Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2008

Nghệ thuật ăn tết


Hưởng, đấy là khôn ngoan; khiến hưởng, đấy là đức hạnh
(Cách ngôn Ả-rập)

Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú vị khi nào nghĩ lại – người ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất những Tết ngày còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi mà người ta nhận là “vô tư lự”, ngây thơ và sung sướng.
Nhưng nỗi nhớ tiếc ấy chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ. Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.
Ngày còn ít tuổi, tôi không hiểu biết được cái thú uống trà. Chén trà thơm lúc đó như sao bằng được những mộng đẹp tôi đang mơ tưởng trong lòng. Bây giờ tôi đã có biết rồi – và thỉnh thoảng một buổi sớm hay trưa, nâng chén trà lên để nhìn qua hương khói. Hưởng hương vị chén trà thì ít, nhưng hưởng cái thú ở đời, và nhất là hưởng cái giờ khắc nghỉ ngơi, nhàn nhã, mà tự mình cho phép (người ta chỉ có thể hưởng được cái khoái lạc của nghỉ ngơi, khi biết cái nghệ thuật nghỉ ngơi cũng như biết cái nghệ thuật làm việc).
Tôi hiểu là vô ích và điên dại cuộc theo đuổi mộng ảo không cùng, việc lần để ngày lại ngày hạnh phúc. Tôi hiểu rằng hoa nở sớm nay cũng tươi đẹp chẳng kém hoa nở ngày mai, thời tiết xuân nay êm dịp hơn xuân bao giờ hết, và trời trong cùng ánh nắng kia hiện giờ đã đẹp vô ngần…
Tết! Còn dịp nào trong đời ta nhiều thú vị vui tươi hơn nữa. Ngày Tết nhắc ta nhớ lại những Tết đã qua, và khuyên ta an hưởng ngay cái Tết bây giờ. Đêm giao thừa “thời gian qua nghỉ bước trên từng cao” là giờ khắc say sưa êm dịu nhất. Hưởng mùi thơm thuỷ tiên, cánh hồng hoa đào nở, hưởng làn khói trầm vấn vít đủ lên cao. Hưởng đi, trong cái khoái lạc của sáng suốt, trong cái minh mẫn của tinh thần, trong sự thư thái thảnh thơi của lòng bình tĩnh. Tiếc thương như gia vị và mong mỏi như làm ấm nóng cái thú vô cùng.
Rượu sánh trong cốc pha lê trong trộn mùi khói pháo với hương thuỷ tiên. Tiếng pháo nổ vui từ nhà nọ sang nhà kia, liên tiếp, đi mãi vào trong đêm để làm vang động bầu không khí xuân của khắp cả các gia đình. Đó là tiếng hiệu lệnh của sự thông đồng chung hưởng.
*
* *
Lúc đó mỗi nhà đều uống rượu thưởng năm mới. Rồi chiếc bánh chưng đầu năm mang lên, xanh mịn trên đĩa trắng. Bánh chưng gói khéo thì vuông và chắc rắn: gạo mềm và nhiễn, nhân đậu và mỡ quánh vào nhau. Chỗ nạc thì tơi ra như bông gạo. Có nhà gói lắm nạc, nhưng nhiều mỡ vẫn ngon hơn: mỡ phần, chỗ giọi, lúc chín thì trong, và không có thớ. Bánh chưng kể mặn là phải vị. Nhưng có dăm bảy chiếc gói ngọt cũng hay. Chỉ khó làm sao cho đừng sượng, và đường với đậu phải biến với nhau mà thôi.
Tưởng lúc xén đũa đưa miếng bánh chưng lên, thoảng mùi lá dong thơm và mùi nếp cái, ăn với dưa hành trong như ngọc thạch, hoặc với củ cải đậm và ròn như pháo xuân! Đó là tất cả hương vị của cái tết Annam, ngày nay và ngày xưa.
*
* *
Sáng mồng một, chúng ta uống rượu và ăn mứt. Rượu hẳn là phải rượu tây: những thứ vang cũ ngọt như Porto, nồng chua như Vermouth, hay say như Cognac. Uống những thứ ấy thích hơn liqueurs. Nhưng sao ta không có rượu ngon của ta? Tiếc vì bây giờ cái gì của người mình cũng vụng về và giả dối. Còn đâu thứ rượu cau có tiếng ở Hoàng Mai, thứ rượu cúc nổi danh ở tỉnh Bắc? Cái hào nhoáng, cái lộng lẫy bề ngoài đã thay cái chân thực, cái cẩn thận của người xưa. Đơn sơ và cẩu thả đã cướp chỗ của tốt bền, ở tất cả những sản phẩm của nước mình.
*
* *
Mứt ngày trước cũng ngon và khéo léo hơn mứt bây giờ. May gần đây, sự làm đã khá. Đã có mứt sen Cự Hương, mứt khoai Việt Hương, vị cũng nhã, mà trình bày lại sạch sẽ, tinh tươm. Đem làm quà ngày Tết kể cũng tạm được.
Mứt phải đủ ngũ vị: ngọt, bùi, đậm, béo và cay. Thứ mứt gừng cay là quý nhất. Chỉ tiếc thay mứt gừng ngoài Bắc thô và mạnh quá. Tôi ước ao được một ngành mứt gừng ở trong Trung – mứt gừng của Huế, làm bằng mầm gừng non và cả nhánh, trong như ngọc và cay mềm dịu cũng như con gái Huế.
*
* *
Thế rồi đi du xuân ngày mồng một, nhìn cây nêu phấp phới trước các nhà, tiếng khánh sành reo theo gió. Một cuộc hoà nhạc của sắc màu: quần áo mới của bầy trẻ, xác pháo đỏ trên gạch rêu, màu hồng nhạt hay đỏ tươi của câu đối giấy dán trên cổng, và màu củ cẩm (hay cánh sen) trên những tranh tết – nhất là cái màu tím mát ấy, màu của đất nước Annam, của thời xưa chân thật mà không bao giờ nhìn tôi không thương nhớ ngậm ngùi…
Trong lúc đó, trời xuân đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở, và cây cối đều nở mầm non, lộc mới – tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?
*
* *
Cho nên ngày Tết, tôi mong các bạn cùng vui vẻ tươi sáng như ánh mùa xuân, trong khi lần giở những trang của tập báo vì các bạn này.

“Ngày Tết đọc Thạch Lam”

Cái vội của người mình

Năm 1982, Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh thời gian” để mô tả một tín điều đang ám ảnh nhiều người. Những người này thường tự nhủ: “Thời gian đang trôi đi, không còn đủ thời gian, và bạn phải nhanh hơn, nhanh hơn nữa mới bắt kịp nó”.

Sau khi dẫn lại một nhận xét tổng quát như thế, Carl Honoré (tác giả cuốn Ngợi ca sống chậm – bản dịch của Nhà xuất bản Phụ nữ ) tự đặt cho mình một loạt câu hỏi: Vì sao chúng ta luôn vội vã như vậy? Đâu là nguyên nhân tâm lý? Liệu có thể – và có nên ao ước – sống chậm lại?

Những căn bệnh được tác giả miêu tả đủ loại, ăn nhanh, đi vội, sống gấp, làm việc đến kiệt sức, hưởng thụ ngoài sức tưởng tượng. Bởi ở mọi nơi mọi chỗ, chúng ta khao khát tốc độ, nên đã tự làm hỏng cuộc đời đi, ông bảo vậy. “Thời đại của sự rồ dại”, – tinh thần của khái quát đó trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm.

Từ đó, ông giới thiệu một giải pháp ngược lại, đã tự phát hình thành trong thực tế và ngày càng được tin theo, đó là sẵn sàng sống chậm, cốt tìm tới sự hài hòa. Những biện pháp nêu ra, như bớt thời giờ xem ti vi, để thêm thời gian đọc sách và làm vườn hoặc đan lát… chỉ là gợi ý. Trước tiên người ta phải nhận thức được rằng cố sao cho nhanh thường đồng nghĩa với vội vàng, hời hợt nôn nóng, đặt số lượng lên trên chất lượng. Đó là thứ tư duy đã lỗi thời. Còn chậm nghĩa là thư thái cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo. Nhanh và chậm chỉ là tương đối. Cái chính là mỗi người tìm cho mình một nhịp sống hợp lý.

Từ chuyện bên Tây quay về Việt Nam, thấy chúng ta cũng đang bị cái vội cuốn đi thật. Một nhịp sống gấp gáp lôi cuốn. Gấp gáp đến liều lĩnh. Và vội vàng đến bất cẩn. Đường sá quay cuồng. Công việc cứ rối tung cả lên mà vẫn chẳng việc gì ra việc gì.

Một người bạn tôi mới đây dẫn ra nhận xét của một người dân Singapore có dịp sống ở vài thành phố lớn của ta:

– Người Việt các anh đã mất hết tính kiên nhẫn rồi hay sao? Nên biết là ngay ở Singapore, việc chờ taxi mất nửa tiếng với chúng tôi cũng là chuyện thường.

Vấn đề bây giờ chỉ còn là giải thích tại sao chúng ta lại sống vội như vậy và xem xem có phải là cái vội bộc lộ một cái gì to lớn hơn, cần phải gạt bỏ.

Tôi sống trong nghề viết văn, viết báo liên tục đã bốn chục năm nay và có dịp chứng kiến hai giai đoạn nghề nghiệp. Từ 1986 trở về trước, ở Hà Nội báo lom đom dăm bảy tờ, sách viết xong không chắc đã có giấy để in. Thế là không ai bảo ai, viết cái gì cũng đận đà chậm chạp, không thiếu nhà thơ để cả tuần tính một hai chữ trong thơ. Còn nay thì làm ăn như ăn cướp, vừa nghĩ ra cái đầu đề đã ngồi ngay vào bàn, bản thảo chưa hoàn thành (nói như ngày xưa chữ chưa ráo mực) đã giục nhà xuất bản xin phép cho in. Lúc đầu tưởng phải viết cho nhanh mới giải phóng hết được sức sáng tạo. Sau nhìn lại cái đống viết ra hổ lốn hỗn tạp – bằng chứng là bạn đọc ngày càng xa lánh – mới hiểu rằng mình đã rơi vào vòng tay của sự làm liều làm ẩu lúc nào không biết. Chậm mới hợp với trình độ của mình. Nhanh là ảo tượng giả tạo, bỏ mồi bắt bóng.

Khốn khổ có riêng nghề của bọn tôi đâu, nghề nào bây giờ chẳng vậy!

Xưa nay dân ta ít ai để ý tới chuyện cười cợt của người mình. Tới những thập niên đầu thế kỷ hai mươi, Nguyễn Văn Vĩnh mới đọc ra trong đó cả một triết lý sống. Trong bài Gì cũng cười, viết trên Đông dương tạp chí, nhà văn này giả định, “Trong cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác: có cách láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà đã gièm trước ý tưởng người ta, không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta”.

Học theo Nguyễn Văn Vĩnh, tôi cũng muốn nói rằng trong sự nóng vội người đời bây giờ có cái hạn hẹp trong tầm nghĩ, chỉ thấy đời sống trước mắt mà không thấy đời sống thâm nghiêm lâu dài; có cái tự ti, biết rằng mình đã quá lạc hậu với thế giới nên phải lo truy đuổi trong tuyệt vọng; có cái hỗn loạn trong cảm giác về giá trị, từ đó tạo nên ám ảnh lấy thịt đè người, chỉ có nhanh mới hốt được của thiên hạ.

Với một số người, vẻ vội vàng mà họ biểu hiện như vậy là cả một lời tố cáo. Rằng đời sống tinh thần họ tầm thường. Rằng họ không biết mình là ai trong thế giới này. Thậm chí ở một số trường hợp vội vàng đồng nghĩa với gian manh, cố tình tạo ra tình trạng hỗn loạn để đẩy đi thứ hàng kém cỏi mình làm, cái cuộc sống vớ vẩn mình muốn áp đặt cho kẻ khác. Vội trong trường hợp này là để lấp đi cái trống rỗng, mà cũng là cái bế tắc của tình thế.

Hồi còn bao cấp, tôi thường hình dung cái vội của dân mình như người có cái xe đạp đã tàng đã cũ, cứ phải rướn cổ cò mà đạp trên con đường quê gồ ghề. Còn ngày nay thường đến với tôi là hình ảnh những người chạy xe gắn máy rồ ga bóp còi inh ỏi, đưa xe lên cả vỉa hè, nhưng chẳng để làm gì ngoài việc lăn từ đám tắc đường này sang đám tắc đường khác. Mà cả thành phố thì trì trệ ì ạch, dấu hiệu còn lại của thời buổi kinh tế thị trường chỉ là một sự nhốn nháo.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Chủ Nhật, 28/12/2008 Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Nếp sống tai hại

Về thăm Bát Tràng, cảm giác đọng lại trong tôi cũng như ở nhiều người khác, là một cái gì chua xót cho kiếp người. ở đây chỗ nào cũng thấy khói than bụi bặm. Cả làng là một xưởng sản xuất lớn. Đồ gốm khắp nơi, thứ đang ở dạng sơ chế, thứ xếp trong lò, thứ nằm ngổn ngang chờ xuất đi bán lẻ, và có cả những thứ bóng lọng trong tủ kính. Hàng hoá nhiều quá, hàng hoá lấn át cả những sinh linh đã làm ra nó. Ngập lụt giữa hàng hoá do mình làm ra, con người dường như không còn đứng cao hơn sản phẩm, không còn là chủ nhân công của mảnh đất này nữa. Mà con người chỉ còn là một chi tiết nhỏ nhoi trong cả guồng máy sản xuất to lớn.
Mới đây đọc báo Nông thôn Ngày nay lại thấy nói tới một vùng sinh thái báo động: đó là chuyện ở Văn Thai, Cẩm Vân, Cẩm Giàng, Hải Dương. Dân nơi đây chỉ sống bằng nghề mổ thuê trâu bò. Góc sân bất cứ nhà nào cũng có thể biến thành lò sát sinh. Những thứ thải loại từ các cuộc mổ xẻ thủ công đó hàng ngày tự do tuôn ra đường xá, cống rãnh. Nhiều cái ao biến thành bể ngâm, xương vừa xẻ ra, vứt luôn xuống đấy chờ dòi bọ rỉa nốt những nhánh thịt dính bện mới vớt lên mang bán.
Giá kể ngày xưa, thì chuyện ở Bát Tràng, Văn Thai đã trở thành những ví dụ tố, minh hoạ cho bài học về tình yêu lao động và tinh thần chịu đựng gian khổ của dân ta. Nhưng giờ đây người ta buộc phải nghĩ thêm: thói quen là một cái gì đáng sợ. Và khi một thói quen lại gắn bó với công cuộc kiếm sống vốn rất thiêng iêng , thì nó lại càng đáng sợ hơn! Dù biết rằng có hại cho cuộc sống, người ta cũng không dễ thay đổi. Ai mà biết được còn biết bao nhiêu nếp sống quen thuộc mà tai hại như vậy đang tồn đọng ở các làng quê?!

Có những thái độ trâng tráo

Nghĩ về tiếng cười
Thành ngữ tục ngữ ca dao cũ từng ghi nhận tiếng cười như một hiện tượng đa dạng :
Cười góp, cười giòn, cười gằn, cười lạt, cười gượng, cười ngất, cười sằng sặc, cười ha hả,cười trừ, cười rơi nước mắt … Với đủ cung bậc như vậy, tiếng cười mới trở thành một phương tiện giao tiếp giữa con người với con người, hơn nữa một công cụ để giúp người ta nhận thức về mình, hoàn thiện mình.
Ai rồi cũng có lúc đáng cười thôi. Trước lầm lỗi của người khác, người ta phải mang thái độ khoan dung, nó cũng là thái độ tỉnh táo biết mình biết người :
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Một trường hợp khác, sự giao đãi thành thực và đáng thương hơn :
Tôi chắp tay tôi lạy bạn đừng cười
Lòng tôi không trăng gió nhưng tôi gặp phải người gió trăng
Đây là lời của Súy Vân, nhân vật trong vở chèo cùng tên, từ trên sân khấu, hướng về đám đông người xem, hướng về dư luận. Lúc ấy, Súy Vân đang vướng phải mối tình vụng trộm với Trần Phương. Nàng hiểu đang bị chung quanh đàm tiếu. Tự nàng cũng thấy tiếng cười đó là chính đáng, nên mới có một thái độ phục thiện như vậy.
Dường như Súy Vân cũng phần nào hiểu cội nguồn sâu xa của cái điều đáng cười ở mình. Tự nàng chưa dám hứa điều gì cả. Nhưng nàng ghi nhận tiếng cười đó là lành mạnh là có lý.
Thái độ thường thấy của con người trong nền văn hóa dân gian trước tiếng cười là như vậy.
Song không phải bao giờ cũng vậy. Dân gian cũng không quên ghi lại thái độ trâng tráo của một số người. Họ có thái độ hoàn toàn ngược với Súy Vân vừa nói .
Cười hở mười cái răng … từ câu nói mỉa mai này toát ra cái bất cần của con người. Không cần biết ai cười thế nào, họ không chấp nhận. Xem đó chỉ là một hành động sinh lý, họ thây kệ.
Cười ba tháng chứ ai cười ba năm. Người nói câu này còn từng trải và thâm thúy hơn. Họ hiểu tính cách mong manh của tiếng cười. Không ai để ý được ai quá lâu. Song đằng sau sự từng trải và thâm thúy đó cũng là bất cần là dung dưỡng cho sự làm bậy của chính mình và kẻ khác.Tiếng cười vô nghĩa (!) Sự vô cảm muôn năm(!). Đóng vai trơ trẽn là thắng tất .
Nó giống như thái độ của lớp người mặt dày tim đen (trong “hậu hắc học “)mà nhà nghiên cứu Trung quốc Lý Tôn Ngô đã tổng kết khi bàn về thành bại của người Tàu trong lịch sử .
Những câu tục ngữ này như một lời cảnh báo. Trong xã hội hiện đại, sự trâng tráo với tiếng cười càng phát triển. Và tiếng cười cần phải mạnh hơn thì mới xuyên thủng được sự trâng tráo đó.

Thứ Ba, 05/02/2008 tuoi tre online

CHIỀU CỔ

Chiều sương rừng tía, lệ muôn hàng
San sát ghe đầy bến Trúc lang
Cây, nước, say theo người tráng sĩ
Con đò quên cả chuyến sang ngang.

Lưu Trọng Lư Tiếp tục đọc

Trăng mơ

Trăng mơ

Một đêm mờ lạnh ánh gương phai

suốt giải sông Hương nước thở dài

Xào xạc sóng buồn khuơ bãi sậy

bập bềnh bên mạn chiếc thuyền ai Tiếp tục đọc

TIẾNG SÁO THIÊN THAI

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi
Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng. Tiếp tục đọc

MẸ ƠI!*

Bây giờ con chẳng còn gì
Cúi đầu lậy mẹ con đi về trời Tiếp tục đọc

Nhân một truyện ngắn của Nam Cao

(TBKTSG) – Rửa hờn của Nam Cao (Tuyển tập Nam Cao, bản của NXB Văn Học in 1987, tr. 424) viết về cuộc hiềm khích kèn cựa giữa hai vị tai to mặt lớn làng nọ. Một bên là Lý Nhưng, một bên là Khóa Mẫn.

Người thứ nhất – người xưa gọi là Lý Đương – là kẻ đang có thực quyền. Nhưng người thứ hai cũng không phải chân trắng. Gọi là Khóa Mẫn tức ông ta thuộc loại có học và sự học được cả cộng đồng làng xóm công nhận, từ đó loại người như ông ta kín đáo len vào bộ máy cầm quyền và bằng những cách khác nhau tác động tới sự vận hành của bộ máy này.

Họ kiện nhau đến vong gia bại sản. Mà ban đầu cái cớ chỉ là chuyện nhà chức trách (tức Lý Nhưng) tống tiền ăn bẩn, rồi cả làng khinh ghét. Sau khi nghe ngóng tình hình thấy việc xấu của mình làng xóm đã hay biết, Lý Nhưng liền cho rằng tất cả là từ Khóa Mẫn. Hẳn là ông này không ăn được thì đạp đổ! Cứ thế người nọ ra đòn trị, người kia báo thù, cả hai ngày mỗi lún sâu vào cảnh thân bại danh liệt.

Có thể chú ý tới thiên truyện này của Nam Cao ở nhiều khía cạnh. Từ thế kỷ XIX, Cao Bá Quát đã nói tới nạn cường hào ở nông thôn – cường hào ( = kẻ có quyền) chứ không phải chỉ là địa chủ ( = kẻ có đất ).

Ngoài Chí Phèo, chủ đề cường hào còn được tác giả đả động tới trong Nửa đêm, Đôi móng giò... Trong các truyện ngắn ấy, nhà văn vẽ lại cả cơ chế quyền lực ở nông thôn. Như Rửa hờn nói ở đây đi vào khía cạnh bọn cường hào thù nhau, hại nhau ra sao.

Rửa hờn lại còn là một bằng chứng về các vấn đề có liên quan tới thông tin ở làng xã xưa. Vụ Lý Nhưng bục ra từ một cái trần ngôn “Trời ơi có thấu tình chăng – Một con mẹ đẻ mấy thằng ăn no – Ai về tôi gửi cái mo – Lý Nhưng có thiếu thì cho mà dùng – Lý Nhưng ơi hỡi Lý Nhưng – Tưởng là ông hóa ra thằng ăn dơ”.

Trần ngôn (trần ở đây có nghĩa là bộc lộ, bày tỏ) chẳng qua chỉ một thứ vè viết lên giấy dán ở cửa đình. Nhưng chẳng phải bước đầu nó đóng vai trò một thứ báo chí theo nghĩa hẹp nhất, một thứ sách trắng? Một mô hình có từ thời làng xã, được tiếp nối khi văn hóa phương Tây tràn vào?

Nó chứng tỏ xã hội đã hình thành một nhu cầu là phải có những thông tin về chính mình. Có điều loại thông tin tự phát này dù dưới dạng truyền khẩu hay đã viết ra đều dễ bị làm hỏng. Nó giống như một khoảng trắng, ai muốn bôi bẩn thế nào cũng được. Thiếu sót rõ nhất của những lời đồn thổi, là người ta không sao xác minh được rõ ràng. Tự nhiên nó lại dễ trở thành công cụ để người ta hại nhau.

Sự phát ngôn của số đông người trong các “hương đảng tiểu triều đình” vậy là chưa trưởng thành đã tha hóa. Nó sớm là đất để bọn cường hào tha hồ thao túng. Còn lâu một dư luận lành mạnh sáng suốt mới có thể xuất hiện.

Không phải ngẫu nhiên lại xảy ra tình hình ấy. Xã hội nào thông tin vậy. Xã hội lúc đó quá trì trệ. Đã tồn tại dai dẳng cả một cơ cấu bùng nhùng, cộng đồng thì vật vờ xiêu vẹo mà cá nhân cũng chưa thành hình. Người ta không có ý niệm chắc chắn về sự cùng sống cùng tồn tại. Rất khó khăn là việc hình thành cho được những chuẩn mực chung. Các quy phạm xử thế quá tùy tiện, ai mạnh áp đặt thì cộng đồng phải theo. Con người chỉ lấy việc chiều chuộng bản năng làm hứng thú.

Như thể tất cả chìm trong bóng tối. Mà trong bóng tối người ta vừa thờ ơ lảng tránh nhau lại vừa dòm hành soi mói nhau, đồn thổi về nhau, tung tin hại nhau, nghĩa là lợi dụng bóng tối đó mưu lợi riêng. Một cách gián tiếp, mọi người thầm mong bóng tối kéo dài mãi. Đây là một thực tế nối tiếp trong lịch sử.

Sách Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam kể rằng ở hương ước nhiều làng có ghi rõ đàn ông cũng như đàn bà khi gặp viên quan sai trên phái về hỏi, thì việc gì cũng phải bảo là không biết. Nếu máy mồm trả lời, “bản xã phát hiện ra sẽ phạt nặng”.

Ấn tượng chung như vậy là sự bưng bít. Một cái gì chỉ mới gần giống dư luận, mà đã bị chặn từ trong trứng, tại sao? Bởi người ta thừa biết người ta xấu, nên phải chặn. Có thể làm cách nào để thay đổi việc này không? Có cách nào để thông báo về những bất công sai phạm? Người xưa đã định làm thử, mà làm hẳn trên phạm vi rộng.

Sách Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng kể, thời Trịnh Doanh, chúa đã cho đặt một ống đồng ở cửa phủ để ai có việc gì oan khuất, hoặc thấy ai hư hỏng – nhất là quan lại tham nhũng, thì viết thư bỏ vào đó, cứ năm ngày một lần trình lên chúa.

Nhưng sau xem lại người ta ngớ ra, phần lớn những lời kêu oan và tố cáo là không đúng, nên hình thức này bị bỏ luôn. Tức là người dân đã làm hỏng luôn cơ hội có một dư luận sáng suốt của cộng đồng mình.

Thiên truyện của Nam Cao có một cái kết ngồ ngộ. Cuối truyện, Lý Nhưng bại nên ức lắm, tìm bằng được mộ tổ nhà khóa Mẫn đái vào một bãi thì mới yên lòng. Đọc lên người ngày nay không khỏi cười thầm. Trong tình trạng dân trí như vậy thì còn hy vọng gì vào việc thay đổi nữa!

Thứ Năm, 19/6/2008 saigon times online

Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Tiếp tục đọc

TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong Tiếp tục đọc

KIM LÂN


và NHỮNG KIẾP NGƯỜI
“ĐẦU THỪA ĐUÔI THẸO”

Thật lòng khó nói rằng Kim Lân hồi trẻ có một vẻ ngoài sang trọng. Hình như ông sẵn sàng tỏ ra nhếch nhác luộm thuộm một chút trước mặt mọi người để càng không ai để mắt tới ông càng tốt. Tôi nhớ khoảng 1968-1970 nghe một đồng nghiệp là nhà văn Lê Minh nói về Kim Lân. Trong một buổi họp của giới văn nghệ, đáp lại lời yêu cầu của tôi là nhờ chỉ cho biết mặt Kim Lân, Lê Minh đảo mắt nhìn quanh rồi nói đùa:
Khéo khi gặp lại ngạc nhiên vì cái vẻ quá cỏ rả của ông ấy chứ lại! Tiếp tục đọc

“ TA “ VÀ “NGƯỜI “

Hồi gần tết , trên một tờ báo điện tử có bài Công chức VN nên ghi lại nhật ký công việc . Sở dĩ phải đặt vấn đề nh­ư vậy là vì , nh­ư ng­ười ta viết trong bài , “ Tình trạng chung hiện nay là thậm chí lãnh đạo trực tiếp cũng không biết chắc chắn công chức dư­ới quyền mình làm gì trong giờ hành chính “ . Lãnh đạo trực tiếp nói ở đây , tức là ng­ười phụ trách những cơ quan nhỏ , cơ quan cấp hai ; chứ không phải các đầu mối lớn , gọi là cơ quan cấp một , ở đó , nói tới sự sâu sát càng khó .
Thế nh­ưng ngay lập tức một câu hỏi đ­ược đặt ra : Liệu có làm đư­ợc thực sự ? Hay là chỉ ghi cho có chuyện , ghi dối ghi dá , cốt để đối phó với nhau và chỉ ba bảy hăm mốt ngày là đâu đóng đấy , không ai biết việc của ai cả ?!
Có vẻ nh­ư ngay khi đặt cho bài viết cái tên nên ghi lại nhật ký , thì ng­ười ta cũng đã tự tố cáo là biết việc đáng làm đấy , như­ng có nhất định làm đ­ược không thì không dám chắc . Lại nhớ hồi chiến tranh , mọi chuyện phải bí mật , nhiều khi cơ quan ở đâu , không đư­ợc nói , đư­ợc chi bao nhiêu , không đ­ược biết , ai đang làm gì , không đ­ược hỏi . Hình nh­ư cái tình trạng ấy hôm nay vẫn ch­ưa dứt hẳn .

Năm 1984, đến một nông tr­ường trồng chè ở Tuyên Quang tôi mới đư­ợc biết là chè mình xuất sang Nga ,Ân Độ chỉ là phụ gia , cho ngư­ời ta trộn thêm vào , chứ thực ra chè ta không tồn tại độc lập . Nó nh­ư ng­ười không có mặt .
Giờ đây nghe tin : Mới chỉ có 25% hàng hoá Việt Nam đạt tiêu chuẩn hàng hoá quốc tế và khu vực (VietNam Net 18-2) .
Hôm qua đọc VNExpress lại nghe nói rằng làm ăn theo kiểu hiện nay tức là mình toàn đi xuất khẩu hộ ngư­ời . Ví dụ một ngành ăn nên làm ra của mình là ngành dệt may . Như­ng do gần như­ toàn bộ nguyên liệu là đi nhập nên sau khi cặm cụi cắt may là ủi đóng hộp …, tính kỹ ra trung bình xuất đ­ược 5 đô la , thì thu về thật ra có vài cent ( tư­ơng tự nh­ư 5 đồng thì thu về vài hào ).

Hơn bao giờ hết , ngư­ời n­ước ngoài có mặt trên đất này ngày càng nhiều . Tây có mặt trên mọi quãng phố . Tây tràn cả về nông thôn . Tây có mặt ở các đám hội lễ . Tây có mặt trong các cuộc hội thảo hội nghị , ở đó họ cùng chúng ta bàn bạc mọi chuyện .
Có những chuyện tôi cứ muốn quên đi mà không sao quên nổi .
Một là , có lần viện Gớt ở Hà Nội mở cuộc trao đổi về phư­ơng án cải tạo phố cổ ở Hà Nội . Họ mời đ­ược cả các chuyên gia từ Pháp , Singapore sang . Chỉ riêng có cán bộ quản lý của thành phố và khu phố sở tại đ­ược mời thì không thấy đến .
Câu chuyện thứ hai liên quan đến ngôi nhà của cơ quan văn hoá X . đ­ược xây dựng từ hồi Pháp thuộc và nay đã quá cũ . Một đoàn khách Pháp đến tham quan , họ ngỏ ý sẽ về Pháp vận động để gây quỹ xây lại ngôi nhà đó . Bên ta đồng ý . Nh­ưng đến khi họ đề ra kế hoạch cụ thể là sẽ cử thợ bên ấy sang xây dựng từ đầu chí cuối cho đến khi hoàn thành , chìa khoá trao tay thì phía ta , cơ quan chủ quản nhất định không nhận . Họ không sao hiểu nổi . Chị D . là ng­ười phiên dịch cho những cuộc trao đổi giữa hai bên khi kể với tôi chuyện này chỉ nhẹ nhàng giải thích :
— Có gì đâu , chờ ít năm , thả nào trên bộ cũng có chỉ tiêu cho cơ quan ít ra là vài trăm triệu để xây dựng . Mà ta làm với ta thì thả nào bên B. chả lại mặt cho bên A. ít nhiều . Chứ để ngư­ời ta xây cho thì còn cấu véo đ­ược chút gì ? Từ chối thế lại đ­ược cái tiếng !

Đang trong những ngày đầu xuân , nhiều nưg­ời đã nghĩ tới việc hè này đi nghỉ ở đâu . Tr­ước chỉ lo nghỉ ở trong n­ước . Mấy năm nay , số ngư­ời đi Âu châu đã đông hơn hẳn . Bà K. chị họ tôi cũng ở trong số đó . Bà đi từ năm ngoái kia . Nh­ưng đáng ngạc nhiên là câu chuyện bà kể sau chuyến đi:
— Nói ra thì không ai tin , nh­ng quả thật vừa sang đã chỉ muốn về . Con cái nó toàn mải đi làm , chứ có phải lúc nào nó cũng dẫn mình đi chơi đư­ợc đâu. Mà có đi chơi cũng chán , cái gì cũng lạ . Tiếng tăm không biết , chả còn thấy cái gì là hay. Giá kể ở nhà xem Ti – vi có khi còn kỹ càng hơn. Chú không biết chứ , nghe tin tôi đ­ược về trư­ớc mấy tuần , bà M. cùng đi khóc thút thít : Bao giờ tôi mới đ­ược về ?
Nghe nói nhiều cô cậu con nhà giàu đ­ược cha mẹ cho đi du học sang ít lâu lại trốn về . Thì ra ở đấy phải học cẩn thận chứ không dùng tiền mua bằng kiếm điểm đ­ược . Lại không đ­ược tự do chơi bời . Thế thì về có phải s­ướng hơn không ? Với các cô cậu ấy , n­ước mình mới thực là thiên đ­ường !

Đã in Nông thôn ngày nay
số ra 7-3-05

Độc đáo với bất cứ giá nào !

Nếp sống nếp nghĩ
Lâu nay tôi không phải là khán giả thư­ờng xuyên của chuyên mục Gặp nhau cuối tuần trên VTV3 , ấy vậy mà nhân ngẫu nhiên đ­ược vợ con rủ xem chư­ơng trình mang tên Hội ơi là hội (tối 30-3 ), lại thấy phục sát đất . Chuyện kể về một làng nọ làm hội . Làm nh­ư thế nào ? Nói nôm na là không có cũng vẽ ra mà làm . Tính chuyện bắt ch­ước ngư­ời khác ( ai đó đạo văn , đạo nhạc thì ở đây ngư­ời ta sẵn sàng đạo hội ) . Thấy các làng khác có chọi trâu chọi gà thì nghĩ ra việc …chọi lợn . Phỏng theo lối đấu bò ở Tây Ban Nha, ng­ười ra đấu ngồi xổm trên mặt đất tay cầm miếng vải đỏ khiêu khích lợn , tay kia cầm cái gì na ná nh­ư cái khiên để tự che đỡ . Không ai là nhịn c­ười nổi !
Ngay sau tiếng cư­ời , cố nhiên , màn kịch cũng luôn tiện làm cho ng­ười ta đau lòng . Con ng­ười ở đây hiện ra trong một tình trạng thảm hại : Mang quá khứ ra để làm thư­ơng mại . Kiếm ăn với bất cứ giá nào. Ma mãnh đủ kiểu . Nhân danh một mục đích tốt đẹp , tự cho rằng có gian dối một tí rồi thần phật cũng tha bổng cho hết .
Nghĩ lại thì chẳng qua cái sự làm liều nghĩ ẩu ở đây đ­ược bắt đầu từ một nguyện vọng có vẻ rất chính đáng . Đó là muốn gây ấn t­ượng với ng­ười . Song do chỗ trong thâm tâm thừa biết mình kém sẵn , và không bao giờ có thể bằng ng­ười , nên chỉ còn cách tạo ra sự độc đáo . Rồi nhận ra đây là ngón võ có vẻ hiệu quả , ng­ười ta còn hùa nhau nâng nó , cái sự độc đáo ấy , lên thành lý luận : sùng bái nó , cho nó là quan trọng nhất trên đời , và lo đi tìm nó bằng đ­ược , — kể cả đến lúc bí , phải dùng tới cách tầm th­ường nhất , và bản thân thư­ờng lên tiếng chống đối mạnh mẽ nhất , đó là nhập khẩu những cái cực kỳ xa lạ từ n­ước ngoài .
Chỉ cần độc đáo là có giá trị , cái lầm lỡ tai hại ấy , kỳ lạ thay , lại đang lan tràn nh­ư một căn bệnh . Trong việc này bọn tôi cũng có một ít kỷ niệm . Hồi đó là vào khoảng đầu những năm sáu m­ươi , một số thanh niên mới tập viết cũng có cái lối đi tìm bằng đ­ược sự độc đáo để gây ấn tư­ợng . May mà các bậc đàn anh đã sớm nhắc nhở . Còn nhớ nhà thơ Xuân Diệu từng giảng rất hay về chuyện này . Với lối nói riết gióng của mình , ông bảo nên nhớ là hai con lợn khác nhau cũng mỗi con một cá tính , nghĩa là chẳng con nào giống con nào ; vậy đừng có lẫn cá tính với cá tật … Sự độc đáo chỉ đáng ghi nhận khi nó là dấu hiệu của một giá trị chân chính .
Nói cho vui , không chừng cái làng Cự Phách trong ch­ương trình Hội ơi là hội đã ăn phải đũa bọn tập tọng học nghề chúng tôi mấy chục năm tr­ớc . Trong bụng ­ước có một Xuân Diệu để nhắc nhở , song lại nghĩ , một khi cả làng cả xóm bây giờ đã mê muội vậy , chắc ông Xuân Diệu có tái sinh cũng phải giơ tay đầu hàng !

Đã in Thể thao và văn hoá
số ra 6-5-05

Một lần Lỗ Tấn nổi cáu


(TBKTSG Online) – Nguyễn Hiến Lê, trong cuốn Sử Trung Quốc, có kể lại một mẩu chuyện nhỏ. Khoảng năm 1920, nhà triết học Anh Bertrand Russelltới tham quan cảnh Tây Hồ ở Hàng Châu.

Trời nắng gắt, bọn phu khiêng kiệu cho ông leo những đường dốc hiểm trở để lên một ngọn núi. Thấy họ vất vả, ông tỏ ý thương hại. Nhưng ông lấy làm lạ là đến lúc ngồi nghỉ, họ liền lấy thuốc ra hút rồi cười đùa ầm ĩ, tưởng như đời hạnh phúc lắm. Và ông khen ngợi, cho là họ biết sống.

Nghe được chuyện này, Lỗ Tấn bực lắm, trước tiên là vì những lời khen của ông bạn ngoại quốc.

Lỗ Tấn mai mỉa: “Tôi không rõ khi khen vậy, ông ấy muốn nói gì”. Và tác giả AQ bày tỏ ý muốn nhìn thấy ở những người phu kiệu cách phản ứng khác: “Tôi chỉ biết một điều là nếu những tên phu đó biết đau đớn về thân phận của mình thì Trung Hoa đã thoát khỏi cảnh điêu đứng từ lâu rồi”.

Ai đã từng ra nước ngoài đều biết, ghé lại đất nước nào đó ít ngày, phải cố ý tránh cho mình mọi phiền phức. Cái lối ban phát lời khen vô tội vạ, do đó, là rất phổ biến, vì “có mất gì của bọ đâu mà bọ tiếc”. Một sự nghi ngại như của Lỗ Tấn không phải là vô lý.

Tuy nhiên phải nhận ai cũng thấy cái cách phớt lờ những chuyện không được như ý, vui cười trước mọi vất vả, càng khổ càng cười mạnh – đấy là một cách nghĩ thông thường đã có từ ngàn đời nay. Không những nó có ở phương Đông mà có cả ở phương Tây. Nó chỉ là một phương thức giúp người ta tự vệ. Ai chưa có cũng muốn học!

Thành thử tôi cũng không dại gì mà bài bác những tiếng cười thỏa hiệp hiện đang khá phổ biến.

Chỉ có điều trong thực tế hiện nay, không phải mọi người dừng lại ở chỗ ấy. Hình như chúng ta đang mải cười quá. Cười để khỏi phải nghĩ. Cười để lảng tránh thực tế nó đang không được như ta mong muốn. Cười để cào bằng hay dở tốt xấu, xí xóa mọi chuyện. Cười để “ra cái điều” mình bất cần đời. Tiếng cười trong nhiều trường hợp đã trở thành một thứ hành động vô cảm. Và vô trách nhiệm nữa.

Tới lúc này thì tôi lại thấy Lỗ Tấn là rất có lý.

Sinh thời Lỗ Tấn vốn nổi tiếng với tinh thần phê phán xã hội. Không những ông phê phán giai cấp thống trị mà phê phán luôn cả đại chúng nữa. Các tài liệu nghiên cứu về xã hội và con người Trung Quốc hiện đại đều ghi nhận Lỗ Tấn là người đi đầu trong việc chỉ ra cho quốc dân những tính cách đáng chê trách của người Trung Quốc. Liên quan tới đám đông, bộ phận dưới đáy của xã hội, thái độ của ông thu gọn lại trong công thức “ái kỳ bất hạnh nộ kỳ bất tranh”, hàm ý ông thông cảm với những đau đớn của họ, nhưng giận vì họ nhát, hèn, không dám tranh đấu.

Sự bực bội mà Nguyễn Hiến Lê kể lại nói trên là nằm trong cái mạch xử thế nhất quán của Lỗ Tấn.

Cần nhắc lại câu chuyện trên vì có vẻ như đến nay nó vẫn còn ý nghĩa. Sự bất mãn trước thực tế vốn không phải là độc quyền của con người bất cứ thời đại nào, xứ sở nào. Thậm chí còn có thể nói là xã hội càng đi lên thì người ta càng cảm thấy sự không hoàn thiện của nó. Tình trạng mệt mỏi nhanh chóng xảy ra.

Một thời để mất (1995) là tên một cuốn sách viết về Nguyên Hồng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Hiện lên trong sách là một Nguyên Hồng về già đau khổ trước bao điều chướng tai gai mắt và sự bất lực của bản thân cũng như chung quanh. Không phải ông không biết như thế là chưa hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn, nhưng làm cách nào để thay đổi thì ông chịu. Bùi Ngọc Tấn đặt vào đoạn kết một kỷ niệm. Lần ấy tác giả Bỉ vỏ đến thăm, ông đang nằm trên giường đọc sách, bỗng nhỏm dậy vì một câu nói trúng ý mình:

– Tấn ơi! Làm gì đấy. Nghe đã nhé. Đây là câu kết một vở kịch Ba Lan. Nhân vật chính quay ra nói với khán giả: “Các bạn có biết vì sao người ta nói dối không? Có hai lý do. Thứ nhất: Người ta sợ nói khác mọi người. Thứ hai: Người ta mệt quá rồi”.

Sự mệt mỏi đã là một thứ bạn đồng hành bất đắc dĩ mà còn sống ta còn phải chịu đựng.

Khi bị đẩy đến mức cao nhất, sự mệt mỏi thường xuyên này trở nên một tác nhân làm tha hóa con người. Người ta hoặc là nói dối như trong vở kịch Ba Lan nói trên, hoặc là chỉ còn biết cười, cười để lảng tránh.

Một mặt phải chấp nhận rằng nó – sự tha hóa này – cũng là một cái gì tự nhiên, một phản ứng nhân bản, với nghĩa là ở đâu con người cũng tìm cách để… yên tâm và sống sót.

Nhưng mặt khác, sẽ là nhân bản hơn, nếu chúng ta đặt vấn đề yêu cầu cao ở con người: không để thực tế kéo mình thấp xuống, duy trì sự bất mãn chính đáng và tìm tới những suy nghĩ và hành động thích hợp, tức phấn đấu cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đấy mới chính là cách vượt lên trên sự mệt mỏi và tiêu hóa nó một cách hiệu nghiệm nhất. Cười là cần nhưng cái suy nghĩ sau đó lại còn cần kíp hơn hẳn một bậc.

Thứ Bảy, 9/2/2008 saigon times online