XUÂN SÁCH



CHÂN DUNG NHÀ VĂN của Xuân Sách
& một thời văn nghệ

Những nét sinh hoạt của những người cầm bút thời nay đã được nhiều người trình bày lại một cách tự nhiên, trong số này giỏi nhất phải kể Tô Hoài. Ông gỡ đi phần hào quang chói lọi mà người ta hay lấy ra để lãng mạn hóa các nhà văn. Ông làm cho cái nghề gọi là sáng tạo này gần gũi với đời thường. Chỉ ông mới dám đưa Nguyễn Tuân vượt ra ngoài cái thiêng liêng giả tạo để trở về với những chuyện mè nheo hàng ngày, mà vẫn không vì thế mà làm mất đi vẻ đáng yêu đáng kính của cụ Nguyễn. Từ trường hợp Nguyễn Văn Bổng, Tô Hoài làm nổi tính chất nghiệp dư của một nền văn học. Chút thoáng điên điên khùng khùng của Võ Huy Tâm mà ông nói tới được người ta tin, vì bắt nguồn từ những quan sát thực và mở đường cho sự cắt nghĩa vận mệnh ngắn ngủi của nhà văn này. Những trang chân dung Trọng Hứa cho ta thấy trong mỗi con người còn bao nhiêu mày nét khía cạnh vừa chân thành đáng yêu vừa nhởn nhơ phù phiếm.
Tôi học theo cách làm của Tô Hoài khi viết về một người thày như Nhị Ca, một người bạn như Nghiêm Đa Văn.
Ở buổi hoàng hôn của cuộc đời, tôi lại nghĩ nhiều về Xuân Sách.
XS là một đặc sản kỳ lạ của giới cầm bút HN những năm chống Mỹ và vài chục năm tiếp sau đó. Người nổi tiếng trong giới xưa nay là người có tác phẩm, hoặc các quan chức. XS không có cái đó, chỉ có một ít bài thơ chân dung, khắc họa số phận hàng loạt nhà văn đương thời.
Vậy mà người ta luôn phải nhớ đến ông. Giữa đám đông chúng sinh, chỉ cần đọc lên vài dòng chân dung là không thiếu kẻ bị hút hồn. Các nhà văn vốn có thói quen ích kỷ tự nhiên bị chạm nọc. Người ngoài cuộc nghe rồi vẫn muốn nghe lại. Trong khi nói tới một người cụ thể nào đó, thực ra Xuân Sách đang nói tới cả giới.
Thay cho hai chữ tài năng, ta nên nói tới khái niệm: những cách tồn tại trong văn học
Theo tiêu chuẩn này thì XS đã tìm thấy mình thật
Tồn tại như một người viết về đồng nghiệp – đó là XS. Trong văn học hiện đại dễ không mấy người có kiểu

Những năm chiến tranh, tôi đã sống với con người này trong một cơ quan theo cái nghĩa 24/24. Tức là làm việc và nghỉ ngơi trong cùng một doanh trại. Có thể ghé vào phòng nhau bất cứ lúc nào. Gần như suốt ngày trông thấy mặt nhau.
Qua ông tôi muốn ít chuyện đời thường của giới văn chương

Từ truyền thần đến truyền khẩu
Tất cả những bài viết về Xuân Sách đều nhắc tới những bài thơ được in trong tập Chân dung nhà văn của ông. Đến nỗi khi thấy Tuổi trẻ bỏ qua chi tiết này, mạng Diễn đàn lên tiếng thắc mắc.
Vậy thơ chân dung là gì ?
Việc mang tên tuổi, tính nết và công việc của các đồng nghiệp ra mà chế giễu vốn là một thú vui có ở mọi nghề. Sự đời lắm vẻ, mỗi chúng ta dù có cố gắng đến mấy cũng chẳng bao giờ vừa lòng với nó. Huống chi lại còn bao nhiêu bực bội khó chịu nảy sinh hàng ngày, nếu như không có nụ cười thì sống sao nổi!
Mà các đối tượng mình hiểu sâu nhất để rồi dễ mang ra cười cợt nhất, và giá có cười quá to, cười sỗ sàng một chút, cũng dễ được tha thứ nhất, ấy vẫn là các đồng nghiệp. Giá như ai có để công sưu tầm, chắc sẽ làm thành những bộ sách lý thú, đại loại nụ cười viên chức, nụ cười nghề y, nụ cười nhà giáo.
Thế nhưng nói chung nhiều người vẫn thường có cảm giác rằng sự đùa bỡn chế giễu nhau trong giới cầm bút là phổ biến hơn. Tại sao?
Một là ở đây người ta dễ nhận xét nhau đau hơn, ác hơn, điểm huyệt đích đáng hơn; và hai là một đôi khi, nó lại được đưa lên mặt giấy, và dù in chữ nhỏ, in vào chỗ khuất đến mấy, mọi người đều tìm dọc – báo ngày hôm nay đã vậy mà báo ngày xưa cũng vậy.
Có lần tôi đã chép được một loạt thơ chân dung kiểu này trên báo Ngày nay. Vào thuở đang thịnh, Tự lực Văn đoàn của các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng… nổi lên như một tổ chức văn học đầy uy tín tới mức họ thường xuyên đùa giỡn trước mặt mọi người, “xoa đầu’ anh em trong giới. Nhân một số báo xuân, Lê Ta (Thế Lữ) cùng Tú Mỡ mở mục Minh niên giáng bút, mượn lời một bà già khăn chầu áo ngự để “phán” về các đồng nghiệp… Theo chính Lê Ta và Tú Mỡ nhấn mạnh thì trong “lời phán” này” có những chữ, hoặc những nghĩa, hoặc những ý tứ có liên quan đến tên tuổi, đến tâm tính hay công việc của từng người”. Bởi vậy, mặc dù không chỉ đích danh, song đọc lời “phán” mọi người ai cũng đoán ra ngay người được “phán”.
Dưới đây là một ít câu Minh niên giáng bút loại khá nhất.
Tam Lang
Tưởng người cùng xóm văn chương
Học đòi lại muốn theo phường kéo xe
Nhưng thân phục phịch nặng nề
Kéo xe chẳng nổi quay về kéo… văn
Hoặc cũng châm chọc, nhưng chưa đến nối ác ý quá đáng:
Lê Văn Trương
Nói năng hùng dũng hơn người
Khôn vì xuôi ngược đã mười năm xưa
Đầu làng sức mạnh có thừa
Vỗ vào ngực thét: tôi thờ trái tim
Lưu Trọng Lư
Cái tên này cũng đáng ngờ
Ấy bình hương khói hay lừa nặng cân
Làm thơ giàu điệu nghèo vần
Ra đời với bác sơn nhân độ nào
Lan Khai
Tên đâu trái ngược lạ đời
Là hoa mà lại có mùi… chẳng thơm
Tài trông anh Mán phi gươm
Chú Mèo lãng mạn, cô Mường ngâm thơ
Lan Khai
Tên là Lan ở trên đời
Chẳng thơm hẳn đã có mùi khai khai
Viết văn kể chuyện dông dài
Ở trên mạn ngược làm vui đường rừng

Các vần thơ này là phải sử dụng được những gì liên quan đến tên tuổi và tên các tác phẩm của người được nói tới.
Tuy nhiên đó mới là điều kiện tối thiểu. Nếu chỉ dừng lại ở một vài chi tiết hóm hỉnh đọc lên nghe cũng vui vui thì chúng ta chưa thể thích được hoặc chỉ là cái thích nông nổi. Đây cũng là chỗ dừng của Minh niên giáng bút.
Trong đời sống văn học Hà Nội nửa sau thế kỷ XX, số chân dung viết linh tinh cũng nhiều vô kể. Trong số này chỉ có một số ít đạt tới mức sâu sắc với nghĩa truyền thần được đối tượng, điểm trúng huyệt họ, bóc mẽ lật tẩy được cái gì mà họ muốn che giấu. Và người viết cũng nhân tiện mà viết, làm cho vui , chả ai coi là việc nghiêm chỉnh .
Bề ngoài cuộc sống của chúng ta khá nghiêm túc, thân ái đoàn kết giúp đỡ nhau. Nhưng bên trong cũng có đủ chuyện kèn cựa ghen ghét đố kỵ không ai phục ai, hàng thịt nguýt hàng cá, thấy ai viết hay thì chê ủng chê eo, còn thấy người khác bị đòn thì chưa biết nếp tẻ ra sao ai ai đúng, hãy vô tay hoan hô cái đã.
Khi người lẫn với ma — nói như chữ của Tô Hoài — thì việc gọi ra chất ma ở kẻ khác là cả một điều an ủi.
Viết về Nguyễn Tuân
“Một mắt lư đồng một mắt cua
Chém treo ngành toàn chém a dua
Hà Nội đánh Mỹ giỏi, thua bác
Cả đời ăn phở chẳng cần mua…
Xuân Sách đi xa hơn cả với nghĩa làm được nhiều và nhất là có những chân dung
Thử làm một so sánh. Cùng viết về Nguyễn Tuân, của Lê Ta và Tú Mỡ
Nghe vang theo bóng một thời
Tên này thực biết vâng lời người trên
Bây giờ gần gụi ả phiền
Hỏi han câu chuyện ngọn đèn dầu ta.
của Xuân Sách
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lăm
Tờ hoa lại chuốc lệ ưu phiền
Cùng viết về Nguyễn Công Hoan, của Lê Ta và Tú Mỡ
Rằng tên thì thực là vui
Nụ cười thoang thoảng có mùi ngang ngang
Vai hề to tiếng hý trường
Ở trong động quỷ là phường ranh ma
Của Xuân Sách
Bác kép Tư Bền rõ khéo vui
Trời còn chưa sáng bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười

Một cách tồn tại trong nghề
XS người thấp, dáng đi chắc chắn. Mắt sáng, trán cao, đầu nặng như ẩn chứa một cái gì không thoát ra được. Hình ảnh tôi nhớ nhất về anh khi cùng sống ở 4 Lý Nam Đế, ấy là những lúc anh tập trung suy nghĩ. Chuẩn bị cho trang viết, nhà thơ trầm ngâm đi lại, như bị thu hút hoàn toàn vào một điều gì đó. Hay những lúc ấy anh đang bí? Có thể lắm. Nhưng không sao. Khi đã nghĩ kỹ rồi, Xuân Sách viết rất nhanh, bản thảo sạch sẽ tươm tất, mà theo anh kể, chỉ thua có Phù Thăng.
Hồi VNQĐ sơ tán ở Thạch Thất Hà Tây, Xuân Thiều và Nguyễn Minh Châu ở cùng nhà một cụ già là gia đình cụ Quàng, một ông cụ có cái tính chung của người mình là hay để ý vặt. Chắc là nhiều lần trong khi dọn dẹp, ông cụ đã ngắm nghía cách viết của hai nhà văn khoác áo lính. Một lần cụ đột ngột tung ra một khái quát khiến chúng tôi khi nhắc lại, cùng cười lăn cười lộn:
— Văn bác Châu không bằng văn bác Thiều. Văn bác Châu hay dập xóa. Văn bác Thiều sạch sẽ hơn, đọc được ngay.
So với Xuân Thiều bản thảo XS lại còn suôn sẻ hơn. Nó là dấu ấn của một người tự tin và cũng dễ bằng lòng với mình.
Đều đặn, chân phương, biết thân biết phận, nhưng lại có chút gì đó hơi hèn hèn thế nào … đấy là tinh thần toát ra qua nét chữ ở cuốn chân dung nhà văn đã in ( thông thường bản thảo đưa xuống nhà in là qua đánh máy ; lần này Xuân Sách đã viết trực tiếp rồi chuyển cho Lữ Huy Nguyên )
Phần lớn các nhà văn công tác ở tạp chí Văn Nghệ quân đội sinh năm 1930. Đặt bên những người này Xuân Sách chỉ kém hơn có hai ba tuổi.
Nhưng sao so với họ, tôi cứ cảm thấy anh lép vế rõ rệt. Phần thì tại anh về sau, tức là mãi 1960 mới gia nhập tập thể này, mà đó là lúc tất cả đã định vị.
Và cái chính là anh thiếu một tuổi trẻ oai hùng.
18 tuổi Hồ Phương có Thư nhà, 22 tuổi Nguyên Ngọc có Đất nước đứng lên. 27 tuổi Nguyễn Khải có Mùa lạc. XS thì sao? Lớp trẻ gần đây nhắc tới anh, bảo đã có đọc Đội du kích thiếu niên Đình Bảng ( in lần đầu 1971) của anh từ nhỏ. Nhưng tôi biết các đồng nghiệp trong cơ quan chẳng ai nói một câu nào về cuốn sách đó cả. Mà lúc đó anh cũng sắp sửa sang tuổi 40
Xuân Sách hiểu điều đó. Nó tránh cho anh cái lồng bồng trôi nổi ngược lại sớm có cái gọi là biết thân biết phận. Cái nhìn đằm hơn về thế sự. Sự thông cảm dễ dàng với những cái tầm thường. Khả năng đơn độc trên con đường mình chọn cho riêng mình …
Về sau này khi đã nổi tiếng, niềm kiêu hãnh ở XS nhiều khi có trở thành quá đáng, nhưng tôi biết nó chẳng qua chỉ là sản phẩm của người đã tự ti quá lâu, ngụp lặn trong sự vô danh quá lâu, mà lại thừa thông minh để biết rằng thực ra mình chẳng kém gì người đời .
Cảm giác mức độ đến sớm giúp cho XS yên lặng làm những công việc bình thường, nó là những việc bếp núc của một cơ quan báo chí thời chiến.
Trong chiến tranh, các nhà văn ở cơ quan tôi năm ấy có sự phân hóa. Đội cận vệ đỏ, những Hữu Mai Hồ Phương Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu càng viết càng ăn nhập với cuộc chiến. Lúc nào cũng có bao nhiêu đề tài đặt ra cho họ. Đi viết vừa nổi tiếng lại vừa có thu nhập cho gia đình – không ai nói ra nhưng ai cũng biết vậy.
Ừ thì cho rằng hồi ấy người ta nghĩ đến tiền một cách chừng mực không thành ám ảnh như bây giờ. Nhưng có đồng ra đồng vào rủng rỉnh vẫn hơn chứ?!
Còn như cái chuyện con gà tức nhau tiếng gáy, ai mà không biết.
Giữa thời trang sách lên ngôi, không ai muốn ngồi tổ chức các trang báo, đọc và chữa chạy các bài lai cảo, nói gọn lại là làm biên tập nữa. Bởi làm biên tập nghĩa là ngồi lo việc chung, vinh quang người khác hưởng, công lao mình thì chả ai biết.
Bấy giờ ban phụ trách phải trông chờ vào lớp sau, tức mấy người viết trẻ hơn và cũng phải nói thực là ít tài hơn.
Dường như sinh ra để làm việc này, Xuân Sách đặc biệt nổi lên ở mấy khía cạnh. Một là đa di năng gì cũng làm được; hai là tương đối biết người biết của, biết điều trong giao thiệp và không đến nỗi quá cứng trong quan niệm.
Xuân Sách đó, những năm cuối chiến tranh, trở thành cánh tay mặt của chủ nhiệm Vũ Cao. Hơn nhau chục tuổi, một già một trẻ làm với nhau hợp đến nỗi sau này khi được gọi ra nắm Nhà xuất bản Hà Nội( 1980) thì Vũ Cao kéo Xuân Sách ra làm phó. Mà đến lúc Vũ Cao về hưu thì Xuân Sách cũng vào luôn trong Bà Rịa Vũng Tàu để trụ lại ở đó cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.
XS thích ứng với cái vai trò bắt gôn ở tờ báo như thế nào? Trước khi chuyển về VNQĐ, đâu anh công tác ở một đoàn văn công. Nhiều tài lẻ. Làm thơ viết văn gì cũng làm được. Anh biết làm nhiều việc mà người khác không muốn làm.
Việc làm báo tưởng như rất bận mà lại nhởn nhơ không đâu vào đâu. Tôi nhớ hình ảnh Xuân Sách trong cơ quan. Chẳng thấy anh viết lúc nào cả. Thỉnh thoảng thấy anh ra khỏi phòng trầm ngâm. Có lúc chúng tôi nói đùa, ông này viết như ăn vụng, tắc lẻm một cái là xong.
Người vợ đầu cùng sống với anh lúc đó là chị Thẩm.Tháng đôi lần thấy Xuân Sách xách cặp về phố Thắng với gia đình. Thưa hơn một chút, chị Thẩm và bọn trẻ con kéo xuống cơ quan. Ra chợ Bắc Qua hoặc chợ Hòe Nhai về, đóng cửa lại nấu nướng bằng bếp điện.
Sau bữa ăn trẻ con xuống nhà chơi. Những buổi chiều, trên cái sân xi măng dưới bóng mấy cây đại, gần nửa dân sống ở cơ quan “ họp chợ”, tức là tập hợp lại trao đổi thông tin, ai đi đâu có chuyện gì lạ kể hết, rồi trêu ghẹo đùa bỡn với nhau.
Cháu là Ngô Thị Vân Hoài
Con ông Xuân Sách
Ngồi lê đôi mách
Cháu cô Xuân Quỳnh
Nghiên cứu phê bình
Cháu cô Minh Mẫn
Lẩm cà lẩm cẩm
Cháu chú Thanh Tâm
Cám hấp cám hâm
Cháu chú Minh Tước
Để sau quên trước
Cháu chú Minh Châu
Không đâu vào đâu
Cháu cô Hồng Điệp
Lòng gang dạ thép
Cháu chú Văn Thảo Nguyên
Ăn nói huyên thiên
Cháu chú Phạm Tiến Duật

Bài vè đó đã phác ra một thứ chân dung nhóm nó là tinh thần của thơ chân dung sau này.
Ở các làng xóm xưa có những nho sĩ chuyên làm vè. Họ như ma xó, tức là không cần đi đâu mà chuyện gì trong cái “ hương đảng tiểu triều đình” cũng không qua khỏi mắt. Tầm hiểu biết của họ bao quát từ những vụ việc bê bối trong làng xóm tới các kiểu tính cách con người, những mối quan hệ. Với năng khiếu thiên về phúng thích (==châm biếm mỉa mai), những người làm vè nhậy với những gì cũ càng, héo hon, tan nát. Vượt quá lên nữa, đôi khi họ chạm tới cả sự vô nghĩa của kiếp người lẫn sự bất lực của cái cao sang cái tốt đẹp.
Xuân Sách là một con người như thế. Từ khoảng 1971 trở đi, anh đã là một tượng trưng của cái đời thường ở VNQĐ. Những năm chiến tranh, kỷ luật tuyên truyền rất ngặt nghèo, không khí lúc nào cũng căng như dây đàn. Đi đâu về, muốn hiểu chung về tình hình cơ quan, có chỉ thị mới gì cấp trên mới truyền xuống ai sắp được phân công đi viết về đâu ai viết cái gì cấp trên không bằng lòng — tất cả những thông tin quan trọng mà lại không chính thức ấy — phải hỏi anh. Cả chuyện chính trị nữa. Chiến trường lính tráng đang đánh giặc ra sao. Rồi ai hục hặc với ai, có đám hủ hóa nào mới bị phát giác … chả có cái gì mà anh không biết.
Thú vị nhất là với từng cá nhân sự đánh giá của Xuân Sách là đáng tin cậy. Không chỉ thông minh sắc sảo hơn người, anh còn tổng kết được cái phần tinh túy trong ý của người khác mà làm nên ý kiến của mình. Và cách tổng kết của anh thì gọn gàng , có pha một chút thậm xưng, như những bức biếm họa mà người ta thấy ở báo chí văn chương nước ngoài

Những gương mặt khác nhau của một thế hệ
Những thơ chân dung văn học đầu tiên của Xuân Sách là hậu quả của thứ trò chơi trà dư tửu hậu .
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngoảnh đầu về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
Bây giờ thì ai cũng biết đây là bài viết về Hồ Phương. Nhà văn này là một thứ ngọn cờ trong văn học thời kỳ đầu chiến tranh, một giá trị của thời chiến. Nhưng ngay lúc ấy nhiều người đã sớm nhận ra ở anh có sự phù phiếm của một người làm hàng. Đặt Hồ Phương vào giữa các nhà văn cùng lứa, người ta đọc ra nỗi thất vọng đến sớm của những người tưởng như thành đạt, song lại sớm rơi vào bế tắc. Xuân Sách dựa chắc vào những cái đó mà khái quát cái tình thế nghề nghiệp của cả một lớp người .
Chung quanh Hồ Phương có một chuyện vặt nữa mà cả cơ quan ai cũng biết, đó là thói quen làm việc vội vội vàng vàng băm băm bổ bổ (Vũ Cao cũng có lần nói đùa là cái ông này sáng sáng vừa nhá bánh mì vừa viết lia lịa!). Người khác còn mất công đi lại, Hồ Phương chỉ láng tráng vào B 5 gặp nhân vật một chút đã có ngay được Kan Lịch , hoặc vào khoảng 1966-67 không cần ra đảo như Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Khải, chỉ nghe một cán bộ Cồn Cỏ là Trần Đăng Khoa kể lại, mà cũng viết được một cuốn Chúng tôi chiến đấu ở Cồn Cỏ. Chất hãnh tiến của Hồ Phương sẽ được Xuân Sách ghi lại trong một bài khác, anh không đưa vào tập
Thuyền đã ghé bến quen Cồn Cỏ
Nhằm quân thù anh nổ súng ran
Dưới cờ của Đảng vinh quang
Kan Lịch ơi hãy nhịp nhàng tiến lên
Tính tính tính tang tang tang tiền
(Nhằm thẳng quan thù mà bắn là tên một truyện ký của Hồ Phương viết về Nguyễn Viết Xuân, còn Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng là tên một hồi ký của tướng Song Hào, Hồ Phương ghi )

Theo hướng này Xuân Sách đã viết hai bài về Hữu Mai, cũng là một thứ chân dung sắc sảo
Hỏng đôi mắt đâu phải là mất hết
Khi trong lòng còn hồi ức Điện Biên
Có đồng đội anh sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên

Ơn Đảng Bác chắp cho đôi cánh
Phía trước là mặt trận rồi phải đánh
Dải đất hẹp này không một đứa ngóc đầu lên
Ôi những tháng năm không thể nào quên

Hai bài tập hợp gần hết tên các tác phẩm của Hữu Mai, và điều quan trọng hơn là bắt được cái chất lý trí cả quyết đầy tham vọng của nhà văn này. Đây là một điều không ai ở nhà 4 Lý Nam Đế lạ gì. Một mặt ai cũng khâm phục, ai cũng trân trọng — nói cho cùng đây là đặc điểm chung của cả thế hệ, chẳng qua đến Hữu Mai nó bộc lộ rõ hơn. Nhưng mặt khác ai cũng ngài ngại. Liệu cái đó có làm nên giá trị văn học bền vững?!
Cùng với Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu, hàng ngày Xuân Sách, đã theo dõi hình ảnh các đồng nghiệp với một nụ cười kín đáo. Và sau nụ cười đó, có cả sự cảm phục lẫn sự nghi ngại.
Trong số các chân dung viết về người của nhà số 4 còn nên nói tới mấy chân dung nữa là Thanh Tịnh, Chính Hữu Phạm Tiến Duật.
Trong Thanh Tịnh, Xuân Sách bắt đầu chỉ ra nỗi buồn nói chung của kiếp người “ bao năm ngậm ngải tìm trầm– Giã từ quê mẹ xa dòng Hương Giang…
Hình ảnh Chính Hữu dưới mắt Xuân Sách, có cả hai bình diện cái phần tiềm năng trong con người và cái phần phôi pha trôi nổi theo cuộc đời.
Khi viết về Phạm Tiến Duật khác với cái nhìn thông thường Xuân Sách đưa ra một cách đặt vấn đề khác đi về tác động của chiến tranh tới số phận các nhà văn , “ Đời đã tưởng bay lên vầng trăng – Lại rơi xuống chiếc xe không kính – Ra thế giữa chiến trường – Nghe tiếng bom cũng mạnh “. Tức là có cả mặt thuận lẫn mặt nghịch
Đọc lại những đoạn giáng bút tôi kể ở đoạn trên, người ta thấy Lê Ta và Tú Mỡ thường thất bại trong hai trường hợp :
Thứ nhất nhẹ tay với người nhà tức là các nhân vật Tự lực Văn đoàn. Trong văn thơ châm biếm, đã nhẹ tay, đã hiền lành, thì bao giờ cũng khó hay. Đây là những đoạn giáng bút làm nhàm, kém cỏi

Khái Hưng
Khá đem góp tiếng trên đầu
Ý mầu ai hiểu cơ mầu được đây
Hư không nào có ai hay
Ưng điêu chắp nối đổi thay khôn lường
Hoàng Đạo
Trong hàng lớn nhỏ từ xưa
Ra đời lại chọn đúng giờ xấu xa
Tinh khôn nay đổi lại giờ
Tâm tâm niệm niệm ấy là người hay
Cả hai đoạn này, chỉ dùng những biện pháp mang tính cách tiểu xảo, như tả Khái Hưng, dùng lối chiết tự, ghép chữ, tả Hoàng Đạo, nhắc tới lý do có liên quan đến hai bút danh Tứ Ly và Hoàng Đạo – nên cả hai đều lủng củng lại nhạt.
Thứ hai ngược với sự nhạt là trường hợp những bài thơ mang tính cách tư thù cá nhân xách mé thô lỗ. Khi tả về các nhân vật mà Tự lực Văn đoàn, từng có lần va vấp… lời thơ Minh niên giáng bút có phần chớt nhả, và đi gần tới xúc phạm.

Vũ Trọng Can
Gan to, gan nặng lạ lùng
Bởi vì trong óc hẳn không có gì
Thế mà cũng dám ti toe
Nói năng viết viếc để loè tài hoa.
Ngô Tất Tố
Gặp khi tắt lửa tối đèn
Mập mờ tài trắng hay đen hỡi tài
Vì ta phát giác ra ngoài
Mười năm hương lửa cũng hoài luống công
Ngọc Giao
Tên này mới quý làm sao
Còn văn thì chẳng bún nào mềm hơn
Tài năng nhũn nhẽo như lươn
Xui chàng yêu ả, chị hờn với anh.

Đọc những đoạn “giáng bút” này, người ta có thể hiểu tại sao đương thời, Tự lực Văn đoàn bị ghét: họ không công bằng. Và trong một số trường hợp họ tỏ thái độ bề trên – là điều tối kỵ trong quan hệ với các đồng nghiệp.
XS cũng không xa lạ với vết xe đổ đó. Cái đùa bỡn dễ dãi tầm thường thấy ở nhiều nơi như trong chân dung Nguyễn Khải, còn phần chọc ghẹo lảm nhảm xoa đầu đồng nghiệp thấy ở các bài viết về Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Đỗ Chu
Giữa Nguyễn Khải và Xuân Sách có một mối giao tình kỳ lạ.
Nguyễn Khải năm đó nổi lên như cây bút số một của Văn Nghệ quân đội, tên tuổi nổi như cồn sau Tầm nhìn xa , Hãy đi xa hơn nữa, Họ sống và chiến đấu . Uy danh biến thành chức vụ, vừa bắt đầu chiến tranh thì Nguyễn Khải được bổ sung vào thường vụ Ban chấp hành Hội nhà văn, trong khi những Hữu Mai Hồ Phương chỉ là nhà văn quân đội thuần túy, ngay thành viên Ban chấp hành cũng chưa phải.
Chỉ riêng điều đó đã khiến cho mọi người vừa chơi với Nguyễn Khải vừa ngại. Trong sự bơ vơ của mình Nguyễn Khải tìm thấy ở Xuân Sách một người đối thoại lý tưởng.
Vốn thạo nghề, không phải Nguyễn Khải không biết thực chất những sáng tác của XS trong những năm chiến tranh. Có lần tác giả Mùa lạc nói riêng với tôi :
–Những tay viết lầm lầm lầm lầm rồi lúc nào đó, nó sẽ lên, nó sẽ thành nhà văn chân chính, như Xuân Thiều. Còn có những loại cứ bồng bênh suốt đời, mà không làm được việc gì, như Xuân Sách, loại này không bao giờ thành nhà văn cả.
Nhưng Nguyễn Khải là một tính cách rất mềm mại, ở chỗ bản thân không có quyền lợi gì thì anh hiện ra rất đáng yêu, khen ai mà không làm mất ở mình thì anh hào phóng ra mặt. Đi với ai cũng hợp, đi với ai anh cũng phát hiện ngay chỗ tương đồng giữa mình với người đó, dần dà tìm ra cách để gần gũi và khai thác đối tượng, cốt sao có lợi cho việc sáng tác.
Theo cách nghĩ này, nghĩa là với mục đích thực dụng, Nguyễn Khải xưa nay chưa hề ngán ai bao giờ cả.
Có cái may là về phần mình, trong khi cũng thông minh và thạo đời, Xuân Sách lại chẳng bao giờ tính chuyện ngang hàng Nguyễn Khải. Mà còn cảm thấy may mắn, mà còn tri ân, cả ở chỗ riêng tư lẫn trước mặt mọi người. Chỉ riêng điều đó đã khiến tác giả Xung đột bằng lòng lắm rồi.
Khi viết về Khải, Xuân Sách cũng không ra ngoài cái lệ “ làm đĩ chín phương cũng phải để một phương lấy chồng ‘’—nguyên tắc cư xử ở đời là vậy.
Những chân dung Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Lê Lựu … thuộc vào một loại riêng trong kho hàng của Xuân Sách. Chúng được truyền tụng rất nhiều. Mỗi khi đọc lên, sự khoái khẩu tới với người ta, một sự khoái khẩu kiểu truyện cười dân gian tức là đồng nghĩa với cảm giác được chế nhạo được xoa đầu người khác.
Tuy nhiên từ đó lại thấy hiện ra một người viết chân dung tầm thường hay soi mói và nhìn mọi thành tựu bằng con mắt hằn học. Nó là cái bệnh chung ở nhiều người. Nó cũng là ấn tượng mà tôi thường thấy gợn trong đầu mỗi khi nhớ Xuân Sách.
Tệ nhất trong loạt bài này là mấy câu viết về Nguyễn Minh Châu. Nó lắp ghép một cách tầm thương mấy cái tên tác phẩm, và có vẻ như tác giả viết cho xong thì thôi.
Nhưng ban đầu bài viết còn có giọng khinh mạn ra mặt Cửa sông cất tiếng chào đời – Đã ti toe những vùng trời khác nhau –Dấu chân người lính in mau—Thằng này không trước thì sau cũng tù
Điều này liên quan đến thói ghen ăn tức ở mà người ta thấy không hiếm trong giới.
Tài năng trong văn học là một khái niệm quá rộng. Bảo một người như XS không có tài cũng không phải. Trong Xuân Sách có chất gì đó của những ông đồ tân thời, chữ Hán biết một ít, chữ tây biết một ít. Đó là cái tài hợp với những làng quê, những phố huyện, nó cũng là rất thích hợp cho yêu cầu tuyên truyền.
Nhưng so với cái mặt bằng của VNQĐ những năm ấy thì XS thuộc về một cái gì hơi thấp.
Một mặt chúng tôi biết rằng thứ sáng tác của anh rất cần cho báo. Nhưng mặt khác thì nhiều người vẫn cứ không bằng lòng ở Xuân Sách chỉ là sự dễ dãi trong lao động nghệ thuật.
Một lần Hữu Mai cười cười nói với tôi.
–Bây giờ cái ông Xuân Sách như con gà đẻ lang ấy, đẻ bụi đẻ bờ khắp cả mọi nơi .
Trong lời giễu của Hữu Mai có hàm cái ý Xuân Sách viết nhiều viết ẩu.
— Nó là một kiểu văn tài đấy! Nguyễn Minh Châu, dè dặt hơn bảo với tôi như vậy. Tôi thắc mắc :
— Người ta nhất là người viết, có những mặt phải điếc đi một ít, thì mới hòng viết được. Đằng này cái thằng Xuân Sách này cái gì cũng hay, chuyện gì cũng thạo, gái cũng giỏi, chính trị cũng tinh vi, thế thì đầu óc đâu mà viết nữa.
Trong cơ quan tôi hồi ấy còn có một ca đặc biệt là Mai Ngữ. Con người hết sức từng trải. Là người đã từng ở khu Ba với Nguyễn Khải hồi kháng chiến sau hòa bình lập lại 1954 chuyển ra các cơ quan văn học nghệ thuật dân sự. Có gu..tài hoa .., cái truyện hay nhất của anh nói về một cuộc sống đã thành nếp, cái truyện Buổi trưa ở một thị xã ấy , được nhiều người nể.
Thế nhưng cuộc đời sáng tác của Mai Ngữ để lại ấn tượng về một cái gì làng nhàng dang dở. Hình như sự hiểu biết quá nhiều làm cho anh chán đời. Anh chả còn thiết gì cả, đến những trang viết của mình cũng không tha thiết nốt. Nói như Nguyễn Minh Châu “thằng ấy là một nghệ sĩ cũ. Nó cứ ra ra vào vào thế, nhân vật của nó cũng ra ra vào vào là chuyện tất nhiên thôi, có cái gì thực là sâu sắc đâu. Lùi xuống, Mai Ngữ lại thành một anh viết thuê rất dở nữa.”
Tháng 2.1973 khi Mai Ngữ mang tặng tiểu thuyết Dòng sông phía trước thì mọi sự càng rõ.Hồi trước, tính mấy chương ở Văn nghệ quân đội, thấy nhiều người khen. Bây giờ thì ai cũng chê.
– Đúng là thứ văn chương viết như đùa. Đến vợ cũng không biết viết vào lúc nào nữa.
– Không phải là nó không viết được, nhưng bố ẩu đại hạng. Lại còn cái lối mô tê răng rứa chữ miền Trung xài phứa phựa.
– Mình biết cách Ngữ nó viết mà. Lười mà lại tham, gì cũng rê rê như ỉa vãi mà không chịu bỏ cái gì cả. Nhiều chỗ nó cứ để trống đấy, lúc khác lại điền điền bừa vào, bất chấp cả lô gích
– Ối giời ơi, lại thấy Mai Ngữ vẽ bản đồ, các ông ạ.
– Căn bản là nó bịp mấy ông xuất bản.
Nguyễn Minh Châu tổng kết :
— Kể ra, so với những Xuân Thiều, Hồ Phương, Hải Hồ thì ở đây Mai Ngữ là một người có gu hơn cả. Nhưng thả ra cho nó viết xem, cũng chỉ là chuyện hàng rau hàng nước lặt vặt, với một ít nhân vật ngồ ngộ. Nó thiếu một cái gì nghiêm chỉnh.
Về sau này Mai Ngữ có mấy thiên truyện cùng có tên là Chuyện như đùa. Cái “anh hoa” ấy , nghĩ lại hóa ra đã có trong anh từ hồi chiến tranh.
Chỗ giống nhau giữa Mai Ngữ và Xuân Sách là sự dừng lại ở mức tầm thường ban đầu, cái hiểu đi xa hơn cái làm được. Và bởi thông minh quá, các anh phải tìm ra cách thỏa hiệp . Sự tự biện hộ cho mình diễn ra ở cả hai phía. Nhìn ra đồng nghiệp, các anh thấy thật ra mọi người cũng chẳng ra sao. Quay về với mình, các anh tự hạ thấp tiêu chuẩn để thấy mình cũng không đến nỗi xoàng.
Xuân Sách trở về thường xuyên trong câu chuyện hàng ngày giữa tôi với Nguyễn Minh Châu. Từ Xuân Sách chúng tôi nhận ra một kiểu người viết.
— Nói chuyện với ông Sách, nhiều khi rất thích, nhưng nhiều khi rất ngấy. Cứ như miếng thịt ôi, không biết dùng vào việc gì nữa.
— Sách nó thông minh, nhưng là sự thông minh tiếp nhận, chứ không phải sự thông minh phát ra.
— Nhiều khi đứng trước những chuyện lôi thôi, ông Sách ông ấy tảng lờ như không thèm để ý. Người ta khen thế là có bản lĩnh. Nhưng tôi thấy bản lĩnh phải là cái phần này: cái phần hướng về phía trước.
– Có cái chết là tất cả cánh Văn nghệ quân đội bây giờ, cả ông Cao, ông Ngữ, ông Hoàng, đều là mắc chung cái bệnh như vậy cả.
Không cần ở lâu lắm cũng có thể nhận ra sự đối lập giữa Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách. Một bên linh động sắc sảo trong văn mà ngoài đời lại khờ khạo, vật vờ theo kiểu lên đồng. Một bên như ma xó chuyện gì cũng biết, nhưng khi viết thì bao nhiêu thông minh lại biến đâu hết. Và trong cuộc sống, nếu một bên lúc nào cũng đặt ra cho mình những mục đích cao để vươn tới – giá có thất bại cũng vươn tới, thì một bên lại khôn ngoan giấu đi cái kém, không bao giờ lố bịch cả nhưng cũng không bao giờ gây ra bất ngờ.
Nếu những bài viết về Nguyễn Minh Châu hoặc Đỗ Chu cho thấy thơ chân dung nhiều khi chỉ là một thứ đùa — đùa nhả đùa nhảm — của Xuân Sách thì bên cạnh đấy ,anh lại có những bài đầy tính chất chiêm nghiệm.Như mấy câu viết về Nguyễn Ngọc Tấn. Những bi đát của cuộc đời. Cái bất lực của người cầm bút. Bao nhiêu điều hàng ngày ai cũng nghĩ mà không ai nói ra thì Xuân Sách đã nói
Trăng sáng riêng soi một mặt người
Mối tình đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất, anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời
Lúc bấy giờ Nguyễn Ngọc Tấn đã vào nam , lấy tên là Nguyễn Thi . Trong tâm trí của anh em nhà số 4, anh sống và chết như một huyền thoại .

Một bước tự nhận thức của cả giới cầm bút
Nếu qua mảng chân dung các nhà văn cùng cơ quan Xuân Sách chủ yếu làm nổi lên cái nhiệt tình và liều lĩnh, tham vọng và thất thường, bền bỉ và hãnh tiến của thế hệ cùng tuổi với mình thì đến lúc viết về lớp già tức các cây bút đã trưởng thành từ trước 1945, anh lại cho thấy một xã hội dân sự trong văn chương ở đó hienj ra đủ mọi mặt người , mọi kiểu tồn tại .
Họ là Ngô Tất Tố thấu hiểu đủ mọi chuyện làng chuyện nước. Là Nguyễn Công Hoan như anh kép Tư Bền bới tung đống rác xưa và nay. Là Nam Cao tả sâu vào thời mình mà là tả sự bất lực và chống đối tuyệt vọng của con người mọi thời đại. Ở đây chúng ta bắt gặp những nhân cách đa dạng và ổn định.
Mang lại cho tác giả uy tín và được truyền tụng nhiều nhất là những bài Xuân Sách tả Hoài Thanh Chế Lan Viên. Đó là những bài đánh vỗ mặt, mang tính cách lật tẩy. Nó dám nói to lên những điều mà người khác đã nghĩ về các nhân vật kia, mà chưa có dịp nói.
Thời nào đến giờ, đám người hay chữ chỉ là đám quan chờ, thì sự nịnh nọt có gì là lạ. Cũng như mọi sự tàn ác, trong nghề ghen tị chèn ép nhau, bán đứng lẫn nhau ; cũng như thói chống đối vặt ; cũng như lối vênh vang làm dáng khoe mẽ mẹ hát con khen hay …Người đời có cái gì thì người cầm bút trong xã hội hiện đại có cả.
Thế nhưng chỉ có thế thì các chân dung nhà văn của Xuân Sách không có sức lưu truyền mạnh đến thế.
Xuân Sách kể là Xuân Diệu không phản ứng mà còn thú vị vì những gì XS viết về mình.“Chao ôi ngói mới nhà không mới – Riêng còn chẳng có có chi chung”.Có thể tin được chi tiết đó vì ở chỗ riêng tư, Xuân Diệu khá sòng phẳng. Ông hoàn toàn hiểu cái yếu của mình.
Được Xuân Diệu cười khen là bất tử thì quả là không xoàng tí nào.Trong khi tả cái thăng trầm biến đổi của ngòi bút từng viết Thơ thơ, XS đã đặt Xuân Diệu vào cái mạch lớn của cuộc đời.
Cũng thuộc loại bất tử như vậy là đoạn tả Hoài Thanh Bình thơ đến thuở bạc đầu –Vẫn không thể tất một câu nhân tình –giật mình mình lại thương mình – tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan. Giọng thơ buồn bã ở đây, cả cái đau xót, cả một thoáng hư vô “bóng hình cũng tan” ở đây, là điều không thể lầm lẫn, nó thể hiện XS với Hoài Thanh còn một sự kính trọng. Có cảm tưởng Xuân Sách từ mình mà suy ra người khác, viết về người mà viết về mình.
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn ước mơ chi những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
Lần đầu nghe chính miệng XS đọc bài này, tôi đã nghĩ nó sẽ sống lâu lắm. Bởi tôi cảm nghe trong đó nhà thơ chỉ nhân cá nhân Hoàng Trung Thông để nói về một lớp người làm văn nghệ đương thời. Quyết tâm ư, chí khí ư, người ta rót vào tai nhau rằng chỉ cần có thế là trở thành bất tử và quả thật sự quyết tâm ấy có mang lại một cái gì đó, mang lại những tên tuổi và cả một thời văn nghệ. Nhưng thử tách ra, thử lùi lại thử đặt mình vào toàn cảnh lịch sử, chúng ta thấy gì ? Chúng ta sẽ thấy cái còn lại nhiều khi chỉ là bất lực thất bại .
Học theo cách làm của nước ngoài, gần đây đã có người đề nghị lúc nào đó ở ta xã hội sẽ tính chuyện xây dựng hẳn một nghĩa tranh dành riêng cho các nhà văn. Hẳn còn lâu cái đề nghị đó mới được thực hiện. Thậm chí giá có ai hỏi rằng chúng ta đã có đủ một lớp nhà văn như thế thì tôi cũng sẽ ngần ngại không.
Nhưng giả sử có một nghĩa trang như thế, tôi muốn đề nghị mang mấy câu Xuân Sách viết về Hoàng Trung Thông ra đặt ở ngoài cổng.
Nhà văn là những con người người nhất với nghĩa cuộc đời thật mong manh và những mong mỏi bao giờ cũng nằm ngoài tầm tay với. Giữa một cuộc đời đầy bất trắc, cái tên tuổi cái danh vọng ở đây chỉ là những phù du vô nghĩa
Xuân Sách đứng lại trong thể chân dung, Xuân Sách là một nhà thơ trong thể chân dung là nhờ ở cái phần cận nhân tình bàng bạc có mặt trong những chân dung xuất sắc .
Một cuộc đời hanh thông tròn trặn êm đẹp như đời thơ Tế Hanh rút lại cũng là ngao ngán buồn phiền “ Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu – tình còn dang dở tận Hàng Châu – Khúc ca mới hát sao buồn thế — Hai nửa yêu thương một nửa sầu”
Gãy đứt nửa vời nó là cái gì đi xuống trong số phận nhiều người để rồi quanh quẩn không thoát khỏi bơ vơ đơn độc. Đi bước nữa rồi đi bước nữa – Phấn son mưa nắng đã tàn phai—Cái kiếp đào chèo là vậy đó –Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai (bài về Nguyễn Thế Phương )
Đôi khi lại là những bâng khuâng trước một cái gì tàn phai và nỗi bơ vơ thường trực Ấy bức tranh quê đẹp một thời – má hồng đến quá nửa pha phôi – Bên sông vải chín mùa tu hú—Khắc khoải kêu chi suốt môt đời ( bài về Anh Thơ)
Oai hùng nào cũng có lúc chấm dứt , sự mở đường nào cũng có lúc dừng lại, cuộc đời tự do nào rồi rút lại cũng là chết trong tù túng, đó là ý nghĩa của bài về Thế Lữ : Với tiếng sáo Thiên Thai dìu dặt—Mở ra dòng Thơ mới cho đời—Bỏ rừng già về vườn Bách Thú – Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi
Cái cầu nối đời sống anh em VNQĐ lúc ấy với đời sống văn học bên Hội mà Xuân Sách nói ở đây vẫn là Nguyễn Khải. Một hai lần trong một tuần, Nguyễn Khải đạp xe xuống 65 Nguyễn Du và trên đường về nhà riêng ở bãi Phúc Xá, anh thường rẽ vào 4 Lý Nam Đế để trò chuyện với chúng tôi. Về một buổi họp thường vụ, các thủ lính Hội . Về một chuyến đi các địa phương cần hình thành ngay. Về một đoàn nhà văn nước ngoài sắp vào … Và quan trọng nhất là những chỉ đạo của cấp trên với Hội, chỗ này khen chỗ kia chê, chỗ đe nẹt chì chiết … cùng là cách tiếp nhận những chỉ thị ấy của đám người cầm bút đương thời. Văn nghệ lạ lắm, văn nghệ chả là gì cả nhưng trong chiến tranh lại là chỗ luôn luôn được quan tâm, bởi hình như nó là cái mạch đập tinh thần của con người, nó là hàn thử biểu của xã hội , và một khi là một người viết thời nay , người ta không được bỏ qua điều gì cả.
Cái cách kể của Nguyễn Khải là cách nháp của một nhà văn sau khi đi thực tế.
Trong lời kể ấy, chân dung các nhà văn hiện lên rõ mồn một. Ông Nguyễn Tuân vun quén quanh mình một huyền thoại. Ông Nguyễn Đình Thi trong lúc chờ làm việc lớn, sống một cuộc đời công chức và ham chơi. Ông Hoàng Trung Thông bắt đầu cảm thấy thế nào là bất lực nên hay say rượu. Ông Tô Hoài lên rừng như một cách đi trốn, chân bước đi xa mà lòng để cả ở Hà Nội … Bao giờ thì tính cách những người trong cuộc và nhất là sự vận động của tính cách ấy cũng được Nguyễn Khải làm nổi.
Trong hồi ký Cát bụi chân ai Tô Hoài từng tự nhủ văn nghệ nói là quan trọng thế thôi, chứ thực ra là một cái gì có cũng được mà không cũng được.
Tinh thần cái sinh hoạt bên Hội mà Nguyễn Khải kể với Xuân sách cũng là như vậy .
Mấy năm 1960-63 ít nhiều có tạo nên một không khí sáng tác hào hứng. Có cảm tưởng là một không khí phục hưng của một thời thịnh trị. Thế nhưng chiến tranh đã nhanh chóng kéo người ta trở lại với thực tế . Chiến tranh cần tới sự có mặt của văn nghệ, đưa văn nghệ lên đỉnh cao, nhưng cũng tiêu hủy sức lực của người ta một cách nhanh nhất, và sớm để lại một sự thất vọng ngấm ngầm .
Tôi nhớ những lần Nguyễn Khải đi họp về, đằng sau lời kể về một cảnh chợ chiều bao giờ cũng là một kết luận về cái khái quát chung về thân phận và cái ám ảnh dai dẳng về thời gian trong số phận cá nhân:
— Thế mà cả một kiếp người đã đi qua rồi đó
Thỉnh thoảng người ta cũng thoáng nhếch mép cười vì những nhố nhăng , nhưng sau tiếng cười là nỗi buồn thấm thía .
Kẻ cầm bút ở ta thường bị lý tưởng hóa, tức gán cho vai trò ông thần ông thánh.. Việc này có giải phóng ở họ ít sức lực, nhưng tai hại ở chỗ làm cho họ không còn là mình.Trong khi bị buộc phải đóng vai cao thượng, nhiều người lái cuộc sống mình đi theo hướng giả tạo.
Cũng may mà đời sống hiện đại góp phần hóa giải cái huyền thoại đó. Bản thân giới nghệ sĩ có sự tỉnh táo trở lại. Tìm tới một sự suy nghĩ đúng đắn về nghề cũng như về mình là khao khát thường trực của những nghệ sĩ chân chính.
Tôi nghĩ rằng hiện tượng thơ chân dung không phải việc riêng của Xuân Sách mà đánh dấu một trình độ tự ý thức của người cần bút. Người ta đã thường xuyên bàn bạc về nhau đùa bỡn muốn cắt nghĩa nhau, đưa nhau lên mây xanh và giáng nhau xuống bùn đen
Người ta quan tâm đến thơ Xuân sách là do những lý do đó.
Sổ tay tôi khoảng 1972 ghi :
Tết, ngồi với ông Hoàng Trung Nho, Hân ( Phan Hồng Giang). Nhân có người muốn dò thêm về lực lượng người viết ở 4 Lý Nam Đế, Nguyễn Khải tự nhiên buột miệng kể ra việc XS làm thơ chân dung. Đâu như ông bảo: Không, bên tôi, người mà giỏi nhất phải là ông Xuân Sách. Đó mới là người thông minh hơn hết thảy, chứ chúng tôi thì không phải đâu.
Và Khải đọc thơ chân dung.
Về sau Nguyễn Khải giải thích thêm: Mục đích của tôi là để cho họ ( dân bên Hội ) biết mình không chỉ viết được nhiều, đi chiến trường giỏi, mà còn cũng thông minh và đáo để nữa.
Giống như một thứ cò mồi, tôi – vẫn lời Khải — phải lấy tôi nói trước. Rồi đến ông Hồ Phương, ông Hữu Mai… Không chỉ nói người ngoài mà người nhà với nhau cũng sâu cay ra trò, ngụ ý của tôi là vậy. Ông Tế Hanh, ông Hoàng Trung Nho, rồi Phan Hồng Giang, Bùi Bình Thi nhộn nhạo cả lên.Ví như về tác giả Xung kích ,Vỡ bờ . Hân: Đúng chất ông này là bắng nhắng, cái gì cũng dúng vào, mà chẳng làm gì giỏi. Bài về Nguyên Hồng: Con hồ già uống rượu giả vờ say- điểm huyệt rất trúng, sự giả vờ của ông già có tiếng là tâm huyết cần được phơi bày cho mọi người biết. Về ông Chế Lan Viên thì chưa hay lắm. Chưa nói được bản chất nói xuôi nói ngược thế nào cũng hay của ông ấy.Về ông Huy Cận, cái vẻ thoả mãn thì không ai cãi hộ nổi rồi.
Ngày tết, Nxb Quân Đội Nhân Dân họp mặt mời các ông đến. Lại đọc. Tô Hoài “Xuân Sách không làm được về mình đâu. Mình cũng hơi khó nắm đấy “.Nguyễn Khải : “Tôi chỉ xin đọc anh nghe câu đầu tiên– Dế mèn lưu lạc 10 năm.” Ông Tô Hoài giật mình ngay. Nguyễn Đình Thi vớt vát: “Chúng ta đều rất thông minh cả. Nhưng có thông minh nhỏ, có thông minh lớn. Phải phấn đấu để có những thông minh lớn cơ “.Xuân Sách về kể: “Họ cũng phải thấy là cánh mình sống với nhau, cởi mở, có thể nói với nhau khá nhiều ý. Thế là được!”

Dao sắc không gọt được chuôi

Ngoài thơ tứ tuyệt các nhà văn cũng thường cũng “chơi nhau” bằng câu đối .
Về Tú Mỡ và Khái Hưng
–Dưới bóng tre xanh Tú Mỡ buông câu dòng nước ngược
Dọc đường gió bụi Khái Hưng đứng bán gánh hàng hoa
Về Vân Đài và Đoàn Phú Tứ
–Thanh lịch Vân Đài thanh lịch.. kịch
Ngã ba Phú Tứ ngã ba.. hoa
Về Thanh Tịnh
— Thanh thanh thanh, thanh tú thanh giường thanh thiếu nữ
Tịnh tịnh tịnh, tịnh sừng tịnh mỏ tịnh nam mô
Và về Xuân Sách
— Xuân đâu nữa 40, con 3 đứa, sao 3 ngôi, khôn dại dại khôn, khôn cũng nó, dại cũng nó
Sách gì cũng năm bảy, thơ một thể, văn một thể, đức tài tài đức, tài nơi mình, đức nơi mình
Đôi câu đối này Xuân Thiều làm năm 1972. Nó đã phác ra đầy đủ con người gia cảnh tác giả Thơ chân dung. Sao ba ngôi chỉ quân hàm thượng úy mà Xuân Sách mang trên vai ( Hữu Mai Hồ Phương lúc này đã đeo quân hàm thiếu tá ). Và ba đứa con chính là những chữ làm nên bút danh Lê Hoài Đăng.
Từ Xuân Sách lúc này có thể nhận ra dấu ấn một nếp sống thời chiến ổn định ở hậu phương Hà Nội trước 1975. Trước hết là sáng tác. Phong trào văn học cần những cây bút viết cho thiếu nhi, nhất là cái phần tham gia chiến tranh của thiếu nhi? Thì XS có Đội du kích thiếu niên Đình Bảng, Mặt trời quê hương. Quân đội cần một phóng viên đi chiến trường viết nhân danh nhà văn nhà thơ của lực lượng quân giải phóng. Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách cùng được cử đi. Trong lúc Nguyễn Minh Châu trầy trật mãi mới cho ra được Dấu chân người lính ( sau này thành một cuốn loại trội nhất trong số các tác phẩm viết về chiến tranh ) thì Xuân Sách có tập thơ Trong lửa đạn, tập truyện Đêm ra trận cả hai in ra ngay sau đợt đi và sau này không ai còn nhớ tới chúng .Thái độ Xuân Sách có hai mặt . Một mặt anh thừa hiểu những cái đó chả là gì cả ( anh viết rất vội , chỉ cốt được in, chứ không gửi gắm tâm huyết gì ). Mặt khác anh vẫn không giấu được một nỗi vênh vang ngấm ngầm. Ta đã có sách in, ta cũng chả kém gì đời. Thậm chí, người ta còn đọc ra ở anh một sự trâng tráo, khi đối diện với những anh em nghiêm chỉnh làm nghề . Dường như sau trang viết của XS lúc này là cái cười khẩy, giữa sự dày công lao tâm khổ tứ của các anh với sự phẩy tay viết xong của tôi, thua đươc có là bao ?
Chạm mặt nhau trong cơ quan, mấy năm ấy, tôi luôn luôn bắt gặp một Xuân Sách lưỡng phân, lúc là người nhũn nhặn biết điều, lam lũ làm ăn ; lúc khác lại là kẻ đầy kiêu ngạo, lúc cam chịu nhẫn nhục lúc lại lồng lộn bất đắc chí, ừ thì mình không có tài nhưng bao thằng gọi là có tài khác thực ra nào có ra gì. Xuân Sách muốn xoa đầu , muốn cười thầm, muốn lắc đầu làm một cái án tử hình cho những kẻ gặp thời kẻ quá may mắn, muốn có một quân tẩy , xóa bỏ tất cả .
Trong số những ấn tượng lớn nhất về Xuân Sách tôi nhớ tới cái bĩu môi khinh đời của anh khi nghe những bản báo cáo về công trạng sáng tạo. Anh nắm bắt rất nhanh cái tinh thần hãnh tiến ở người này, cái lặng lẽ sung sướng đếm tiền của người kia. Mọi thành tựu như đều có cái vẻ vô nghĩa của nó . Nhân dịp tổ sáng tác của Hồ Phương tổng kết , Xuân Sách cũng ném ra cách tổng kết của mình
Tổ sáng tác, tổ sáng tác
Tác phẩm ùn ra như đống rác
Dấu chân người lính chửa in xong
Đã viết Ký sự hai bờ đác
Ông chủ tịch huyện cưỡi xe tăng
Thằng nào không tránh thì mất xác
Tôi ngẩng mặt lên nhìn Vùng trời
Mây trắng xếp đầy như xếp bạc
Một mình anh hùng Lê Mã Lương
Đánh cho lữ dù 3 tan tác
Thôi đành trở lại Thôn ven đường
Kiếm lấy cái gì mà gỡ gạc
Con gà động ổ nhà bên
Cục, cục tác, cục cục tác.

Nếu cái hồi Xuân Sách còn đang hoàn toàn nằm trong bóng tối anh em cơ quan đã hay nhìn về Xuân Sách thì lúc này anh còn tiếp tục được mọi người mang ra bàn bạc. Trong tiếng Việt có một từ gọi là khôn. Người khôn thông thường được hiểu không phải là người có danh, có tiền mà là người giỏi thích ứng làm nổi bản thân kiếm lợi cho bản thân khiến người ta không phục nhưng cũng phải chấp nhận.
Làm sao mà một người sáng tác không có gì đặc biệt như XS tạo đươc một ấn tượng khiến người ta luôn phải nhắc đến anh – đấy là cái khôn của anh.
Nguyễn Minh Châu ví von : Xuân Sách lúc này như chất dầu nhờn chỗ nào cũng chảy vào được, đâu cũng có mặt .
Mặc! XS, kiếm sống một cách kiên trì và có lý lẽ riêng của mình . Có lần anh nói với Nguyễn Minh Châu
– Anh đừng vênh mặt với chúng tôi! Tại trời cho anh nhiều hơn chúng tôi chứ đâu anh có cần cố gắng! Vậy thì với tư cách nhà văn, lẽ ra anh phải thông cảm với đám chúng sinh bất hạnh mới phải! Cũng nên sớm học tập cách kính trọng bọn không nổi tiếng đi thì vừa. Vì trong cái bọn không nổi tiếng ấy, khối tay, về mặt thông minh và bản lĩnh, nó còn bằng mấy anh đấy!
Dường như Xuân Sách không chỉ nói với thiên hạ mà thường xuyên nói với chính mình như vậy . Một lần nào đó anh bảo tôi:
— Ông xem còn cửa nào mà tôi không thử vào không.
Nghe mà sững sờ. Trong khi tưởng là dong chơi anh vẫn lẩn mẩn làm cuộc phiêu lưu nho nhỏ. Ở những khu vực người khác bỏ qua anh lại gặt hái được một ít thành tựu.( Ấy là cái phần chân dung các nhà văn bên Hội ở trên tôi vừa dẫn. )
Trên tinh thần tự khẳng định, Xuân Sách có lần khắc họa chân dung mình một cách phô trương
– Cô giáo làng tôi đẻ sòn sòn
Một đêm ra trận được nghìn con
Thiếu nhi Đình Bảng nô ầm ĩ
Du kích Bạch Đằng hát véo von
Đường ra mặt trận chân chẳng mỏi
Lối vào lửa đạn bước không mòn
Mặt trời rạng rỡ quê hương mới
Vang khắp xa gần một tiếng khôn
Còn nhớ khi lần đầu nghe đọc bài này, Nguyễn Minh Châu cho luôn một chùy “như là một bản báo công ấy “. Nguyễn Khải thì nói chung về cả con người bạn mình : Thế mà cũng đòi khôn!
Dường như thấy tự khen như thế quá lố, nên Xuân Sách có chữa như sau

Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa Đình Bảng người chồng goá
Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi
Đường ra mặt trận gân cốt rão
Lối vào lửa đạn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Khôn dại trần gian để tiếng cười
Chê thì có chê ,tuy nhiên âm điệu chủ yếu vẫn là khoe , khoe một cách kín đáo.

Sự hình thành một huyền thoại mới

Từ sau 1980, cuộc đời sáng tác của XS có bước rẽ ngoặt. Không chỉ chuyển về các cơ quan văn nghệ dân sự, mà cái chính là anh trở thành một bộ phận của sinh hoạt văn học ở cả bề nổi cũng như bề chìm của nó. Trong giới, cái tên XS nổi lên như một người thạo đời thạo việc. Khoảng 1989-90, DươngThu Hương còn sinh hoạt với Hội nhà văn, và nhiều lần được nhăm nhe vào chấp hành hội. Trước Đại hội nhà văn 1999, Dương Thu Hương nói với nhiều người:
— Tôi mà trúng vào Ban chấp hành thì thả nào tôi xin Đại hội để nhường cho XS
Dương Thu Hương tin khả năng ứng phó và hiểu nghề, hiểu giới viết văn của XS sẽ giúp cho việc điều hành hoạt động của Hội .
Sáng tác của XS cũng đậm hơn sắc thái nhân văn
.: “Làm vua mà cũng chán / Bỏ đi theo mây ngàn / Một nước cờ Yên Tử / Làm bận lòng thế gian” (“Yên Tử”).
“Đừng rót nữa tôi không sành rượu / Uống không say thì uống làm gì / Vui chẳng thêm, buồn không quên được / Cứ như thừa từ cái mặt thừa đi / Cứ như thừa trong cõi đời náo nhiệt / Hay hớm gì nhìn gan ruột người ta / Giữa thời buổi cạnh tranh quyết liệt / Cứ tỉnh quoeo lắm lúc cũng phiền hà…” ( “Rượu”).
“Tôi về tới bến sông xưa/ Hút tàn điếu thuốc mà chưa gọi đò/ Nhìn theo ngọn khói vu vơ/ Nhớ thương thì có đợi chờ thì không/ Buồn ai thả lại giữa dòng/ Cho tôi mang lấy nặng lòng chiều nay/ Hư hao một thoáng heo may/ Sương nhòa mặt đất mây bay cuối trời/ Cất lên một tiếng đò ơi/ Nhỏ nhoi như giọt mưa rơi giữa đồng”. ( “Bến quê”).

Nhiều bài ca tụng XS được in khiến tôi hơi ngờ ngợ : hình như XS tôi biết hôm qua là khác và hai chục năm gần đây trong đời sống văn chương xuất hiện một XS khác . Nhưng có đúng vậy ?
Ở trên tôi hay gọi XS bằng anh , dưới đây xin gọi bằng ông . Tôi muốn nhìn người viết này như một thực thể khách quan
Thử bắt đầu bằng những lời ca tụng thơ chân dung . “Hình như trong đó sừng sững đến cả trăm gương mặt. Tập thơ đặc tả những gương mặt quen thuộc, nhàu nát như thể sách giáo khoa. Những thế hệ bầy đàn như chúng tôi chính là đã lớn lên trong cái vầng hào quang giáo khoa chói lọi ấy”. Ồ cái này thì không phải rồi . Về mặt nội dung các bài tôi đã nói ở trên . Còn về nghệ thuật cũng xôi đỗ, bài hay bài dở, khá nhiều bài chặt chẽ ( nhất là mấy bài làm theo thể tứ tuyệt ) nhưng nhiều hơn là những bài vần điệu xộc xệch , tác giả viết vội viết vàng cho qua , và trong khi thưởng thức người ta chỉ mải để ý xem nó dùng để chơi xỏ ai, ra đòn có ác không chứ không đếm xỉa tới nghệ thuật . Nên nhớ là XS làm tập này ban đầu chỉ để đùa , chả có lớp lang quy hoạch gì , và có một vài bài làm để lấp chỗ trống ; lại cũng nên nhớ là có bài làm theo đơn đặt hàng , có nhà văn thấy phải có mặt trong tập thơ này của XS thì mới nên người nên chèo kéo ông mời mọc ông , rồi thì XS cũng chiều đời mà làm thôi chứ chả hề mang vào đấy chút chủ kiến nào cả.
Cùng với sự khôn ngoan trong thế viết trêu chọc đùa bỡn , XS sớm được xem như một người rất thâm . Rồi theo cách nghĩ thông thường đám sùng bái ông đã thổi ông lên thành một bậc trí giả , một cây bút uyên bác thông kim bác cổ nhất là thạo cách nghĩ thâm thúy của người tàu . Trong số các danh hiệu được đặt bên cạnh ông có những chữ thuộc loại thiêng liêng nhất mà dưới áp lực của văn hóa Trung Hoa , mọi người đều dùng một cách tự nguyện một ẩn sĩ cô đơn, một Nhân giả , một chân kẻ sĩ, một cây cổ thụ. Có mặt trong một bữa rượu, ông được mô tả là khiến người ta giật mình bởỉ “ thấy hình ảnh hiện lên “có cái gì giống Khuất Nguyên ngày trước. Cả cuộc đời say, đủ các kiểu say, chỉ có mình ông tỉnh…” “ Ông chính là người mà thời gian đã kịp “nấu” thành… cao, một thứ “cao” giống như cao hổ cốt.”
Dễ dàng đoán ra tâm trạng nao đã khiến người ta cósự qúa đáng trong những lời khen tặng như vậy . Ngoài đời nhiều giá trị giả quá mà không ai phá tung ra được nên thấy ở XS có chút gì thực là người ta khen không tiếc lời .
Xã hôi tốt xấu nhập nhèm , ngoài dư luận công khai luôn luôn tồn tại những lời đồn thổi , ai cũng muốn tin
Còn về cơ bản thì như trên tôi đã nói, cái nề thường thấy nhớ hơn cả khi nhớ về hình ảnh nhà thơ chân dung này — đó là loại các nho sĩ ở các làng xóm xưa . Cái gì ho cũng biết một tí Về hiểu biết chân trời của họ là những cuốn sử sách và triết lý bên tàu , nhưng cái chân trời ấy xa quá thăm thẳm và đến mỗi người thì tan nát rời vụn mỗi người mỗi kiểu . Ngay bên cạnh họ là đám đông là cái lẽ dời cao đẹp bầu ơi thương lấy bí cùng lẫn cái nếp sống dòm hành nhau tị nạnh nhau giữa những người láng giềng . Rút cục cái còn lại rõ rệt hơn cả một cuộc sống hai mặt con người chăm chỉ đấy mà dong chơi đấy thực dụng đấy mà hư vô đấy
Câu thơ XS viết về Chính Hữu Anh thành đồng chí tự bao giờ ? lúc này có thể đổi thành anh thành huyền thoại tự bao giờ .
Và tôi hiểu rằng , khốn khổ, Xuân Sách cũng tham gia vào cái việc tạo ra huyền thoại

Advertisements
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: