất thiển cận — thế thì làm sao có sự tiến bộ được. Theo tôi, chuyện này không chỉ riêng là của ta . Có lần nhân nhà xuất bản nơi tôi công tác tiếp một đoàn nhà văn Trung Quốc, tôi có hỏi là rồi các anh sẽ đi đến đâu ? Hay lại giống như thế kỷ 20 của phương Tây , lại đi về cái cá nhân, lại phi lý, cô đơn…? Họ nói họ còn đang tìm , song không cho rằng Trung quốc đứng ngoài quy luật vận động chung của thế giới . Theo tôi những vấn đề như thế anh không quan tâm không được . Bản sắc dân tộc bao giờ cũng có, nhưng những con đường mà nhân loại đã tìm thấy và đã đi qua, thì nước nào cũng sẽ đi qua , dù mỗi nước sẽ đi theo cách của mình .. Bảo nhau giữ lấy bản sắc là đúng . Nhưng phải lo làm giàu cho cái bản sắc ấy .Sợ tiếp xúc rồi sinh ra học đòi bắt chước nên hạn chế tiếp xúc sẽ gây khủng hoảng . Bên hội hoạ các họa sĩ làm việc này một cách tự nhiên , dù tác phẩm làm ra chưa khá lắm ( vì cái vốn cơ bản quá yếu ) nhưng hướng đi là đúng . Trong văn học, lại không muốn làm cái chuyện đó nữa , thì còn tiến làm sao được .

VỀ VĂN HOÁ QUÀ VẶT

Yên Ba:
Trong một bài phiếm luận , anh đã nói đến văn hoá quà vặt . Xin anh nói rõ thêm cái ý này của mình . Tình hình có đến nỗi trầm trọng ?
Vương Trí Nhàn:
Có khả năng đáp ứng một cách linh hoạt những yêu cầu xã hội nhưng nhìn kỹ sản phẩm làm ra toàn những thứ lụn vụn không có giá trị lâu dài . Sự nhạy cảm không đi kèm với một khả năng suy nghĩ sâu sắc . Một sự sáng tạo thường trực nhưng trình độ lại có phần loàng xoàng … Đại khái , đó là dấu hiệu chính của một nền văn hoá quà vặt . Một mặt phải công nhận là đời sống văn hoá có vẻ nhộn nhịp , sôi nổi , sặc sỡ , song mặt khác lại cứ có chút gì như là làm cho vui thưởng thức cho vui , chứ không phải là cái gì thiết yếu không có không được .Mượn thuật ngữ của của tâm lý học , còn có thể nói đây chính là một dạng của stress . Trước áp lực quá lớn của đời sống hiện đại , đôi lúc người ta sinh ra lảm nhảm.
Hàng hoá chúng ta làm ra nhiều , nhưng không có cái gì độc đáo mới lạ . Nhà xây nhiều nhưng không có nổi một khu phố đẹp . Tất cả cứ làng nhàng mà tồn tại bên nhau . Cách làm ăn này này cũng chi phối cả sự sáng tác . Mọi người viết lách rất nhiều nhưng không nghĩ chuyện lâu dài, nghĩ đến những việc có thể tác động lớn , thật sự có ích cho xã hội. Nói riêng trong khi viết phê bình, chúng ta thường chỉ cãi nhau quanh một vài chuyện linh tinh, rồi bẻ câu, bẻ chữ , mà không đặt ra những vấn đề lớn của văn học để cùng suy nghĩ và giải quyết . Tầm nhìn của một con người của một cây bút – nói ra có người cho là viển vông nhưng nếu thiếu đi cái đó chúng ta sẽ trở nên tầm thường và lúc đó mọi sự chăm chỉ , chịu ngồi vào bàn , chịu viết chịu in , đều cũng trở nên vô nghĩa . Thật là một điều oái oăm nhưng tôi có cảm tưởng chính cái mà con người hiện nay thiếu , là lý tưởng , là sự ao ước , là sự tự tin , tin rằng nếu cố gắng và làm việc theo phương hướng đúng , chính mình và những người quanh mình có thể vươn tới những đỉnh cao chói lọi chứ không phải lúc nào cũng lờ đờ lẹt đẹt như thế này .
Yên Ba :
Có vẻ như anh rất thích tìm ra mối liên hệ giữa văn học và đời sống nói chung .
Vương Trí Nhàn :
Đó là một hướng suy nghĩ cần thiết , và bản thân tôi muốn tiếp tục theo đuổi .
Xin được nói tiếp một số nhận xét . Nhiều người bây giờ sống vội quá, ham làm giàu quá, ham hưởng thụ quá . Khuyến khích nhau làm là cần , nhưng cần hơn là bảo nhau đừng làm để mà làm , mà phải đặt yêu cầu cao với những thứ đang làm , tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm và tìm cách đạt được chuẩn mực quốc tế. Tại sao hàng Tàu tràn ngập phố xá cửa hàng xứ mình ? Là do họ làm rẻ và tốt hơn , còn hàng ta vừa đắt vừa xấu . Văn chương, phim ảnh mình cũng thế thôi . Làm lắm phim làm gì , trong khi phần nhiều phim chẳng ra phim .Dịch sách cũng thế ! Một cuốn mới in như Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê của Vương Sóc nội dung rất hay , nhưng dịch và in cẩu thả. Có những chữ cần dịch không chịu dịch , cứ âm Hán Việt bệ nguyên vào làm loạn cả tiếng Việt. Rồi nhà văn thì ham viết quá. Tôi thường nghĩ ,với cái tạng của số đông anh em cầm bút hiện nay, một đời người viết được hai ba cuốn sách hay là được , sức mình chỉ đến thế , chứ làm nhiều làm lắm mà kém cỏi thì làm làm gì? Chúng ta phải xấu hổ với ông cha là thời nay sách in rất nhiều, nhưng loại được thường xuyên tái bản , tức là có thể gia nhập vào đội ngũ những Tắt đèn, Số đỏ, Sống mòn …, loại ấy gần đây rất hiếm ! Đứng về phía người tiêu thụ mà xét , xã hội không cần đến nhiều nhà văn làng nhàng đến như thế này , mà chỉ cần một số ít hơn , nhưng mỗi người phải là một ngòi bút biết viết nên các tác phẩm có chất lượng . Từ những năm hai mươi đầu thế kỷ , một số sách của Tản Đà Nguyễn Công Hoan in ra số lượng mỗi cuốn đã trên một ngàn chứ đừng nói sách của Nhất Linh , Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng , Nam Cao về sau . Mà dân số ta hồi ấy chỉ độ hai ba chục triệu chứ không phải trên bảy mươi gần tám mươi triệu như bây giờ .
Một điều đáng nói nữa là sự dung tục. Kiểu như thi vẽ với sứ Tàu thì chấm mười ngón tay vào mực mà vẽ thành mười con giun rồi cười đắc chí . Ngồi ở hàng nước, mấy cậu thanh niên nói tục xong rồi cười hô hố với nhau ; trên ti vi cũng thi nhau cười những cái không đáng cười . Bệnh dung tục bộc lộ từ trong cách làm việc lẫn cách ăn nói, quan hệ và rõ nhất trong khẩu vị thưởng thức những khi vui chơi giải trí . Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi hồi còn sống thường than phiền với tôi rằng: sân khấu hiện nay không thể phát triển được bởi vì không có một không khí sân khấu thực sự. Người ta đi xem kịch buồn cười lắm, khán giả nhiều nơi vừa xem,vừa cắn hạt dưa và nói chuyện , càng những đoạn nhố nhăng thì càng có nhiều tiếng cười thích thú . Làm sao có thể đề cao những khán giả ấy được, và với những khán giả ấy , làm sao có thể đòi hỏi sân khấu đi lên ? Chuyện gì cũng coi như chuyện đùa , đó là cái chết ! Tôi không đùa theo kiểu ấy được , tôi luôn nghĩ rằng phải nghiêm túc trong công việc . Ai bảo tôi là mắc cái bệnh là quan trọng hoá ,tôi xin chịu .
Yên Ba:
Cứ cho là do một bộ phận giới nhà văn hay bạn đọc đã tạo ra cái khuynh hướng quà vặt đi, thế nhưng tại sao hiện tượng đó lại kéo dài như vậy ?
Vương Trí Nhàn:
Nó là kết quả của một phức hợp tâm lý mà tôi tạm diễn tả như sau : Một mặt mọi người ai cũng cảm thấy cần phải làm một cái gì đấy có ngay một cái gì đấy , với người viết nó là chuyện khẳng định thành tựu tài năng , mà với bạn đọc nó là nhu cầu tiếp nhận hưởng thụ văn chương. Mặt khác , trình độ khả năng thì có hạn, không những nhà văn chưa thể làm một cái gì gọi là lớn lao mà chính bạn đọc cũng chưa thấy cần phải có cái lớn lao đó . Sự thực dụng đã chi phối tất cả .Chúng ta luôn dễ dãi với nhau , không phải chỉ là chuyện khen tụng vuốt ve nhau trên báo chí đâu, mà trong rất nhiều chuyện lớn nữa. Ví dụ đưa một tác giả vào cho học sinh học ở nhà trường rất dễ dãi. Cả những cái không đáng là văn chương cũng được giới thiệu trang trọng .Tôi là người phản đối đưa văn học sau năm 1975 vào giảng dạy ở nhà trường. Một số người kêu là phải đưa cái mới vào cho kịp thời . Tôi đáp lại : Hãy giảng dạy văn học cổ điển nhiều hơn nữa ,còn với thứ văn chương vừa viết ráo mực , cần phải có độ lùi , có thử thách. Các nhà văn muốn lớp trẻ đọc, thì đến mà nói chuyện với họ thuyết phục họ , đừng bắt họ phải học . Thơ Việt Nam sau Thơ mới chưa có sự tổng kết thấu đáo , những tổng kết ngang tầm Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941 của Hoài Thanh . Đáng ra chúng ta phải làm cái đó, nhưng không ai làm . Phần lớn những tuyển tập thơ văn hiện nay, có phải là sự tổng kết, đánh giá gì đâu . Các anh trong ban tuyển chọn rất tự hào về cuốn tuyển thơ sau 1975 , tôi thì tôi bảo: chẳng rõ gì cả, có chăng đó là biết đang có lắm người làm thơ !
Yên Ba:
Hẳn cái sự dễ dãi đó đã ăn sâu vào tâm lý mọi người ?
Vương Trí Nhàn:
Khi khen nhau , gần đây nhiều người thích nhấn mạnh tới sự dễ hiểu. Có vẻ như cái gì “nặng” thì chúng ta sợ . Thế thì không được! Phải có cái nặng, có cái nhẹ chứ! Có cái đọc hiểu ngay , nhưng có cái phải đọc đi đọc lại mới hiểu. Chúng ta có một nền văn nghệ mà các sản phẩm phần lớn giống như một thứ polyvitamin , ngòn ngọt và uống quá liều một chút cũng không chết ai , không có hại gì lắm . Trong khi đó cần có những thứ thuốc kháng sinh , những thứ mà trong y tế người ta gọi là thuốc độc bảng A, bảng B, uống quá liều thì nguy hiểm , nhưng một số bệnh phải có nó mới khỏi được .
Chúng ta chưa tạo được tâm lý dị ứng với cái dở , chán ghét nó , khổ sở vì đâu cũng gặp nó . Lại thường chỉ nói chuyện đúng sai mà ít phân biệt hay dở . Nhưng cái đúng mà dở thì sao có thể gọi là văn chương được . Nhiều nhà văn chẳng viết được cái gì đáng kể , thế nhưng cũng đã vào lịch sử văn học . Lỡ rồi . Cười chứ biết làm gì được!

VỀ VĂN CHƯƠNG “CỎ GIANH”

Yên Ba
Một ý khác của anh mà tôi cảm thấy có thể đồng cảm là cái ý về văn chương cỏ gianh .Nếu có thể xin anh nói rõ thêm , ý nghĩ đó đã được hình thành như thế nào .
Vương Trí Nhàn:
Phố HàngThan Hà Nội có một hàng bánh cốm Nguyên Ninh bán chạy lắm , thế là mọc lên bao nhiêu hàng tên đặt lơ lớ , những là An Ninh, Yên Minh , Nguyên Minh… . Trên Nhật Tân có một hàng thịt chó Anh Tú khá đông khách , thế là hàng loạt nhà khác trương biển nhận vơ là Anh Tú , người mới đến ăn lần đầu không còn biết đằng nào mà lần.
Ta hay nói tới tính độc đáo , nhưng thật ra đang sống lẫn vào nhau, sống bày đàn –nếu nói một cách nghiêm túc . Chúng ta không có những cái tinh hoa , những cái gọi là đỉnh . Tại sao như vậy ?
Xem một phim truyện Trung Quốc (xin lỗi là đã quên tên ) , tôi nhớ mãi cái cảnh một viên tướng của Tưởng Giới Thạch bị thua trận nên chạy trốn, ngồi trên xe do một ông nông dân kéo . Trên xe có cả vợ viên tướng , một ít đồ đạc và có cả một cái bu gà. Có người xin đi nhờ, viên tướng bảo ông nông dân vứt cái bu gà đi , cho người ta lên. Nhưng có cái lạ là chính ông nông dân không bằng lòng , vừa kéo xe ông vừa khoác bu gà sau lưng . Ông bảo : không có gà, không có trứng, làm sao mà tướng quân khoẻ được? Tức là ông ta biết mình không quan trọng bằng cái người ngồi trên xe kia, đã gọi là tướng thì được quyền có trứng gà đẻ ăn , quyền được sang trọng . Trong thâm tâm , ông nông dân quan niệm mình thuộc một loại người khác mà viên tướng thuộc loại người khác . Khái quát mà nói , có thể bảo đó là quan niệm cho rằng xã hội lớp lang phân biệt chứ không phải tất cả cá mè một lứa như dân mình quan niệm . Hà Nội bây giờ khá nhiều nhà , nhất là nhà buôn bán , có ô – sin . Nhưng ở ta lạ lắm , nhận làm ô -sin, hay phục vụ quán xá được mấy hôm, lại muốn nhảy ra làm cái việc là cạnh tranh ngay với chủ mình. Không nói ra nhưng trong bụng nghĩ mình chẳng kém ai . Người nào cũng biết đi buôn, người nào cũng biết làm thủ trưởng . Một sự cào bằng đã được hình thành một cách tự phát . Tôi nhớ lại những rừng cỏ gianh đã đi qua . Trong chiến tranh , sau những trận bom cày xới tan nát , nhiều cánh rừng nguyên sinh cây cối đổ gục và biến thành đồi cỏ gianh . Một xã hội bình thường giống như một khu rừng nguyên sinh ấy, nó có cây cao bóng cả, có cả những dây leo. Cỏ mọc lan trên mặt đất cùng với dây leo ủ đất, giữ nước , làm cho cả cánh rừng thành một tổng thể tươi tốt đầy sức sống và do đó dây leo cũng có ích. Giả như trong một quần thể , các thành viên chỉ biết đến sự phát triển của chính mình và nhất định không chịu nhận phần thua thiệt , không chịu làm gì giúp cho các thành viên khác hưởng lợi , thì tức là chẳng còn có sự phân tầng mà các nhà sinh học hay nói và hoá thành rừng cỏ gianh mất rồi . Tôi nghe nói ở Trung quốc có sự công khai phân loại nhà văn , ví dụ Mạc Ngôn được giới thiệu là sáng tác viên bậc một . Ở ta chưa ai tính chuyện xếp hạng như thế này , vì giá kể có làm cũng rất rắc rối , chẳng ai chịu ai . Giống như cỏ gianh , nếp sống chen cạnh tự phát hình thành và được mọi người chấp nhận . Mà nơi nào cái tầm thường thắng thế thì ở đấy cái tinh hoa vốn mong manh yếu ớt rất dễ thui chột . Chẳng những nhiều cây bút viết cứ kém dần đi mà cả những hàng phở ngon cũng chỉ nổi lên được vài ba năm, rồi lại trở thành dở , mất khách . Một số nhà nghiên cứu gần đây đã nhận xét rằng xã hội Việt Nam thời trung đại chỉ có quan chức mà không có quý tộc ; chỉ có những người học hành mà không có trí thức ; có người buôn vặt chứ không có doanh nhân. Không cần có người chứng minh ai cũng thấy đúng như thế . Quý tộc có nghĩa không phải lo làm gì cả nhưng vẫn sống đàng hoàng, còn mấy ông quan ở ta thời xưa vừa làm quan vừa lo ăn, lo con cái , thế thì làm sao có thể chuyên chú vào công việc cai trị ? Dân ta nổi tiếng là học giỏi, nhưng học chỉ để lấy cái bằng và xin được việc rồi thì không học nữa .Trong khi ấy trí thức là phải thoát ra khỏi bằng cấp địa vị , phải tách khỏi những chuyện mưu sinh để luôn luô suy nghĩ về đời sống . Cũng như vậy giữa những người buôn bán cò con với những doanh nhân có văn hoá , biết đường vươn ra làm ăn lớn — có sự cách xa một trời một vực . Người nọ níu kéo người kia là tình trạng ở ta có từ lâu đời , và nếu không làm một cuộc mổ xẻ lớn để tự nhận thức đầy đủ , xã hội sẽ không phát triển lên được

VỀ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG VĂN HỌC


Yên Ba:
Anh hay đặt vấn đề chuyên nghiệp hoá ngòi bút cả trong phê bình lẫn trong sáng tác. Khái niệm đó nên được hiểu thế nào?
Vương Trí Nhàn:
Đó chính là phương án để xã hội cũng như văn chương thoát khỏi tình trạng đồi cỏ gianh mà ở trên vừa nói .
Một xã hội tiến lên cần nhiều người thạo việc . Mỗi người có việc của mình. Hồi mới lớn, tôi được dạy : việc gì cũng phải biết làm! Tôi không đủ sức cãi lại chỉ nghĩ bụng con người mà việc gì cũng làm được, thì sẽ chẳng làm được gì cho ra trò . Lấy đâu ra một con dao vừa chẻ củi được, vừa vót tăm được ? Thế nhưng tâm lý này đã ăn sâu vào mình , khó bỏ lắm . Có lần tôi đi với thằng con trai tôi , xe hỏng , hai bố con ngồi chờ người ta chữa . Tôi buồn tình bảo , con để ý xem người ta chữa như thế nào , bận sau xe có hỏng còn tự chữa lấy . Nó cãi lại ,bố vẫn hay nói là phải chuyên chú vào một nghề cho giỏi cơ mà , xe hỏng thì mang ra thợ chữa , để cái thì giờ ấy làm việc chuyên môn của mình có phải hay hơn không.Tôi nghe mà giật mình . Dẫu sao , lúc tỉnh táo , tôi vẫn nghĩ muốn nâng cao chất lượng công việc phải chuyên nghiệp hoá .Việc gì cũng vậy mà văn nghệ cũng vậy . Anh chỉ cần tập trung làm một nghề cho giỏi , nếu nó phù hợp với anh. Tập trung tất cả tinh hoa, sức lực của mình cho một công việc, đó chính là tính chuyên nghiệp! Hãy nhìn vào bóng đá Tây Ban Nha, Italia để biết tầm quan trọng của tính chuyên nghiệp là như thế nào . Bao nhiêu tài năng nghị lực của các cầu thủ đều tập trung cho đá bóng , ngoài cầu thủ ra , còn cả một bộ máy đầy năng động cùng suy nghĩ với họ , giúp họ khai thác mình một cách tối đa , làm sao mà giải bóng đá của người ta không hay cho được ? Ta bây giờ chẳng những chưa có những nhà làm luật chuyên nghiệp , những nhà thể thao chuyên nghiệp , mà sáng tác cũng chưa có chuyên nghiệp . Nhà văn ăn lương và không sống bằng nhuận bút . Mà nhiều người trong đó ăn lương để làm việc khác , sáng tác chỉ là kiêm nhiệm . Thời phong kiến viết văn không phải là nghề .Các ông quan, nhà nho ngoài việc chính vẫn làm , khi rỗi rãi thì ghi lại đôi dòng ngôn chí , mạn hứng .Từ đầu thế kỷ XX đã có một lớp người lấy viết lách làm nguồn sống chính . Cái đó làm cho văn chương có sự phát triển vượt bậc . Còn một khi sáng tác mới được xem như phong trào , thì hiệu quả có thấp cũng là dễ hiểu .
Yên Ba:
Anh nhìn nhận các giải thưởng văn chương gần đây như thế nào?
Vương Trí Nhàn:
Có nhiều chuyện lắm! Thứ nhất là không khí chung của sáng tác kém, ít tác phẩm tốt, nên phải so đũa chọn cột cờ. Thứ hai và cũng là cái chính , là cơ chế giải thưởng nó cổ lỗ quá . Các ban chung khảo thường bỏ phiếu kín, đằng sau đó như nhiều người đoán hẳn có nhiều cuộc mặc cả ngấm ngầm , nên hay dở chẳng rõ ràng gì cả. Đáng ra phải biết rõ tác phẩm nào được ai bỏ phiếu đồng ý và nó được mấy phiếu , thế mới đàng hoàng và mới có ý nghĩa . Ngoài ra tôi còn có một vài đề nghị nữa , đã nói mấy lần nhưng chẳng ai nghe .Tôi đề nghị là chẻ nhỏ giải thưởng ra , có giải về những tìm tòi thể nghiệm trong tiểu thuyết, lại có giải thưởng về ngôn ngữ văn học, giải thưởng dành cho cây bút trẻ xuất sắc … Chia nhỏ như thế dễ nhận ra những cái cố gắng cụ thể của nhau và có tác dụng khuyến khích nhau hơn . Thậm chí, nên có giải thưởng tư nhân. Người nào đó đứng ra, lập nên một giải thưởng , và xét trao hàng năm cho các tác phẩm xuất sắc. Một điểm nữa , ý của nhiều người , và tôi cũng thấy đúng . Là nên phân biệt giải thưởng với việc thưởng công cho người tốt , người có thành tích công tác . Ai có công phải được thưởng , nhưng việc nào đi việc ấy . Văn chương phải đúng là văn chương, còn tiền bạc để trợ cấp cho người túng thiếu lại là chuyện khác .Cần nhớ giải thưởng trước tiên là một cơ chế thúc đẩy sáng tác . Có lần tôi tính , phải đến 70% nhà văn Việt Nam có giải thưởng các loại và các anh các chị ấy thường không quên ghi cái đó vào lý lịch sáng tác của mình . Song tôi vẫn có cảm tưởng chưa biết bao giờ các hội nghề nghiệp mới tạo được những giải thưởng có tính chuyên môn cao , có uy tín thực thụ . Ngẫm ra , tình trạng giải thưởng lan tràn hiện nay cũng lại là một biểu hiện của văn hoá quà vặt mà ở trên đã nói .

VỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VÀ SỨC ÉP DƯ LUẬN


Yên Ba :
Bây giờ nói sang cái chuyện mà lẽ ra phải nói từ đầu , đó là phê bình văn học . Sau khi đã khái quát cuộc sống nói chung và giới sáng tác nói riêng như trên , anh sẽ nói sao về nghề của mình ?
Vương Trí Nhàn
Vâng , tôi hiểu ý anh. Cũng xin nói ngay mà không cần phải che đậy giấu giếm gì : mọi chuyện gay go lắm . Giới phê bình của chúng tôi xưa nay vẫn yếu hơn so với giới sáng tác , từ hồi có cơ chế thị trường lại càng yếu . Lực lượng chỉ gồm một vài nhà giáo dạy học, soạn các giáo trình , một ít cán bộ làm việc ở ban hiện đại của các viện nghiên cứu ; rồi một vài người làm ở các báo , bên cạnh việc đưa tin , thỉnh thoảng có đi vào nhận xét các tác phẩm mới in ra … Thế thôi ! Ở các nước khác, thường có những người đóng vai trò như cái cân ấy, chỉ có việc duy nhất là đọc sách mới in rồi đánh giá xếp loại , họ khen cho cuốn nào, cuốn đó bán được ngay . Ở ta loại người đó không hình thành , cái gọi là tác phẩm phê bình trên mặt báo không sao đáp ứng được yêu cầu của xã hội . Hoặc đó là những bài viết theo kiểu học trò làm luận , đối chiếu một ít nguyên lý sơ giản mà người viết học được ở nhà trường với các sáng tác để rồi nêu ra những nhận xét không cần cho ai cả . Hoặc đó là những lời bình tán uốn éo ra vẻ thân cận gần gũi với giới viết văn , giảng cái hay cái đẹp cho mọi người , thực chất chẳng khác gì thứ văn chương thù tạc của mấy ông đồ trước chén rượu nhạt .Gần đây lại có hiện tượng móc ngoặc để lăng xê nhau , phê bình trở thành một thứ cò mồi cho sáng tác . Không chỉ bạn đọc chán mà chính người viết loại bài này cũng chán , và càng chán thì càng làm bôi bác cho xong . Anh cứ thử để ý mà xem , số người viết phê bình chịu để công chăm lo chữ nghĩa câu cú không có mấy . Người viết không tiêu hoá được kiến thức , không có những suy nghĩ riêng của mình về cuộc đời , không có được niềm vui của một người tự do suy nghĩ và hào hứng vận dụng tiếng mẹ đẻ để viết nên một áng văn chương .Cũng tức là họ không đủ bản lĩnh của một người cầm bút , không có chủ kiến cũng như không có cái gan phơi bày con người mình trên mặt giấy như một nhân cách độc lập để đối thoại với bạn đọc . Như thế thì sao gọi là viết văn được ? Trong không khí cởi mở của đời sống hiện nay , sự chuẩn bị để thay đổi không có, công phu không có, tiếp cận cái mới cũng không có nốt … Tức là vẫn làm ăn như mấy chục năm trước, bề ngoài có đắp điếm thêm một vài nét mới nhưng cái cũ vẫn là chính , mà cái cũ ấy lại cùn mòn đi, kém cỏi hơn . Vì thế, chưa thoát được sự tẻ nhạt vốn có từ nhiều năm trước .
Yên Ba: Tồn tại như một nhà phê bình, tức là anh phải luôn luôn đối chọi với những áp lực từ phía đối tượng anh phản ánh, từ phía bạn đọc, từ trong chính nội tâm của anh. Anh nhận định như thế nào về dư luận đối với phê bình của ta hiện nay, khi mà trong nhiều trường hợp, áp lực của số đông đôi khi trở thành chân lý?
Vương Trí Nhàn: Tôi hiểu! Áp lực ghê gớm lắm! Thế nhưng đối với dư luận , tôi thấy có hai điều , hai điều này có vẻ như trái ngược nhau . Thứ nhất tôi vẫn tin trên đại thể dư luận là đúng, bạn đọc là đúng. Mình cứ làm tốt đi, rồi mọi người sẽ hiểu cho mình. Mỗi người chỉ là một bộ phận nhỏ, trong cái guồng máy chung, tôi làm hết sức tôi và tôi chọn con đường riêng của tôi, thế là được rồi. Anh nào viết tốt, người đọc vẫn biết . Những người có được một chút gọi là nổi tiếng đều có lý do của họ , chứ không phải bất tài, lăng nhăng mà nổi tiếng được đâu. Thứ hai , ngược lại , tôi cũng thấy rằng đời sống thường cũng có cái nông nổi hàm hồ của nó . Nhiều cái sai mà lại được cho là đúng , dở bốc lên thành hay .Thời nào cũng có những người dẻo mồm , nói huyên thuyên mà được người đời đổ xô đi nghe . Biết tất cả những cái đó rồi , vấn đề là có đủ tự tin để tiếp tục làm việc tốt và khẳng định mình hay không mà thôi .
Yên Ba:
Ai đó bảo trong phê bình thường thường có hai xu hướng: một là phê bình theo lối quan phương; thứ hai là phê bình theo lối dung tục, tức là mang tính gạt bỏ tất. Anh có thể bình luận gì thêm ?
Vương Trí Nhàn:
Theo tôi hiểu, phê bình quan phương, tức là cầm tay chỉ việc, dạy người ta phải làm văn chương như thế này ,tìm cảm hứng sáng tạo như thế kia , và sau khi người ta viết xong đối chiếu với sách vở quy phạm rồi bảo cái này không được, cái kia được chẳng hạn. Đúng là cái lối này đã cũ và hiện nay nó yếu nhiều rồi nhưng vẫn cứ dai dẳng tồn tại ! Tôi muốn bổ sung : thứ phê bình quan phương đó cũng có đủ mặt , khi thì nó vuốt ve khen ngợi những thứ tầm thường , khi khác lại quát thét mắng mỏ những tìm tòi chân chính , vâng , chính nó đã mang tính gạt bỏ như anh nói .
Yên Ba:
Dường như anh tỏ vẻ không thương xót gì bản thân cũng như giới phê bình của mình. Thế nhưng ít ra anh cũng có thể nói điều gì để “bào chữa” cho những cái gọi là yếu kém đó chứ?
Vương Trí Nhàn:
Để nói cho hết nhẽ , phải bắt đầu từ một sự thực đau lòng , đó là mặc dù hiện rất có nhiều người nhảy vào viết phê bình nhưng trong thâm tâm người ta khinh rẻ nó, người ta không coi đó là sự nghiệp của đời mình , chẳng qua rỗi rãi mà chưa sáng tác được thì viết chơi in chơi , chọc ghẹo dư luận chơi . Tại sao có cái tâm lý đó ,tôi nghĩ mãi và tạm cắt nghĩa thế này : Trước tiên phê bình là nghề khó , càng những nghề tưởng như dễ ai cũng làm được , muốn làm cho nổi càng khó . Thứ nữa , trong tâm lý con người hiện nay có một yếu tố tôi tạm gọi là sự sùng bái hành động , cứ được động chân động tay luôn luôn , cho ra thật nhiều sản phẩm là thích . Còn bảo họ ngồi để suy nghĩ đánh giá công việc rút kinh nghiệm rồi tìm cách làm ra sản phẩm tốt hơn , thì họ rất ngại .
Xin nói tiếp về những khó khăn đặc thù của phê bình .Suốt thời trung đại , ở ta , tác phẩm viết ra ít có khả năng xã hội hoá mà thường chỉ lưu hành trong từng vùng đất chật hẹp hoặc trong một ít bạn bè tri kỷ của người viết . Mà phê bình thực sự lại đòi hỏi xã hội có một mặt bằng đánh giá thống nhất . Giờ đây ngoài thị trường vẫn có tình trạng mỗi chợ một cân . Trong sự đánh giá lẫn nhau cũng thiếu những thước đo chung , khi có gì khác biệt thì giải quyết theo lối cãi bứa , ai to mồm và nói dai người đó được .Thế thì phê bình còn lâu mới thành một ngành hoạt động độc lập . Hàng ngày tôi rất thích xem ti vi buổi sáng , ở đó có cái mục điểm báo khá bổ ích . Báo chí gần đây xới ra được nhiều vấn đề đời sống , nói được nhiều chuyện bức xúc. Thế nhưng bao nhiêu chuyện nêu ra rồi, có làm được gì đâu. Hôm nay phát hiện, mai lại quên , lại đi phát hiện chuyện khác . Tôi tự liên hệ : không nên hy vọng gì nhiều ở những bài phê bình của mình .

SỐNG ĐỂ VƯỢT LÊN NHỮNG NỖI BUỒN

Yên Ba:
Khi thừa nhận trong nghề có nhiều hiện tượng đáng buồn và đã mổ xẻ được những nguyên nhân của nó, thì chắc anh đã suy nghĩ để tìm ra biện pháp giải quyết . Không phải là một người quản lý ở mặt vĩ mô, mà dưới góc độ của một nhà văn, một nhà phê bình, anh nghĩ cái hướng để làm việc đó như thế nào?
Vương Trí Nhàn:
Gần đây có một cuộc trao đổi trên báo Văn nghệ , tại đấy nhiều người cùng bảo là phê bình văn học đang xuống cấp lắm. Rồi các anh ấy bảo rằng, hãy để cho mọi người nói hết ra , rồi cuộc sống sẽ điều chỉnh ! Tôi không tin rằng mọi chuyện có thể giải quyết dễ dàng như vậy . Nói thẳng đâu có dễ . Vấn đề là nói đúng nói sát với tình hình và đề ra được biện pháp giải quyết , cái đó mới khó , chứ cho nói thẳng mà toàn những ý kiến xoàng xĩnh thì cũng vô bổ .Tôi không đặt hy vọng vào những cuộc gọi là trao đổi rộng rãi mà các đồng nghiệp tôi đã kêu gọi , lý do là như vậy .Cái chính là mỗi người hãy làm việc tốt hơn tự nâng cao mình lên trong công việc .Và hãy dám chấp nhận cái sự gọi là đơn độc về mặt tinh thần, theo đuổi đến cùng những điều mình coi là đúng , rồi chân thành thận trọng nghiêm túc trình ra trước bạn đọc , để mọi người cùng xem xét .
Nhiều người thường tự hào rằng có thể mình viết chưa hay nhưng mình đã viết rất thực . Làm như cứ muốn là chân thực ngay được . Theo tôi hiểu ,trong các mối quan hệ , thực được là khó nhất , và chỉ những cáí hay mới có quyền nói rằng nó thực ! Bởi trình độ nắm và trình bày cái thực phụ thuộc vào kinh nghiệm sống và triết lý về đời sống .Trong khi chờ đợi những cái hay đó thôi thì ta hãy bằng lòng để cả những ý kiến có vẻ lạ tai cũng được phép xuất hiện . Ví dụ với bài Xuân Diệu, tôi muốn cung cấp cho độc giả những hình ảnh khác nhau về một con người nổi tiếng , khi thì ông hiền lành nhẫn nhịn , khi thì tham lam tính toán , khi thì thiết thực biết điều , lúc khác lại khéo léo vun đắp những mong để lại một ấn tượng đẹp với hậu thế . Mỗi đoạn mang một hình ảnh như vậy. Người đọc sẽ xem những hình ảnh khác nhau, rồi hình dung ra con người mà họ muốn hiểu . Còn nếu như bạn đọc nào đã có sẵn một cách hiểu về Xuân Diệu rồi ,và chỉ cần đọc thêm một bài minh hoạ cho quan niệm đã có , thì xin mời đọc những người khác .Chung quanh Xuân Diệu đã có nhiều người viết . Trần Đăng Khoa viết rất hay, Vũ Quần Phương , Nguyễn Đăng Mạnh viết rất sâu sắc . Tôi không có ý định viết để thay thế bài của các tác giả nói trên , mà chỉ cung cấp thêm một hình ảnh để bạn đọc tham khảo .
Yên Ba:
Đọc kỹ những bài phê bình của anh thời gian gần đây, có cảm giác nhà phê bình Vương Trí Nhàn luôn ở trong tình trạng đi cheo leo trên một sợi dây, nó là cái ranh giới giữa một bên là sự phê bình mang tính phê phán quyết liệt, không né tránh vấn đề, một bên là những cố gắng kiềm chế để giữ được cái giọng điệu vốn có của mình, điềm đạm, trầm tĩnh. Anh có nghĩ đó là một cái hướng hiệu quả trong phê bình văn học hiện nay hay không?
Vương Trí Nhàn:
Những lúc ngồi rỗi tự vấn tôi thấy mình cũng có vẻ hơi nhiều những bất mãn , theo cái nghĩa là không bằng lòng đối với đời sống .Bất mãn cho cả mình và cho cả người khác .Trong phạm vi văn học mà chúng ta đang nói , có nhiều người có thể làm được nhiều việc có ích . Nhiều người nhạy cảm ,có năng khiếu có tài nhưng ít bỏ công tu luyện đọc thêm học thêm nên viết được cái đầu , còn về sau không phát triển lên được . Chắc anh Yên Ba ở trong quân đội cũng thấy , nhiều nhà văn ta bao nhiêu năm sống ở chiến trường , có thể nói rất thuộc thực tế chiến tranh , vậy mà hơn hai chục năm gần ba chục năm sắp qua ,vẫn chưa thấy có những cuốn sách được dư luận công nhận . Tại sao ? Theo tôi vấn đề là ở chỗ chúng ta không có cách nhìn mới đối với chiến tranh , không tìm cách khám phá lại lý giải lại . Có cách nhìn mới thì tự nhiên vốn liếng cũ được huy động , được làm mới . Trong việc này , theo tôi , lẽ ra chúng ta cần phải huy động kinh nghiệm nước ngoài . Không chỉ văn học xô viết mà văn học Đức văn học Pháp văn học Mỹ đều có những cuốn sách lớn viết về chiến tranh ,chúng có thể giúp các nhà văn của ta tham khảo . Nhưng hình như ít ai chịu mầy mò tìm tòi rút kinh nghiệm của người ta , mà chỉ ngồi đó với đống tài liệu cũ , mãi không làm được cái gì ưng ý rồi đâm ra sốt ruột , bỏ đi viết những cái linh tinh trước mắt , đó không phải chỉ là đáng tiếc với chính anh ta mà đáng tiếc cho cả xã hội .
Nhìn rộng ra ở các khu vực đề tài khác cũng vậy .Tôi muốn kêu to lên để mọi người cùng sốt ruột rồi cùng băn khoăn lo liệu . Nhưng cùng với thời gian tôi càng ngày càng cảm thấy thông cảm hơn với bạn bè đồng nghiệp . Mỗi người đang có vô vàn khó khăn, bao nhiêu công việc hàng ngày cuốn họ đi . Sự kiếm sống ngày mỗi quyết liệt . Chung quanh đang chạy như điên để có thêm thu nhập , để nổi tiếng, để có thế đứng, để giành giải thưởng , để được hưởng thụ những gì mà cả đời chưa được hưởng . Những thúc ép đó khiến cho một số người lúc nào cũng trong tâm trạng ngồi không yên ổn đứng không vững vàng , chẳng làm được cái gì tử tế như lẽ ra họ có thể làm .Về phần mình tôi cũng thèm muốn đủ thứ . Nhưng tôi cảm thấy không nên mà cũng không đủ sức lao vào cuộc chạy đua với mọi người . Phê bình quả thật chẳng có ảnh hưởng gì lắm . Tôi muốn chê ai, thì người ấy thực ra cũng đã biết , và điều quan trọng hơn , nhiều người khác cũng có cái đó cả , chê một người là bất công ; còn khen ai cho có tác dụng đâu phải dễ . Nên tôi thấy chỉ có cách là điềm đạm mà sống và viết . Đây không chỉ là chuyện giọng văn mà trước tiên là ở cách nhìn .Có lần thấy nhiều người cứ đòi giải tán Trường viết văn Nguyễn Du , tôi bảo : ở ta có bao nhiêu là công ty, xí nghiệp, nhà trường làm ăn thua lỗ, bê bối, bao nhiêu trường đại học sinh viên ra trường không nơi nào nhận chứ riêng gì trường Nguyễn Du . Đấy cái gốc của cái sự điềm đạm mà tôi muốn trau dồi cho ngòi bút của mình là điềm đạm kiểu đó .

NHỮNG CÁCH TỒN TẠI KHÁC NHAU


Yên Ba:
Anh có thể nói gì về những sự nổi tiếng vốn là chuyện được giới văn nghệ quan tâm ?
Vương Trí Nhàn:
Tôi thấy có những việc như thế này. Chẳng hạn nhìn vào mấy ông Nhân văn Giai phẩm, thấy ở đấy có ông giỏi, nhưng nhiều ông viết cũng thường thôi . Như Phùng Quán, thơ chỉ có một ít bài hay còn phần nhiều nặng về khoa trương la hét , tuyên ngôn tuyên bố . Nhưng vẫn nổi tiếng , chỉ bởi lẽ nhiều người cứ bắt chước nhau mà khen , chứ không chú ý thực tài . Những vụ bê bối được sự ưu ái có phần quá đáng của dư luận. Mà chúng ta còn lạ gì , dân mình, thâý sập cầu, đâm xe, cứ đứng xem cái đã, cho dù là tắc đường cũng không ngại . Nó là tâm lý dân tộc rồi . Từ đó, sinh ra cái hiện tượng mà nhiều người gần đây đều biết , tức là sách bị “đánh” lại bán chạy , có người khôn ngoan đến mức tạo ra dự luận “đánh” mình để nổi tiếng . Chưa biết bao giờ mới dẹp hết được những huyền thoại , cả thứ huyền thoại tự nhiên , lẫn thứ được người trong cuộc tạo ra một cách cố ý ! Xã hội như thế, thì văn nghệ như thế thôi, không thể trách được.
Yên Ba:
Nhân nói về những vụ việc trong địa hạt phê bình của anh, thời gian qua có trường hợp Trần Mạnh Hảo , anh nghĩ sao về cách viết của anh Hảo ?
Vương Trí Nhàn:
Nhìn lại những người từng có viết bài phê phán tôi, thì Trần Mạnh Hảo là người đọc tôi kỹ nhất, hơn những người khác nhiều. Theo tôi, ông Hảo là một người làm việc chăm chỉ và tích cực , thường có ý kiến của mình về mọi chuyện . Nếu để sang một bên mục đích viết , mà chỉ nói về cách làm việc thì tôi thấy ông quá nhạy cảm trước những yêu cầu xã hội và giỏi khái quát , tức là biết gán cho người và việc trước mắt những ý nghĩa mà ông thấy cần phê phán . Đọc người khác viết về một hiện tượng văn chương nào đó , ông có phản ứng lại rất nhanh , đọc tới đâu ,viết tới đó . Nhiệt tình chính của ông là nhiệt tình tranh luận bác bẻ vặn vẹo lại những người đã viết trước . Đôi lúc tôi cứ có cái cảm giác là ông Hảo làm cái việc trị người khác cốt cho nó xôm trò , và muốn tự chứng tỏ rằng điều gì rồi cũng có thể nói khác đi , nói ngược lại , hay ít ra là cãi lại tất cả .
Yên Ba:
Nhưng dù sao, anh Hảo cũng mang lại cho không khí phê bình một sự sôi động nào đó chứ?
Vương Trí Nhàn:
Chính vì vậy tôi thường suy nghĩ về Trần Mạnh Hảo theo cái hướng đây không phải chỉ là cách tồn tại của một người . Chắc có nhiều người khác nghĩ theo kiểu như vậy , họ cũng muốn viết như ông Hảo chẳng qua chỉ vì nhát hay ngại mà không viết . Và điều cần suy nghĩ hơn cả là có những người cần những bài viết kiểu đó . Thành thử có thể nói đây là một hiện tượng chỉ có ở thời buổi hôm nay , hiện tượng ấy là một phần của đời sống tinh thần trong xã hội chúng ta đang sống . Khi vượt lên trên những khen chê ác cảm thiện cảm cá nhân để gắn hiện tượng với cái chung , tôi thấy có nhiều điều phải lý giải thêm !
Yên Ba:
Bây giờ đi vào một vài hiện tượng sáng tác . Anh nhận định như thế nào những cây bút trẻ, ví dụ như Nguyễn Bình Phương?
Vương Trí Nhàn:
Nguyễn Bình Phương là một cây bút mà theo tôi là có những hướng tìm tòi tốt. Một số người khác cũng có hướng tìm tòi như thế. Nhưng mà ở ta cái sự tìm tòi thường mang tính cá nhân, một hai người làm với nhau. Nó thiếu cái nền chung . Cùng với sự tìm tòi, lại còn phải tính tới khả năng của mỗi cây bút nữa. Có khi anh tìm tòi đúng, nhưng tài năng kém, nên không thực hiện được ý định. Cũng như anh có cái xe máy, nhưng anh đi nhộm nhoạm , thì lại không bằng cái người đi xe đạp đàng hoàng, chắc chắn. Tìm tòi là việc phải làm, nhưng để viết thành công, chấp nhận được thì còn xa lắm khó lắm . Xin lỗi là gần đây do mải làm nốt một số công việc dang dở , tôi không có nhu cầu đọc các tác giả trẻ và cũng không chú ý tới những diễn biến mới trong đời sống văn nghệ , nên chỉ có thể nói đại khái như thế.
Yên Ba:
. Còn hiện tượng Tạ Duy Anh , anh thấy thế nào?
Vương Trí Nhàn:
Tôi đặc biệt trân trọng Tạ Duy Anh ở cái điểm chịu đọc , đọc cả những tác giả lớn của nước ngoài và đặt sáng tác của mình trong mối liên hệ với những vấn đề mà các tác giả lớn đó đã động chạm tới . Đó là một hướng đi rất có triển vọng . Tạ Duy Anh không thuộc vào cái lớp người làm hàng hiện nay, tức là viết cốt để đăng báo, viết liên tục, đôi khi biết không có gì hay ho vẫn cứ viết . Cái cuốn mới của Tạ Duy Anh, đáng lẽ còn có thể hay hơn nữa, nếu có sự bình tâm và lắng sâu hơn , viết kỹ hơn, trau chuốt hơn nữa. Nhưng hai chương quan trọng nhất của cuốn sách tôi lại không thích. Tôi thấy viết về nhân vật như thế nó không thực. Nhớ lại hồi chiến tranh tôi thấy mọi người sống hồn nhiên hơn nhiều, lấy đâu ra những nhân vật dằn vặt tìm tòi như tác giả đã viết . Mà bây giờ cũng vậy ,người ta có thể giết nhau vì mấy đồng bạc , chứ lấy đâu ra người giết vợ rồi tự sát vì không tìm ra chân lý ! Có thể nói con người trong thực tế đơn giản hơn thấp hơn mà cái triết lý toát ra từ đời sống hiện nay thì lại rắc rối hơn nhiều. Cần diễn tả nó với cái vẻ riêng mà xã hội Việt Nam mới có , trau chuốt câu văn, nhịp điệu, tạo được một không khí chung để cho người ta cảm thấy và cùng suy nghĩ là tốt nhất — chứ không nên nóng vội . Ngoài ra , nói thật , tôi phải cái bệnh dễ dị ứng khi thoáng cảm thấy hình như ai đó muốn dùng ngòi bút vào những công việc ngoài văn học.

SỐNG TRONG NGHỀ


Yên Ba:
Trên kia đã nói về dư luận nói chung . Thế còn sức ép dư luận đối với bản thân anh thì sao ?
Vương Trí Nhàn
Tôi cố giữ tính độc lập của mình . Nếu trong chừng mực có thể , tôi có phần nào tránh được sức ép của dư luận , ấy là vì một lẽ đơn giản : Tôi luôn luôn tự nghĩ mình không là cái gì cả . Nói chung tôi là dân lao động tự do, cái gì mình thích thì làm . Thẻ nhà báo tôi không có . Tôi cũng không phải là người ăn lương để nghiên cứu . Không như một số người làm ở viện nọ, viện kia, hàm này, chức nọ , tôi chỉ là một người viết bình thường , tự mình chịu trách nhiệm trước lương tâm mình , thế thôi. Nghĩ đến đâu viết đến đấy . Viết xong gửi báo, thấy được thì họ đăng , không thì trả về . Thậm chí một vài lần bị đòn , tôi cũng im lặng, tiếp tục làm cái việc muốn làm . Những người khác còn là giáo viên, còn đứng trên bục giảng , nên lo sợ mất uy tín , chứ tôi việc gì phải lo , ai phải ai trái đã có bạn đọc. Trong đời sống hàng ngày thiếu gì chuyện mình không thích mà có làm gì được đâu . Tôi có viết một bài về Xuân Diệu, không phải là tôi có ý này, ý nọ, như người ta bảo là “đánh” hay là cái gì tương tự . Tôi chỉ muốn nói về Xuân Diệu như tôi đã hiểu. Tôi và nhà văn Tô Hoài từng ngồi nói với nhau và cùng chia sẻ với nhau cái ý thế này: các nhà văn nhà thơ gọi là hàng đầu của mình ấy mà, nhìn kỹ cũng thảm lắm . Xét theo một phương diện nào đó thì họ có vẻ oai , song đi sâu vào đời họ , cũng thấy nhiều chuyện buồn. Có bao nhiêu điều định làm mà không làm nổi , muốn sống khác đi mà không thoát ra nổi cái đường ray đã có sẵn . Họ cũng phải lo lắng đủ thứ, để rồi nhận được lại chẳng là bao. Những năm chiến tranh , các anh ở Hội cũng phải bình bầu để chia nhau đủ thứ , từ đôi lốp , cái xích cái líp xe đạp, đến một đầu sách, một chuyến đi nước ngoài . Người vốn rộng rãi cũng đâm tính toán tủn mủn , người rất hiền lành cũng có lúc gây gổ với chung quanh , người ôm một đống hoài bão lúc còn trẻ khi về già buông xuôi bỏ cuộc hết . Có lẽ là tôi bất tài nên trong khi tôi định viết với sự thương xót thì bài viết lại khiến một số người cảm thấy là tôi có ác ý. Tuỳ họ thôi, còn tôi đã viết ra rồi, không thể chữa lại và nếu viết tiếp thì tôi lại vẫn viết với cảm hứng ấy . Nếu bây giờ mà nói về đời buồn của Xuân Diệu, của Nguyễn Tuân ,của Chế Lan Viên của Nguyễn Khải … như tôi đã biết , thì cũng đủ chuyện để nói và toàn những chuyện nhiều bạn đọc có thể chia sẻ . Trong Cây bút đời người , tôi mới viết về cái sự quẩn quanh , cái hèn, cái tầm thường, cái lo lắng lặt vặt ở một số nhà văn . Thật ra ở họ còn có cả những cái ác, nói dối nhau , trị nhau , đá ngầm nhau , dí điện nhau, phản bội nhau nữa … Cái đó thời nào cũng có và ở đâu cũng có cả .Vương Sóc, hay Lỗ Tấn đều đã có lúc nói tuột hết ra đấy thôi . Bây giờ ở các nước, loại sách hồi ký cùng là sách viết về tiểu sử của những người nổi tiếng cứ gọi là mọc lên như nấm . Mà viết xong cũng không hiếm trường hợp có kiện tụng . Ta cũng nên quen dần với sinh hoạt văn học kiểu đó . Không phải để làm gì cả, mà chỉ để muốn cho mọi người cùng nhìn lại suy nghĩ lại về chính mình , và cái thời mình đang sống .Tại sao các nhà văn cứ đòi nói thực về xã hội mà lại không thích nói thực về chính mình, chính cái giới của mình . Nhiệm vụ hiện nay của văn nghệ, như nhà văn Nguyên Ngọc gần đây nói trên báo Thanh niên , là phải tham gia vào một cuộc tự phê bình của cả xã hội. Lâu nay tôi vẫn nỗ lực theo phương hướng đó .Tôi cố nói cho hết cách hiểu của mình về một vài con người đương thời , với tất cả những đau đớn, dằn vặt đã đến với họ .
Nhiều người cứ bảo viết bây giờ bị hạn chế, không được bày tỏ hết ý kiến .Thực ra không phải vậy. Tôi không thấy hạn chế gì quá lắm , hoặc có hạn chế thì chỉ là ở một vài khu vực nhạy cảm nào đó , ngoài ra nhiều khu vực khác còn rộng rãi chán . Nếu như tôi có thể viết ra một cuốn thật hay về Nguyễn Du, về Hồ Xuân Hương , hoặc về Nguyễn Tuân về Xuân Diệu , thì có gì mà không được chấp nhận . Không phải là khen chê cho khác đời đâu, mà phải phân tích, lập luận cho có lý lẽ , và cốt yếu nhất là khắc hoạ được bộ mặt tinh thần của con người mà mình nói tới . Viết hay thì sẽ vượt qua được mọi khó khăn cản trở , kể cả sự khắt khe của đồng nghiệp và sự đỏng đảnh đồng bóng của dư luận . Những hạn chế đương thời, nó không thấm gì so với sự thiếu hụt tài năng kiến thức của những người đang làm nghề . Chính vì vậy tôi chỉ đòi hỏi mình phải gắng hơn nữa . Có một kinh nghiệm đơn giản thế này : nếu bài nào viết tốt, thì những người đọc mo-rát sửa không sai mấy đâu ; còn bài viết kém thế nào khi in cũng có lỗi .Tức là khi mình viết tốt, viết được sâu sắc , chung quanh sẽ dễ chấp nhận và tiếp thu .
Yên Ba:
Có vẻ như anh chỉ chú ý tới tầng lớp văn nghệ cũ!
Vương Trí Nhàn:
Mỗi người có những khu vực tạm gọi là thành thạo . Tôi có may mắn bắt tay viết từ hồi những Nguyễn Tuân Xuân Diệu … còn sống , tôi cảm thấy chỉ viết về họ thôi đã đủ cho mình lắm rồi . Nếu tôi biết cách khai thác thì qua họ người đọc thấy được người văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung , và từ họ mà người đọc hiểu ra cả lớp người cầm bút trẻ hôm nay .
Phê bình là việc chung của cả giới chứ đâu phải là việc của riêng ai . Bởi vậy tôi chỉ tập trung vào việc của tôi . Thế là đủ ! Đã mang tiếng là quá linh tinh rồi, còn đèo bòng thêm làm gì .
Yên Ba
Lại có người bảo anh yếu về lý luận mà chỉ có kinh nghiệm thực tế.
Vương Trí Nhàn
Trong phê bình có những cái mới ,như lý luận về thi pháp, về cấu trúc, rồi phân tâm học này , kí hiệu học này, đủ thứ , một số trong đó tôi có biết đôi chút qua các tài liệu nước ngoài . Nhưng không thích đóng vai trò rao giảng những cái đó và cũng không muốn áp dụng một cách sống sít , mà chỉ nghĩ hãy vận dụng tinh thần của nó để xem xét đời sống văn học trước mắt . Tôi luôn tự nhủ phải viết như thế nào để càng có nhiều người muốn đọc càng tốt . Lý tưởng nhất là bài viết ra anh xích lô cũng có thể hiểu được, một người không chuyên môn cũng có thể thích , còn người cùng giới lại vẫn công nhận là ở đó có những cái mới . Nhưng mỗi người viết vốn có một kiểu , nhiều khi người ta không thể chủ động chọn lựa cách viết của mình mà nó cứ tự nhiên hình thành . Nếu được phép xếp loại , tôi tự thấy mình thuộc loại viết văn bằng cách viết phê bình . Các nhà văn khác viết về đời sống: công nhân, nông dân, trí thức… Còn tôi thì viết về chính các nhà văn . Đó là những đối tượng để tôi suy nghĩ khám phá mà cũng là khu vực hành nghề , là đất làm ăn của tôi .
Yên Ba
Ngay cả khi chấp nhận cái cách riêng ấy của anh , vẫn có những người không đồng tình với anh ?
Vương Trí Nhàn
Nói không đồng tình còn là quá nhẹ . Đúng hơn là người ta ngại tôi, chán tôi cùng là lên án tôi, chê bai tôi . Sau khi cuốn Cây bút đời người –cuốn sách mà tôi bộc lộ mình đầy đủ nhất — được in ra , có người nhận xét một câu gọn lỏn : Ông Nhàn viết vừa ác vừa nhạt .Tức là vừa bất tài vừa vô hạnh . Lại có người nhìn chung cả những cái tôi viết khái quát : ông Nhàn hình như có gì cay cú , viết không thiện tâm, chỉ toàn bôi gio, trát trấu vào giới cầm bút . Nhưng ai nghĩ thế nào là quyền của họ , về phần mình tôi cũng đã tự cắt nghĩa được là tại sao họ nghĩ về tôi như vậy .Về tài thì thôi không tranh cãi làm gì .Còn về tâm , cũng đã có những bạn viết trẻ không quen mà chỉ đọc tôi , viết trên báo rằng bàng bạc trên các trang viết của Vương Trí Nhàn có sự bùi ngùi thương xót với những kiếp người . Đó là những lời có ý nghĩa động viên an ủi tôi rất nhiều .
Yên Ba:
Anh đã có lần nhại Kim Thánh Thán và cũng từng viết khá kỹ về Thánh Thán khi ông ấy bình về cuốn Mái Tây. Đấy có phải là mẫu nhà phê bình mà anh thích hay không?
Vương Trí Nhàn:
Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng . Ông ấy thường chọn tác phẩm để nhận xét ,chú giải , nói chung để bình . Ông rất tài trong việc đọc rồi chỉ ra chữ này dùng đắt ở chỗ nào , chữ kia dùng như thế đã đạt hay chưa .Tôi không làm theo kiểu đó . Nhưng có cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo : ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác , để nói về mình . Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ . Thú thực , tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết . Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi . Tôi không phải là cái cân vô cảm sinh ra để cân chính xác những giá trị nào đó , mà với tư cách là người viết , tôi chỉ nói những điều thấy cần nói . Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi . Tôi đã chuẩn bị , để , nếu có điều kiện , sẽ viết hồi ký . Nghĩ tới lúc được “lật con bài của mình “ (như cách nói của Aragon ) , tôi thấy rất hào hứng .
Yên Ba:
Một trong những câu nói của Thánh Thán được xem như là tuyên ngôn của phê bình là: làm duyên với đời! Cho đến bây giờ, nhìn nhận lại quá trình cầm bút của mình , anh có thấy đã làm duyên được với đời chưa?
Vương Trí Nhàn:
Tôi nghĩ rằng tôi làm được một phần , dù có thể cái sự làm duyên của tôi cũng không thoát khỏi tẻ nhạt như đoạn trên chúng ta từng nói . Trong câu chuyện hàng ngày cũng như trong sách vở và các loại bảng vàng bia đá để lại cho đời sau , nhiều người có thói quen lý tưởng hoá hình ảnh các nhà văn , nên tôi cố làm ngược lại . Đó là kéo giới cầm bút về gần với những người bình thường . Điều này không làm tổn thương tình cảm của ta với các nghệ sĩ ấy .Chúng ta vẫn biết ơn họ yêu mến họ , nhưng là yêu cái phần thực , chứ không phải cái phần chính họ cố ý vẽ ra và chúng ta vô tình đắp điếm phụ hoạ .Và quan trọng, chúng ta soi thấy mình trong họ , qua họ mà chiêm nghiệm thêm những hệ luỵ của cuộc đời . Tất nhiên công việc này cần có sự tham gia của nhiều người khác ! Tôi cũng biết cái nghề mình là vất vả, nhiều người không coi ra cái gì , nhưng nó đã là một phần cuộc đời của tôi , tôi xin tiếp tục . Tôi hay nói cho vui , người khác là quả cam quả hồng bày trên bàn thờ , còn tôi chỉ là quả sấu xanh vứt lăn lóc đây đó . Thế nào cũng được , miễn tôi đã cố gắng để có thể là quả sấu ngon , lúc đánh giấm rau hay đầu hè nấu bát canh thịt người ta phải dùng tới .
Yên Ba:
Xin cảm ơn anh!

Advertisements
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: