Tản Đà


Vài nét tiểu sử
Tản Đà, tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh 25-5-1889. Quê quán: Khê Thượng, Bất Bạt, Sơn Tây. Nhiều năm làm báo ở Hà Nội và cũng mất tại Hà Nội (7-6-1939). Tác phẩm chính: Khối tình con (1916), Giấc mộng con (1917), Giấc mộng lớn (1929), Thề non nước (1932), bản dịch Liêu trai chí dị (1939).

Không chỉ thuộc về núi Tản sông Đà

Giai đoạn lịch sử 1900-1930 thường được gọi là buổi giao thời của xã hội Việt Nam. Trong một thời gian ngắn, mô hình trung đại phương Đông tan rã, một mô hình mới mà người ta thường gọi là mô hình hiện đại (song thực tế, là mô hình theo kiểu phương Tây) được hình thành.
Xã hội nào có người nghệ sĩ của xã hội ấy.
Nói cách khác, trong cuộc đời những người cầm bút của một thời đại, người ta thường có thể đọc ra những khía cạnh mà chỉ riêng ở cái thời buổi ấy mới có, và trong khi ở những người bình thường những đường nét này thấp thoáng lờ mờ, thì ở những nhân vật xuất sắc, những đường nét ấy hằn lên rõ rệt. Với thời gian của mình, Tản Đà chính là một trường hợp như thế.
Xuất thân và học vấn
Không thể hình dung một người cầm bút như Tản Đà lại xuất thân từ một môi trường nào khác ngoài cửa Khổng sân Trình. Tuy sau này, ông cũng viết văn, viết báo bằng chữ quốc ngữ, nhưng cách suy nghĩ của ông vẫn là của người có qua Hán học. Với việc dịch Đại học, Kinh thi hoặc Thơ Đường, hoặc tranh cãi về đạo nho với Phan Khôi, ông tự trình bày cho thấy một vốn học mà lớp người theo sát ông như Khái Hưng, Thế Lữ… dù có biết chữ Hán, cũng không thể so sánh nổi. Theo nhận xét của Phan Khôi, Tản Đà “không chịu học” nhưng câu này phải hiểu với nghĩa là Tản Đà không chịu tiếp nhận tư duy phê phán của phương Tây như Phan Khôi, còn thực ra, cái vốn ngày trước đã giúp ông đủ vững vàng. Chữ Hán không cho phép người ta chỉ dựa vào năng khiếu để viết, như các nhà văn thời chữ quốc ngữ thuần túy về sau.
Lý do để đi vào nghề cầm bút
Nếu thi đỗ trong mấy kỳ thi năm 1912 (thi vào trường Hậu bổ, thi Hương) thì có lẽ Nguyễn Khắc Hiếu đã học để ra làm quan như nhiều người đương thời. Sau khi thi trượt, ông chỉ còn một cách duy nhất để tự khẳng định là đi hẳn vào sáng tác. Kèm theo thi trượt, những thất thiệt trong mối tình đầu, là một cơ may để ông hiểu ra sự đời mà cũng là mở đường cho cái ngông, cái bất cần, về sau trở thành cái tự trọng bao quát trong cách cư xử của người nghệ sĩ khi cầm bút. Rồi có lúc, Tản Đà sẽ tâm sự với một bạn trẻ: “Nếu tôi không thi trượt trường Nam thì tất nhiên đã bị hút vào cái khuôn khổ của một người tầm thường, có lẽ cũng có thể làm nên được một ông quan mà cái tài chỉ rút lại ở chỗ nay “bẩm” mai “sức”, cái sự nghiệp một đời chỉ ở chỗ no ấm cho vợ con”.
Sự thích ứng với hoàn cảnh
Xét về một phương diện nào đó, Tản Đà thuộc loại không may, học hành một đằng, lúc vào đời, thời thế lại kéo quặt ông sang một nẻo khác. Nhưng đây là một chỗ mạnh của ông: ông không đầu hàng, mà vật lộn đến cùng, để giành quyền sống, quyền góp mặt với đời. Từ một nhà nho ông nhảy ngay sang viết văn, viết báo. ở đây, không chỉ đơn thuần cầm bút, ông còn đứng ra lập nhà xuất bản (Tản Đà thư cục) để in sách của riêng mình. Trong sự sáng tác cùng với thơ, ông sớm nhận lấy công việc viết văn xuôi theo kiểu hiện đại, bao gồm các loại văn ký sự có pha tự truyện (Giấc mộng lớn) hoặc đá khoa học viễn tưởng (Giấc mộng con). Ngoài ra còn soạn cả kịch. Xuân Diệu từng viết đại ý: tài năng của Tản Đà là ở trong thơ nhưng bản lĩnh của ông là ở trong văn xuôi – bản lĩnh ở đây hiểu là ý chí quyết tâm mà cũng là sự thích ứng.
Vinh quang nghề nghiệp
Cùng với những Đông Hồ Lâm Tấn Phác, á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Tản Đà thuộc loại những nhân vật nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam trước 1932. Do chỗ ngòi bút của ông khá tự nhiên và dễ dàng, nên số trang viết đứng tên ông thuộc loại đương thời khó ai theo kịp. Vượt lên trên những đầu sách cụ thể, ở đây còn có thể nói tới một cái gì như huyền thoại sống mà ông dựng tạo được chung quanh tên tuổi mình, nó từng in dấu vào tâm trí người đương thời. Khi ông làm báo, người ta gửi thư cho ông, đưa thơ nhờ ông sửa, có người còn cầu kỳ gửi cả những món ăn mà ông ưa dùng (như rau sắng chùa Hương). Ông vừa kêu túng, có người giúi ngay cho món tiền lớn để tiêu. Lại có những Mạnh Thường Quân đi đâu cũng muốn rủ ông cùng đi, nhờ những người này, ông có dịp ngao du sơn thủy, đi khắp từ Nam ra Bắc, và nhờ vậy, Tản Đà sớm trở thành một nhà thơ của cả nước, chứ không chỉ riêng vùng quê của mình.
Mãi mãi là người của thời xưa
Nếu có dịp nhìn lại những bức ảnh chụp các nhà văn từ 1932 về trước, người ta sẽ thấy nhiều người trong họ còn áo dài khăn xếp, chứ không chịu mặc âu phục. Trong những người không chịu thay lốt này có Tản Đà, và chính là bộ quốc phục kia có thể giúp chúng ta hiểu thêm một phần về con người ông.
Trong nghề làm báo, Tản Đà không chỉ nổi tiếng với những bài thơ mượt mà, bài phiếm luận độc đáo, mà còn nổi tiếng vì quản lý luộm thuộm, đã mấy lần tờ An Nam tạp chí chết đi rồi sống lại trong tay ông. Sự say sưa rượu chè cũng như thói coi rẻ đồng tiền – mỗi khi có tiền trong tay, tiêu không biết xót – những cá tính ấy đứng ngoài mà nhìn, kể cũng hay hay, nhưng với cuộc đời riêng của người nghệ sĩ chúng là những yếu tố phá hoại. Suy cho cùng, những thói quen ấy chỉ chứng tỏ Tản Đà chưa thoát khỏi quỹ đạo những nho sĩ tài tử thời phong kiến và không nhập được vào sinh hoạt văn hóa tư sản đang hình thành.
Một quá trình tương tự cũng đã xảy ra với sáng tác của ông. Mặc dù rất yêu thơ Tản Đà, nhưng đến lúc nào đó, lớp công chúng thành thị – là lớp người chủ yếu mua sách, mua báo nuôi sống ông – dễ cảm thấy thứ thơ ấy là không đủ cho cuộc sống của họ. Cuộc từ giã đến dần dần, trong sự lưu luyến của cả đôi bên, nhà thơ và công chúng. Và có lúc, sự chia tay ấy còn mang cả màu sắc hài hước, như người ta đọc được trên tờ báo Phong hóa mấy năm 1932-1933: những người như Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ thường mang ông ra làm trò đùa, dù khi ông nằm xuống, họ sẽ hết lòng thương cảm.
Kết cục buồn
Có thể là với chính Tản Đà cái nghèo không có mảy may nghĩa lý. Một là, xưa nay loại nghệ sĩ vốn sống nghèo như ông đã quá nhiều, và hai là, ông vốn coi đời như một sân khấu trước sau chỉ lấy việc nhập vào những vai mới mẻ làm chỗ hơn đời, vậy thì phải đứng ra xoay xỏa mọi bề, đâu có làm ông khó chịu. Nhưng đứng trên bình diện xã hội mà xét, việc một nhà thơ nổi tiếng khắp ba kỳ, một huyền thoại như ông có lúc phải mở cửa hàng xem số Hà Lạc để kiếm sống, cứ hiện ra như một cái gì thật chua xót. Và sự thực là Tản Đà đã chết trong cảnh túng bấn, nó là tấn bi kịch nhiều người đương thời đã dự đoán, song không biết làm gì để cứu vãn.
Vai trò tiếp nối
Không phải chỉ có Tản Đà, mà hàng loạt nhà nho đã đến với văn chương, lập nghiệp bằng cái vốn “chữ nghĩa Tây Tàu chót dở dang” như ông. Nhưng sự dở dang ấy lại là bản mệnh của một thế hệ. Trong bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà, mở đầu Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Hoài Thanh đã nhân danh nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đương thời để ghi nhận “Có tiên sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”. Cái cảm tưởng ấy cũng là điều còn đến trong tâm tưởng của nhiều nhà văn Việt Nam hôm nay. Càng xa ông, người ta càng cảm thấy không thể thiếu ông trên con đường trở về với các bậc tiền bối như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… cũng tức là trở về với văn mạch của dân tộc. Trên ý nghĩa ấy mà xét, có thể bảo Tản Đà làm chứng cho sự liên tục của văn chương Việt Nam, cho sự thích ứng trước mọi hoàn cảnh của nhiều thế hệ những người cầm bút.

Một phương diện của tính cách dân tộc trong thơ

Trong bài Công của thi sĩ Tản Đà, Xuân Diệu từng bảo rằng nhà thơ ấy là “một thi sĩ rất An Nam, hoàn toàn An Nam”. Mà đặc điểm chính của giọng thơ Tản Đà như Xuân Diệu xác nhận, lại là “dịu dàng, trong trẻo, nhẹ nhõm, có duyên”. Nếu không tuyệt đối hóa câu chuyện thì nhận xét của Xuân Diệu xứng đáng là một gợi ý để chúng ta cùng suy nghĩ tiếp.
Thơ Tản Đà có lúc hay, lúc làng nhàng, và trong mấy trăm bài thơ ông để lại, có cả những câu sáo nữa. Nhưng thơ ông không bao giờ trúc trắc và quá đậm chất văn xuôi, cái đặc điểm mà chúng ta về sau thấy trong thơ Thế Lữ, lại cũng không bao giờ rơi vào tình trạng nói ép, nói lấy được, nó là ấn tượng còn để lại từ thơ Xuân Diệu ở một số bài hồi Thơ thơ, và sau sẽ tiếp diễn rõ rệt hơn trong những Riêng chung, Một khối hồng, Hai đợt sóng v.v… Đọc thơ Tản Đà, dễ nhớ tới một phong cách dân tộc ta vẫn trọng trong giao tiếp, ấy là ngại sự thô lỗ, vô ý, cục mịch, thích sự tinh tế, nhưng phải là cái tinh tế tự nhiên, không dụng công, không cao giọng, không làm ra vẻ thế này thế khác.
Gần đây, một nhà nghiên cứu, ông Cao Xuân Huy, có cho rằng cái hình ảnh xui người ta nhớ tới người Việt hơn cả là nước. Có thể tin ở một nhận xét như thế, bởi nhiều phong cách tiêu biểu thấy trong văn chương Việt Nam đều có cái chất đó – thanh thoát, trôi chảy, dễ thích ứng. Và Tản Đà là một ví dụ. (Một trong những tác phẩm mà người ta phải nghĩ tới ngay mỗi khi nhớ tới Tản Đà, được gọi là Thề non nước).
Trong câu chuyện hàng ngày, người Việt lại còn hay nói đến chữ có duyên. Khen nhau, người ta bảo người này có duyên, ngòi bút kia có duyên. Người có duyên không chắc đã đẹp, nhưng vẻ ngoài dễ ưa và biết trò chuyện. Ngòi bút có duyên không chắc đã sâu sắc nhưng thường có sức lôi cuốn và làm người đọc phải nhớ. Thơ Tản Đà là thế. Có duyên mà không dễ dãi. Nhiều tâm sự nhưng lại được nói ra bằng những lời ỡm ờ tình tứ. Vẻ đẹp trong thơ ông không phải thuộc loại lộng lẫy và gây nên những choáng ngợp, mà là một vẻ đẹp đôn hậu, có làm dáng một chút vẫn giữ được vẻ tự nhiên. Lối nói nhiều thì là mà từng gây ra bao sự khó chịu trong thơ của các nhà thơ hồi đầu thế kỷ. Về phần mình, Tản Đà không thể làm khác, Tản Đà thường cũng thì là mà, nhưng cách nói của ông duyên dáng, đến mức tạo nên thích thú, và người đọc thầm hiểu rằng không dễ mà có được một lối nói vừa dân gian vừa điệu đàng như vậy.
Vả chăng, ở Tản Đà, sự tự nhiên không chỉ là phương cách, là hình thức chuyện trò, mà đằng sau nó, là cả một quan niệm sâu sắc về thơ: thơ phải là một cái gì ở giữa phàm trần. Thơ phải nói ngay vào những chuyện hàng ngày can hệ đến chúng ta, thơ cao hơn đời sống nhưng không được xa đời sống.
ở những xứ sở nào khác, dạng thi sĩ phổ biến thường là loại người một mình ngồi trên cao vòi vọi, nói những chuyện xa xôi, và con đường đi đến thơ với họ đôi khi là con đường lạnh lẽo đến rợn ngợp. (Trong chừng mực nào đó, trong văn học Việt Nam hiện đại, đây là trường hợp của Hàn Mặc Tử). Thơ ở Việt Nam thường được hiểu ngược lại. Nguyễn Du cũng chỉ nói chuyện ở giữa cõi trần, và người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều cũng triết lý ngay về cái hạnh phúc bình thường mà nhiều người có thể chia sẻ. Tản Đà đi tiếp cái mạch đó. Đọc Tản Đà, đôi khi người ta phảng phất nhớ tới Lý Bạch: quả thật cũng như Lý Bạch, Tản Đà cảm thấy mình là một đấng trích tiên, tức là một ông tiên bị đày xuống trần gian. Và cũng như Lý Bạch, Tản Đà là một đồ đệ của Lưu Linh, nghĩa là có thể quanh năm say sưa. Nhưng cái lãng mạn của Lý Bạch thường hào sảng kỳ vĩ, hoành tráng, trong khi cái lãng mạn ở Tản Đà “ăn” ở sự tinh tế, tự nhiên, duyên dáng như trên đã nói. Làm sao có thể nghĩ rằng Lý Bạch lại có lúc làm thơ về một cánh bèo trước gió, hoặc than thở về sự đời lắm nỗi éo le, như Tản Đà thường làm. Các tài liệu văn học sử còn ghi Tản Đà thích trở thành nhà triết học và đã trình bày thuyết thiên lương như cái trục chính trong học thuyết của mình. Nhưng chỉ có thế chứ ông không đi xa hơn! Thế mạnh của ông không phải ở những suy nghĩ trừu tượng, mà ở một cách nói dễ hiểu về những chuyện thường ngày. Ông có thể mơ màng mà vẫn không quên chuyện cơm áo, thường ngông nghênh nhưng cũng biết thỏa hiệp khi cần, và nói chán đời, mà không bao giờ hết bàn về sự đời. Cũng như trong việc xử lý câu chữ trong thơ, ông có thể trau chuốt nhưng không bao giờ lộ vẻ cố ý cầu kỳ, càng không bao giờ đẩy những tìm tòi tới cùng để đưa ra một lý thuyết mới về hình thức. Tổng hợp mọi mặt lại, có thể bảo cái chất riêng ở Tản Đà lại là ở chỗ ông biết dừng lại – bảo đấy là chừng mực cũng được mà bảo là nửa vời cũng được.
Xuân Diệu thú nhận là khi trưởng thành không thỏa mãn với thơ Tản Đà, bởi “không thấy ở đó cái tha thiết cái mãnh liệt”, chính là với nghĩa ấy! Nhưng nên nhớ rằng chính vì cái tha thiết cái mãnh liệt kia, mà Tản Đà còn lại trong tâm trí nhiều thế hệ. Xuân Diệu có thoáng một chút Tây, còn thơ Tản Đà mới được coi thực là thơ An Nam, như Xuân Diệu xác nhận.
*
* *
Có một nhà văn nữa trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX thường được coi là “giàu chất An Nam”, đó là Nguyễn Công Hoan, với những truyện ngắn nổi tiếng: Kép Tư Bền, Cô Kều gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ, Cụ Chánh Bá mất giày v.v… Nhưng trong tâm thức của nhiều thế hệ bạn đọc, cái chất chính của ngòi bút Nguyễn Công Hoan là “khinh thế ngạo vật”, lấy con mắt khinh bạc ra để cười cợt sự đời.
Vậy cái gọi là “tính cách An Nam” ở Tản Đà mà Xuân Diệu nêu lên và chúng tôi vừa thử lý giải chỉ là một khía cạnh, một phương diện của cái thực thể đa dạng mà cùng với thời gian, chúng ta đang tìm hiểu dần dần.
… Kể ra, nếu không dừng lại ở văn thơ mà nghĩ sang cả con người thì nhớ về Tản Đà, nhiều bạn đọc còn nói ngay một nét độc đáo đến mức lập dị ở ông, đó là trọng sự ẩm thực, kềnh càng điệu bộ trong ăn uống. Chẳng những thích ăn ngon, ông còn thích tạo ra những bữa ăn đẹp và kiểu thưởng thức món ăn khác người, dù có vì thế mà mất thì giờ cũng không ngại. Đối với người Việt, nói toạc cái chuyện thích ăn thích uống trước mọi người hình như là không được tao nhã lắm. Nhưng nghĩ cho kỹ, vẫn thấy ở chỗ ấy, Tản Đà (và sau này là Nguyễn Tuân) bộc lộ một nét tâm lý chung, có ở nhiều người quanh ta: ở đây, thấy có thấp thoáng bóng dáng của một thứ triết lý sống hiện sinh, cốt bắt lấy niềm khoái hoạt ngay trong cõi đời hàng ngày. ở đây, lại có sự khôn ngoan khéo léo, tìm tự do ngay trong những việc tưởng như tầm thường, không đạt tới sâu sắc trong những suy nghĩ cao xa thì tạm bằng lòng với những cái độc đáo nho nhỏ. Và như vậy, thì trước khi nói tới chất nghệ sĩ trong văn chương, người ta có quyền nói đến chất nghệ sĩ trong con người Tản Đà. Đấy là cái cách tồn tại của nhiều nhà thơ nhà văn ở xứ sở này, chứ đâu riêng của tác giả Thề non nước.

Tự nhiên, thành thực cùng một chút say sưa

Về tài làm văn làm thơ của mình, trong bài Hầu trời, gợi cho chúng ta hình ảnh của một Táo quân, Tản Đà đã kể là ông từng đọc cho cả thiên đình nghe:
Đọc hết văn vần, sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý, lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơn

Văn dài hơi tốt ran cung mây
Trời nghe Trời cũng lấy làm hay
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay.
Còn như về tài làm báo, ông cũng không tiện giấu diếm: Lên trời chơi (trong Giấc mộng con, ông tưởng tượng vậy), vừa nhất kiến gặp cụ Hàn Thuyên, ông đã bị cụ giữ lại để cùng… làm tờ Thiên triều nhật báo. Và trong ít ngày ở đó, ông đã viết bài cho đủ các mục xã thuyết, văn uyển, thời sự, tiểu thuyết. Không thấy nói là ông có được giao viết phỏng vấn không. Nhưng xem những đoạn trò chuyện với Đông Phương Sóc, Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi… thì cho đoán là ông cũng rất thích lối đàm đạo “xuyên thời gian”, xem đấy là một trò chơi thú vị. Có lẽ vì vậy, mà vừa nghe chúng tôi đề nghị, ông đã vui lòng chấp nhận ngay cuộc phỏng vấn.
– Đọc tác phẩm của ông, nhất là các tự truyện, thấy ông kể là sống khá ung dung, trừ mấy năm cuối túng quẫn còn trước đó, lúc nào cũng có người giúp tiền để tiêu, có rượu để uống, thức ăn ngon để nhắm. Vậy mà ông vẫn hay kêu, những là “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” với lại “văn chương hạ giới rẻ như bèo”, rồi ông lại được tiếng là nhà thơ đầu tiên sống bằng ngòi bút, tại sao?
– Từ tôi trở về trước, có hạng nhà nho tài tử, luôn luôn nghĩ rằng mình sinh ra để làm thơ làm văn cho mọi người vui, vậy thiên hạ phải nuôi mình, nếu để mình đói mình khổ là thiên hạ có lỗi. Tôi là loại hậu duệ cuối cùng của dòng nhà nho tài tử đó, nên đúng là có hay kêu, mà cũng đã cố kiềm chế nên mới kêu có thế! (cười). Nghe nói hình như các anh bây giờ lại cũng giống tôi, ăn phải đũa của tôi, đang được bao cấp, giờ phải tự nuôi lấy thân, nên cũng hay đập chân đập tay than thở! Nên nhớ trước các anh và sau tôi, các ông Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… vào cái thời các anh gọi là tiền chiến ấy, cũng phải viết để sống, ai ăn chịu với nghề thì làm tiếp, ai ế hàng văn không người mua thì đi buôn, hoặc đi làm thuê làm mướn, chứ có thắc mắc bao giờ. Học gì thì học, chứ học cái sự than thở của tôi, đâu có nên!
– Ông nghĩ gì về nghề văn, nói nôm na là thấy sướng hay khổ?
– Có thích thì mới làm, chứ có ai buộc mình phải cầm bút? Như tôi tự nghĩ, với người làm nghề nhà nòi như tôi, viết là một lạc thú, như được ăn ngon mặc đẹp. Nhưng với người đời, chắc họ thấy mình khổ, họ không ao ước những nỗi chua cay mặn chát của mình làm gì. Vậy bảo chả sướng tí nào cũng được. Ai muốn sướng đừng làm thơ.
– Người ta có học để trở thành thi sĩ được không?
– Không. Nhưng phải học thì mới thành được thi sĩ lớn.
– Nếu như cần kể ra một vài nguyên tắc chi phối ông trong sống và viết, thì đó là nguyên tắc gì?
– Chỉ có một: theo tự nhiên. Nhưng phải là cái tự nhiên nồng nàn, thắm thiết chứ không phải cứ nằm ườn ra lười biếng rồi bảo là tự nhiên thì không ai chịu được. Này, tôi bảo thật, học được tự nhiên như tôi còn mệt: kể cả khi tôi dông dài kể chuyện, khi tôi cầu kỳ tỉ mẩn trong ăn uống và đối xử, người ta vẫn thấy tôi tự nhiên, ấy thế mới khổ.
– Nghề nào, theo ông, là gần với nghề làm thơ hơn cả?
– Nghề cô đầu.
– Xin ông cắt nghĩa rõ hơn?
– Là nghề phải lấy thanh sắc ra mà chiều thiên hạ. Chết nỗi, sự phô diễn thanh sắc ấy cũng là niềm sung sướng của mình, nên mình cứ lao vào như thiêu thân.
– Có phải cô đầu nào cũng thông minh tài hoa như nhân vật Vân Anh của ông trong Thề non nước đâu. Nhiều kẻ khác quá tầm thường.
– Thì nghề nào chả gồm rất nhiều chúng sinh mặt trắng nhợt nhạt và chỉ có một số rất ít vượt hẳn lên trên so với đám đông? Chẳng lẽ nghề văn của tôi, của anh là một ngoại lệ ư?
– “Đôi hàng nước mắt đôi làn sóng – Nửa đám ma chồng nửa tiệc quan” – Sao trong bài Vịnh Kiều, ông nghiệt vậy?
– Tôi nghiệt với cô ấy, như đôi lúc đã nghiệt với chính mình. Cũng như cô ấy, tôi ham vui, nhẹ dạ, nông nổi, dễ quên.
– Thế cái gì mới là mối đe dọa với nghề văn?
– Thói khệnh khạng của mấy ông quan dở.
– Ngoài thơ, ông còn làm báo, viết văn, viết cả sách cho trẻ con học nữa. Làm việc cật lực như vậy, nhằm chứng minh cái gì?
– Không gì là không làm được. Ví như người ta bảo tôi vốn xuất thân nho học, chỉ giỏi chữ ta, không làm báo như tây được, thì tôi làm cho họ biết.
– Đâu là lý do khiến ông cảm thấy dễ dàng hòa nhập vào nền văn chương đang được Âu hóa lúc ấy?
– Sự thành thực. Thành thực dám là mình, nói to lên những điều mình cảm, mình nghĩ, không cần tính đến chuyện là khôn hay dại. Tôi cho rằng văn chương cả đông lẫn tây đều cần đến sự thành thực ấy. Ví dụ như những rung động trước một người đẹp. Lại ví dụ như chuyện ăn uống. Trong Giấc mộng lớn, tôi đã kể lần ở Cổ Đẳng “… đương ăn rau đổi ra ăn thịt. Mỗi ngày cũng chỉ có một bữa ăn, mỗi bữa ăn hoặc là cái thủ heo, hoặc con gà con vịt hoặc con cá… Đương lúc ăn rau thời ở trong nhà đi ra sân, có khi phải vịn theo hàng ghế, đến khi ăn thịt thời sao mà khỏe mạnh lạ thường. Nhân nghĩ đến câu thực nhục giả dũng hãn (ăn thịt có sức khỏe) có khi là phải; mà sự ăn quan hệ với người khá nhỏ ru!”. Ngờ rằng nhiều người cũng thích ẩm thực như mình, ăn ngon cũng thấy sướng, nhưng lại ngại nói ra. Họ sợ, tôi thì không.
– Đương thời một học giả có hạng đã bỉ bác ông là tha hồ nói theo ý mình, như người “trần truồng mà đi ngoài phố”, hẳn ông giận lắm?
– Đã gọi là người viết thực sự ai chẳng có lối cực đoan, chỉ thấy có việc của mình đáng làm, cái cách của mình hay ho, còn thiên hạ thì hỏng hết… Nghĩ lại thấy nên đánh một chữ đại xá, người nọ đại xá người kia, là xong. Như các anh bây giờ gọi là thông cảm ấy. Tôi không thích người ta cứ buộc tôi phải thù ghét mãi những người đã có lúc cãi cọ với tôi. Nhỡ ở dưới suối vàng, tôi với họ lại thân nhau thì sao?!
– Ông nghĩ thế nào khi viết “Phiêu lưu tên lính đội tiên phong?”. Có phải ông thích làm người dẫn đường?
– Thích cũng chẳng được. Làm gì có ai chọn được thời mình sống, mấy lại cái vai tuồng của mình ở thời ấy, bao giờ. Chẳng qua, như đã nói, tôi phải cái tính ở chỗ mọi người không thích làm, mình lại thích làm, ở chỗ mọi người nghĩ mình không làm được, mình làm cho họ trông thấy. Lại coi thế là sướng. ấy, tội là tội chỗ ấy. Tiên phong với ai đâu, chỉ tiên phong với chính mình. Mà thấy ai chăm chăm bắt chước như mình, lại ngán luôn, không muốn nhìn mặt nữa.
– Ông nghĩ sao khi thấy ở nửa cuối thế kỷ XX này, trên trần thế chúng tôi, thơ in ra nhiều vô kể?
– ối dào, về cái sự lạm phát ấy, tôi cũng đã lãnh đủ rồi. Các anh cứ giở lại Nam phong mà xem số nào cũng vài chục bài thơ, tính lại thơ ngổn ngang cả đống, kém gì thời các anh bây giờ. Nhưng thử hỏi, ngoài thơ tôi với mấy bài của Đông Hồ, Trần Tuấn Khải, thì thơ thời ấy còn lại cái gì? Khi ai cũng biết làm thơ, nghĩa là thơ bắt đầu hỏng. Như trong đá bóng mà các anh thích ấy, phải có nhà thơ chuyên nghiệp và có “đẳng cấp” cao, cái mà các anh bây giờ bảo là ngoại hạng hay gì gì đó.
– Nhưng như thế, trước sau lại rơi vào cảnh “thơ ca bán phố phường?”
– Khổ thật, cay đắng thật, nhưng thà có sự phân biệt thật giả như thế còn hơn ngồi mà khen nhau, ai cũng đáng khen mà chẳng ai thành nhà thơ cả.
– Khi nào ông cảm thấy bài thơ mình viết đáng gọi là bài thơ hay?
– Tự mình thấy sung sướng, như được bát canh ngon, chén rượu quý.
– Cái sướng ấy, sẽ dẫn đến sự say sưa?
– Say nghĩa là được sống một cuộc sống khác. Vượt lên cái thông thường hàng ngày, không bị nó quấy nhiễu, vậy sướng thì phải say chứ sao.
– Và ông sẽ khuyên mọi người cùng tận hưởng như ngày nào ông cầu chúc cho khắp mọi nhà “Tha hồ rượu sớm trà trưa – Nghiêng chai dốc chén say sưa tối ngày”?
– Không hẳn thế. Mỗi người nên có cái say riêng của mình. Chỉ những người không say cái gì, cứ tỉnh khô ra, tôi mới cho là hỏng.
Lại nói chuyện hưởng thụ. Tôi làm thì tôi phải được hưởng. Tôi chỉ hưởng trên cái phần tôi làm ra, không tranh phần của người khác là được. Các anh còn nhớ là tôi có lúc phải đi làm nghề gieo quẻ Hà Lạc để kiếm sống đó sao? Vả lại, nói của đáng tội, nhỡ tôi có cách hưởng thụ đẹp, xem tôi hưởng thụ, người ta thấy vui thì sao? Thế thì việc gì phải xấu hổ cho thêm rách việc (cười). Hình như ở chỗ này, tôi cũng theo kịp lối nghĩ của các anh sống ở cuối thế kỷ đấy chứ!
– Nếu được sống lại, ông sẽ làm gì?
– Đến lên trời, tôi còn làm báo, nữa là được sống giữa dương gian, nhất định tôi sẽ viết, có phải vừa kêu vừa viết cũng chẳng sao.

Advertisements
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Bình luận

  • Anonymous  On Tháng Hai 15, 2009 at 4:15 sáng

    tim tho :van chuong thoi non na phu choi co son ha ba vi o truoc mat hac giang ben canh nha

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: