Nhật kí xã hội 2005

Nhật ký Xã hội 2005

Sau tết nói chuyện quất

13-2 ( Mồng năm tết )
Đi đâu cũng thấy nói thành phố năm nay nhiều quất. Một người nước ngoài sống ở Hà Nội thú nhận: nhiều khi ngồi trên ô-tô thấy một người đèo cây quất đi qua, đẹp quá, ông ta chỉ muốn giơ tay hái một chùm làm kỷ niệm.
Nhưng khi theo mọi người đi mua quất, điều đầu tiên tôi có thể nhận xét, ấy là phổ biến loại quất to, cao đến ngực đến cổ, có hình cây thông. Chắc chắn là so với những căn phòng chật hẹp của đa số người dân thành phố thì cây nào cũng to quá không hợp. Nhưng sức chịu đựng của chúng ta bây giờ lớn lắm, nhìn những cây quất lù lù đứng giữa nhà mà chẳng ai thấy chướng, lại còn nháy mắt tự hào nữa ! Hình như ở đây có sự xuất hiện của cái tâm lý hiếu đại ( thích tỏ ra lớn ), một thứ tâm lý phổ biến hiện thời: Nhất định là ta không chịu kém hàng xóm về cái khoản quất này, nhiều người nhủ thầm trong bụng. Như khi đi đường, họ nhấn còi inh ỏi. Như khi mua được cái đầu về nhà hát karaoke với nhau, họ cố mở loa thật to, để hàng xóm phải biết là nhà họ có karaoke mới thôi.

Một cái khổ khác, là nạn quất giả. Kỹ thuật buộc thêm cả túm hoặc cắm những quả rời vào đầu cành đã có từ lâu. Gần đây còn nảy ra một thứ kỹ thuật siêu hạng hơn, tôi chưa có dịp hỏi kỹ chỉ nghe mang máng đâu như người bán hàng phun hoá chất, hoặc quết cho các quả xanh một lớp nước muối, thế là chín đều cả ( cà chua cũng có chuyện này ). Chỉ có điều mang về vài hôm thì rụng hết. Ngày ba mươi và sáng mồng một, vợ tôi có thêm mối lo là vừa nấu nướng vừa lắng nghe, hễ có tiếng bộp một cái là nhặt ngay, chỉ sợ để gốc quất đầy quả rơi thì lộ ra cái kém cỏi mua phải hàng lừa. Và lại xúi quẩy nữa.

Nghĩ thêm về nạn quất giả, tại sao cái thói kỳ cục ấy lại nẩy nòi ra và ngày một phổ biến? Tôi cho rằng trước tiên là tại người mua. Nghĩa là tuy không ai nói ra, nhưng khi đi mua cái món hoa tết này, ai cũng chỉ thích thứ gì giá rẻ mà lại thật đầy đặn thật rực rỡ, ngoài ra với số tiền ấy có đủ làm ra thứ quất như họ mong muốn hay không thì không ai cần biết. Biết thóp vậy, người sản xuất đáp ứng ngay. Kỹ thuật hiện đại đã kịp thời có mặt trợ giúp cho họ. Và rút lại thì vẫn tiền nào của ấy. ở ta, cái sự người làm hỏng người nhiều khi chỉ bắt đầu bằng những nguyên nhân thật hồn nhiên và đơn giản.

Chỉ có cái khổ là bây giờ muốn mua loại quất thứ thiệt, loại quất không cần đắp điếm mà vẫn chín đẹp, người ta chỉ có cách mò lên đến tận vườn ; và chuyện kiếm quất biến thành chuyện kết thân giữa người bán người mua, chứ không còn là hoạt động thương mại bình thường nữa. Vả chăng, cái sự làm quất giả giờ cũng đã lây từ những người nông dân ở các tỉnh xa tới một ít gia đình chuyên nghề trồng quất ở Nhật Tân cũ. Gì thì gì, chứ cái lối kiếm tiền kiểu này người ta học nhau nhanh lắm, và cái chuyện anh dốt dạy anh giỏi, anh không có nghề dạy anh có nghề … là chuyện rất thường.

– Biết thế sang năm mua quất ta phải cẩn thận –, tôi nói với vợ.
— Ngày tết ai cũng mua bán như ăn cướp, lấy đâu thời giờ mà lắc từng quả quất để xem giả hay thật. Mà nhỡ đi cả chợ không tìm ra một gốc quất có thể tin cậy được thì chẳng nhẽ quay về à? Hay là lại bảo nhau mua phiên phiến đi cho nhanh –,vợ tôi đáp lại với vẻ hào hứng như là biết chắc thả nào tôi cũng thua cuộc.

Tôi nghĩ đến một vài bạn nước ngoài lần đầu ghé thăm Hà Nội cũng mua quất về đón xuân, không hiểu họ nghĩ gì khi nhặt những quả quất rơi, và lần sau còn muốn đến Hà Nội trong những dịp tết nữa hay không? Và tôi định bụng phải viết một bài báo nói về chuyện này để mọi người, nhất là những người nông dân trồng quất biết. Nhưng một con người khác trong tôi lên tiếng bác ngay: Ơ hay, chính là một ông ở Tổng cục du lịch gần đây còn lên Tivi tuyên bố rằng du lịch Việt Nam là du lịch khám phá, nói nôm na tức là “chỉ cần khách đến một lần chứ lần sau họ có đến nữa hay không thì không cần biết “. Cán bộ du lịch nghĩ thế và dân trồng quất làm thế, phối hợp ăn ý quá, còn phải ý kiến ý cỏ gì nữa cho thêm rách việc.

Chen chúc…hưởng thụ
20-2-
Chưa khai hội đã tắc đường, đó là tin đưa trong ngày mồng 5 tết, trên một tờ báo điện tử. Đường đây nói là đường lên động Hương Tích.
Hội chùa Hương năm nay ngay ngày đầu mồng 4 tết đã có 1,7 vạn khách.
Trong chương trình các cơ quan bàn nhau nhân ngày gặp mặt đầu xuân, thường có việc từ giờ đến cuối tháng giêng đi chơi đâu. Tiếng chuyên môn gọi là du xuân. Cán bộ công đoàn thi nhau vào việc.
Có cảm tưởng kiểu tết ở ta là vậy. Ta đến với nó sớm.Ta lại rút ra khỏi nó một cách khó khăn. Mãi mà những ngày năm mới không trở lại được như những ngày thường. Và đó chẳng phải là do làm việc nhà nước rồi đủng đỉnh “ cơm nhà chúa múa tối ngày “ đâu, chính các công việc tư nhân cũng vậy. Ngôi nhà xây dở bên cạnh nhà tôi, đến hôm nay thợ về quê ăn tết vẫn chưa chịu lên cho.
Một tờ báo sử dụng đến một danh từ mỹ miều: đó là dư âm của tết.
Tôi muốn bổ sung thêm: đó là dư âm toát ra từ cách sống của một xã hội tiểu nông rề rà uể oải.

Một chi tiết khác liên quan đến việc đi hội chùa Hương. Người đi hội đua nhau tìm ăn thịt thú rừng và rau sắng. Câu chuyện thú rừng khá đơn giản, cứ cái gì cấm thì người ta lại thích săn tìm bằng được. Còn thích rau sắng là bởi truyền tụng câu ca: “ Muốn cho da trắng tóc dài — tìm ăn rau sắng củ mài chùa Hương “, mặc dù theo người làm nghề chèo đò là dân địa phương, tháng chín mới có rau sắng, mùa này toàn rau sắng rởm.
Khi đã thành vần vèo rồi thì câu chuyện giả thật không thành vấn đề nữa.

Chẳng những Hội chùa Hương mà phiên chợ Viềng ngày đầu năm cũng vậy, hàng giả đến bảy tám mươi phần trăm. Và cũng tắc đường. Đi về ai cũng tìm ra cớ để than phiền.
Vậy mà ai cũng thích đi. Có cảm tưởng nhiều người chỉ đi hội theo thói quen. Có phần gần gụi hơn — mà không ai muốn nói ra –, hội hè du lịch cũng là dịp để người ta tìm một ít niềm vui đùa bỡn, dông dài, bấu chí nhau, trêu chọc nhau. Đây là một bài vè tôi mới ghi được: “ Đám cưới đám ma – Ta đi với địch – Tham quan du lịch – Ta đi với ta — Đêm nằm với địch – Ta nhớ về ta “
Nghĩ về những trò chơi ngày tết: miền xuôi chỗ nào cũng thấy loanh quanh mấy trò kéo co, còn miền núi thì đánh quay thổi kèn. Hoặc như một trò chơi được giới thiệu trên TV là trò đập niêu. Đơn giản quá chỉ treo mấy cái niêu trên dây, rồi tả một người bịt mắt ra bảo họ đập. Dựa vào may rủi nhiều, chứ không phải là một dịp rèn luyện kỹ năng cùng trí thông minh, như trò chơi đòi hỏi.
Chú ý là trong tiếng Việt, chữ chơi thường có nghĩa xấu ( tục ngữ có câu: làm chơi ăn thật ). Khi ta chưa biết chơi, thì cũng tức là ta chưa biết làm việc.

Nhiều lần ngồi trên xe chờ vượt qua những đấm đường đông, ùn tắc, trong tôi trở đi trở lại một ý nghĩ: cuộc sống như con sông tràn bờ. Nghĩa là nó không chưa nổi chính nó nữa.
Nó quá tải. Các cơ quan thừa người mà việc vẫn không chạy. Học sinh Hà Nội mỗi lớp chen chúc bốn năm chục em. Hội thảo khoa học nào cũng dăm bảy chục báo cáo, nhiều người nhăn nhó vì nỗi không ai nghe ai. Trong một hội thơ, các thi sĩ cướp mi – cơ – rô của nhau để đăng đàn diễn thuyết.
Không sao tìm ra một nơi am thanh cảnh vắng.Vào chùa, hết sắp hàng thắp hương lại sắp hàng “công đức “.
Nhưng trước tiên vẫn là những con đường. Muốn qua đường cho an toàn thì chờ không biết đến bao giờ. Vỉa hè bị lấn chiếm đến nỗi mất hết hứng thú đi bộ. Muốn đến một nơi nào đó, hồi trước tôi còn thử nghĩ đi lối nào cho đường vắng đỡ xe. Nay thì đường nào cũng vậy, và trên một con đường thì giờ nào cũng vậy, chứ không phân biệt được đâu là giờ hành chính với đâu là giờ tan tầm nữa.
Laị nhớ nhà văn Hồ Anh Thái từng có một bài phiếm luận trong đó anh giả định đến lúc nào đó xe máy sẽ ken chặt đường phố, không xe nào nhúc nhích nổi nữa, người ta chờ đợi hàng ngày không về được nhà, thậm chí thành phố phải huy động trực thăng ném cơm nắm xuống cho những người mắc kẹt giữa đường. Trong câu đùa vui, không khỏi có cái gì đó rất thật: năm ngoái từ nhà tôi đến cơ quan chỉ mất mười lăm phút thì năm nay thường là hai mươi, hăm lăm phút. Một hai năm tới sẽ là bao nhiêu?

Sự đỏng đảnh của mùa xuân

21-2
Trước 1975, ở cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội chúng tôi, Nguyễn Minh Châu nổi tiếng là … hay sổ ra những câu ngược đời. Chẳng hạn trong khi ai cũng nói là mùa xuân đẹp mùa xuân mơn mởn sức sống, thì có lần ông cho mọi người thất vọng bằng một câu xanh rờn:
— Chính ra ở mình, mùa xuân lại là mùa bẩn nhất. Đấy các ông các bà thử nhìn xem đường xá lầy lội có kinh không? Làng nào còn ít bụi tre, thì xuân này lá tre rụng đầy đường, mà chính các thân tre lại xơ xác trông chán chết đi được !
Lúc nghe, vì quá sốc nên thường chúng tôi không nói gì. Chỉ khổ một nỗi về sau nghĩ kỹ lại, thấy đúng. Đôi khi ngại xuân thật ! Mưa phùn gió bấc, hơi một tí thì lạnh, hơi một tí lại nóng. Vừa trở gió, cửa nhà đã nhoe nhoét vì nồm. Muỗi ở đâu ra mà dầy như trấu. Nỗi sợ viêm họng với sợ sưng phổi làm người ta quên cả ngắm cảnh đẹp. May lắm thì chúng tôi chỉ còn tự an ủi, thực ra mùa xuân quá nhiều vẻ. Nó mang trong mình quá nhiều tiềm năng. Cũng giống như việc đời, nó đỏng đảnh, nó bất trắc. Tức là luôn luôn có thể thế này và có thể thế khác, đẹp đấy mà cũng nhếch nhác ngay đấy.

23-2
Hôm nay là rằm tháng giêng. Lễ tết quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng. Từ nhỏ tôi đã được nghe nói như vậy, và bây giờ mới thấy nó đã ăn sâu vào tâm lý mọi người đến như thế nào. Người đi lễ nườm nượp từ sáng đến tối. Nhớ có năm lúc đã muộn, khoảng mười giờ đêm, tôi mới đi bộ ra đền Q. ( vì Văn nghệ quân đội gần đấy ). Trở về chỉ nhớ hai chi tiết. Một là nhiều người đến chậm, không chen được vào cắm hương, quay ra cắm cả vào các ngách tường gốc cây ngoài sân ; hai là sau khi khách đến lễ ra về, các vị hành nghề ở đền ( chữ gọi là thủ từ ) để đỡ mệt mỏi, quay ra xả hơi bằng cách … mở băng Sơn ca 7 của Trịnh Công Sơn. Hôm sau kể với Nguyễn Khải, ông cười sặc sụa, song bảo là bịa, nhất định không tin. Tôi thì tôi nghĩ, chẳng qua nó chỉ cho thấy một tình trạng hỗn độn mà lớp người cũ như chúng tôi không quen. Hỗn độn, nham nhở, pha tạp, không thuần khiết, những cái chả ăn nhập gì với nhau lại đặt cạnh nhau …, đó là tình trạng có thể gặp ở bất cứ đâu.

24-2
Nhân chuyện lễ bái ngày tết, còn nhớ một câu tục ngữ nữa ăn trộm ăn cướp thành Phật thành tiên — Đi chùa đi chiền bán thân bất toại. Trong nghĩa ban đầu, câu nói chỉ muốn cảnh cáo rằng moị chuyện không phải bao giờ cũng công bằng, động cơ không phải bao giờ cũng tương ứng với hậu quả, rõ thật sự đời là đỏng đảnh, là đa đoan rắc rối. Thế nhưng nghĩ vân vi thì thấy: hình như ngày xưa có sự phân chia rành mạch. Đã ăn cắp thì không dám tính chuyện đi đền đi chùa. Ngược lại lễ bái là cả một việc thiêng liêng mà chỉ những người tin chắc ở sự lương thiện của mình mới thành tâm theo đuổi. Hai loại người hai cách sống, rành mạch đâu ra đấy. Còn ngày nay, nếu tôi không nhầm, càng những người “ có chuyện “, bao gồm từ buôn bán bất chính giả dối lừa lọc cho tới các loại lấy của công làm của tư, nhận hối lộ, tham ô ăn cắp ( nói nôm na thì tham nhũng cũng chỉ là một loại ăn cắp ) lại càng kỹ càng trong việc cúng bái. Bởi nay là lúc người ta thừa hiểu mình đang làm việc xấu song vẫn cứ làm. Mà cũng bởi người ta tin rằng thần thánh cũng như người, giá năng đến năng xin, và quà bánh lót tay cho thật hậu hĩnh, thì tội lớn thế nào cũng tha bằng hết. Thành thử mới sinh ra tình trạng đen trắng lẫn lộn, bắt cá hai tay. Càng giỏi kiếm chác càng hăng hái đi đền đi chùa. Và cầu cúng xong rồi thì về thêm yên tâm làm bậy.

26-2
Trong một bài báo tường thuật hội nghị các nhà văn các tỉnh phía bắc, người viết mấy lần nhắc đi nhắc lại mấy chữ sĩ phu Bắc Hà, ra vẻ tự hào lắm. Mở từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên ra tra, thấy ghi rõ sĩ phu: người trí thức có danh tiếng trong xã hội phong kiến. Nếu đúng hai chữ sĩ phu cao quý vậy thì liệu những người cầm bút khiêm tốn hiện thời có nên có nên dùng nó để tự nói về mình? Hay chính vì trong thâm tâm thừa biết rằng mình viết lách cũng chỉ làng nhàng nên phải nấp bóng người xưa để sống? Và đây lại là một sự nhập nhèm lẫn lộn, hơn thế nữa một sự cố ý vơ vào, cố ý làm sang?

“ Ta “ và “người”

28-2
Hồi gần tết, trên một tờ báo điện tử có bài Công chức VN nên ghi lại nhật ký công việc. Sở dĩ phải đặt vấn đề như vậy là vì, như người ta viết trong bài, “ Tình trạng chung hiện nay là thậm chí lãnh đạo trực tiếp cũng không biết chắc chắn công chức dưới quyền mình làm gì trong giờ hành chính “. Lãnh đạo trực tiếp nói ở đây, tức là người phụ trách những cơ quan nhỏ, cơ quan cấp hai ; chứ không phải các đầu mối lớn, gọi là cơ quan cấp một, ở đó, nói tới sự sâu sát càng khó.
Thế nhưng ngay lập tức một câu hỏi được đặt ra: Liệu có làm được thực sự? Hay là chỉ ghi cho có chuyện, ghi dối ghi dá, cốt để đối phó với nhau và chỉ ba bảy hăm mốt ngày là đâu đóng đấy, không ai biết việc của ai cả?!
Có vẻ như ngay khi đặt cho bài viết cái tên nên ghi lại nhật ký, thì người ta cũng đã tự tố cáo là biết việc đáng làm đấy, nhưng có nhất định làm được không thì không dám chắc. Lại nhớ hồi chiến tranh, mọi chuyện phải bí mật, nhiều khi cơ quan ở đâu, không được nói, được chi bao nhiêu, không được biết, ai đang làm gì, không được hỏi. Hình như cái tình trạng ấy hôm nay vẫn chưa dứt hẳn.

2-3
Năm 1984, đến một nông trường trồng chè ở Tuyên Quang tôi mới được biết là chè mình xuất sang Nga,Ân Độ chỉ là phụ gia, cho người ta trộn thêm vào, chứ thực ra chè ta không tồn tại độc lập. Nó như người không có mặt.
Giờ đây nghe tin: Mới chỉ có 25% hàng hoá Việt Nam đạt tiêu chuẩn hàng hoá quốc tế và khu vực (VietNam Net 18-2).
Hôm qua đọc VNExpress lại nghe nói rằng làm ăn theo kiểu hiện nay tức là mình toàn đi xuất khẩu hộ người. Ví dụ một ngành ăn nên làm ra của mình là ngành dệt may. Nhưng do gần như toàn bộ nguyên liệu là đi nhập nên sau khi cặm cụi cắt may là ủi đóng hộp …, tính kỹ ra trung bình xuất được 5 đô la, thì thu về thật ra có vài cent ( tương tự như 5 đồng thì thu về vài hào ).

3-3
Hơn bao giờ hết, người nước ngoài có mặt trên đất này ngày càng nhiều. Tây có mặt trên mọi quãng phố. Tây tràn cả về nông thôn. Tây có mặt ở các đám hội lễ. Tây có mặt trong các cuộc hội thảo hội nghị, ở đó họ cùng chúng ta bàn bạc mọi chuyện.
Có những chuyện tôi cứ muốn quên đi mà không sao quên nổi.
Một là có lần viện Gớt ở Hà Nội mở cuộc trao đổi về phương án cải tạo phố cổ ở Hà Nội. Họ mời được cả các chuyên gia từ Pháp, Singapore sang. Chỉ riêng có cán bộ quản lý của thành phố và khu phố sở tại được mời thì không thấy đến.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến ngôi nhà của cơ quan văn hoá X. được xây dựng từ hồi Pháp thuộc và nay đã quá cũ. Một đoàn khách Pháp đến tham quan, họ ngỏ ý sẽ về Pháp vận động để gây quỹ xây lại ngôi nhà đó. Bên ta đồng ý. Nhưng đến khi họ đề ra kế hoạch cụ thể là sẽ cử thợ bên ấy sang xây dựng từ đầu chí cuối cho đến khi hoàn thành, chìa khoá trao tay thì phía ta, cơ quan chủ quản nhất định không nhận. Họ không sao hiểu nổi. Chị D. là người phiên dịch cho những cuộc trao đổi giữa hai bên khi kể với tôi chuyện này chỉ nhẹ nhàng giải thích:
— Có gì đâu, chờ ít năm, thả nào trên bộ cũng có chỉ tiêu cho cơ quan ít ra là vài trăm triệu để xây dựng. Mà ta làm với ta thì thả nào bên B. chả lại mặt cho bên A. ít nhiều. Chứ để người ta xây cho thì còn cấu véo được chút gì? Từ chối thế lại được cái tiếng !

5-3
Đang trong những ngày đầu xuân, nhiều người đã nghĩ tới việc hè này đi nghỉ ở đâu. Trước chỉ lo nghỉ ở trong nước. Mấy năm nay, số người đi Âu châu đã đông hơn hẳn. Bà K. chị họ tôi cũng ở trong số đó. Bà đi từ năm ngoái kia. Nhưng đáng ngạc nhiên là câu chuyện bà kể sau chuyến đi:
— Nói ra thì không ai tin, nhưng quả thật vừa sang đã chỉ muốn về. Con cái nó toàn mải đi làm, chứ có phải lúc nào nó cũng dẫn mình đi chơi được đâu. Mà có đi chơi cũng chán, cái gì cũng lạ. Tiếng tăm không biết, chả còn thấy cái gì là hay. Giá kể ở nhà xem Ti – vi có khi còn kỹ càng hơn. Chú không biết chứ, nghe tin tôi được về trước mấy tuần, bà M. cùng đi khóc thút thít: Bao giờ tôi mới được về?
Nghe nói nhiều cô cậu con nhà giàu được cha mẹ cho đi du học sang ít lâu lại trốn về. Thì ra ở đấy phải học cẩn thận chứ không dùng tiền mua bằng kiếm điểm được. Lại không được tự do chơi bời. Thế thì về có phải sướng hơn không? Với các cô cậu ấy, nước mình mới thực là thiên đường !

R Mình rút ruột mình

7-3
Mấy ngày nay dân tình xôn xao lên vì cái tin ở công trường xây dựng nhà tái định cư Kim Giang – Hạ Đình, cơ quan chức năng bắt quả tang nhiều cột thép bị rút ruột, số lượng thép ở phía dưới của cọc bị ăn bớt lên tới 50%.
Ai đó hạ một câu xanh rờn: kiểu ăn cắp này thì ai chẳng biết, bây giờ mới bắt được tức là quá muộn !
Tuy nhiên có điều cần nói là những người ăn cắp này đã chuẩn bị rất cẩn thận. Tức là họ mua cả nhân viên kiểm tra. Chính lúc bị bắt quả tang thì nhân viên kiểm tra cũng ở đấy. Thứ nữa, họ tính toán rất chu đáo, chống đỡ trước thế nào đó, đến mức, nếu thi công trót lọt thì sau này dùng siêu âm kiểm tra cũng không phát hiện ra.
Lại nhớ hôm nọ đọc một cuốn sách mới, trong đó Hà Minh Đức ghi lại một buổi trò chuyện với Tô Hoài, tác giả Dế mèn phiêu lưu ký có nhận xét là ngày xưa với ngày nay con người đều đến là lắm thói xấu, chỉ có chỗ khác: Con người ngày nay giỏi che giấu hơn.

8-3
Thử nghĩ tiếp về các thói xấu. Ví dụ ngày xưa, bọn tôi đi học, cũng có cóp bài song đó là do bí quá. “ đói ăn vụng túng làm càn “, làm liều một lần xong xấu hổ mãi. Còn như ngày nay, nhiều học sinh chủ trương thi là cóp,là giở sách, nên có sự chuẩn bị kỹ càng, có những đợt thi xong, phao vứt lại trắng cả sân trường.
Rồi những thày giáo “ mớm “ bài cho học trò ngay trong phòng thi ; rồi người kiểm lâm vốn sinh ra để bảo vệ rừng lại tiếp tay cho bọn ăn cắp ăn cướp làm thịt rừng — những kỳ tích lạ lùng như thế thì ngày xưa không ai hình dung ra nổi.
Bất ngờ đọc lại sách Luận ngữ thấy một câu rất hay trong thiên Dương hoá: “Có ba tật, xưa nay vẫn thấy nhưng mỗi thời mỗi khác. Xưa ngông nghênh là để chỉ không câu nệ, nay ngông nghênh là phóng đãng hư hỏng. Xưa trang nghiêm đồng nghĩa với liêm chính, nay chỉ thấy người trang nghiêm bộc lộ qua sự giận dữ. Người thất học ngày xưa thường thẳng thắn, thất học đời nay lại xoay ra dối trá. “
(Nguyên văn tiếng Hán tôi mạo muội diễn nôm lại cho dễ đọc, sau khi tham khảo các bản dịch Luận ngữ đang có, cả bản Nguyễn Hiến Lê lẫn bản Nguyễn Đức Lân. )

11-3
Tháng trước nghe tin có dịch muỗi ở quận Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh. Nhiều nhà ăn cơm cũng phải mắc màn, hàng quán buổi tối vắng tanh vì không ai muốn ngồi cho muỗi ăn thịt. Nguyên nhân đâu như chỉ vì người ta cho xây một con đê để ngăn triều cường. Nước biển không vào nhưng nước bẩn trong sông cũng không trôi ra được.
Trước đó ít lâu, VTV1 đưa tin: một làng ở Sơn Tây ven sông Hồng sụt lở. Lý do: làng trên họ khai thác cát. Nhưng nhắc nhở thì họ bảo có làm gì đâu, chỉ làm công việc như xưa nay vẫn làm.
Đây là những ví dụ sinh động cho cái câu mà các cụ vẫn bảo, đó là “ rút dây động rừng “, tức là việc người này làm, người khác chịu hậu quả.
Chuyện rút ruột ở Khu Hạ Đình Kiên Giang lúc này cũng gây ra hiệu quả “ đô mi nô “ như sau: dân nhiều người sợ khi nghĩ đến các nhà chung cư mới xây dựng. Giao dịch nhà đất đóng băng, nhà mới không ai hỏi mua. Thậm chí có người mới mua được nhà tìm cách bán lại.
Một cán bộ có trách nhiệm còn tỏ ý lo lắng xa hơn: Loại nhà bị phát hiện rút ruột là loại xây dựng dành cho dân ở những khu vực giải phóng mặt bằng “tái định cư”. Người ta đã đang ngại đi, nay chỗ tái định cư được chuẩn bị như thế, lại càng có cớ tạ sự thêm ra để không phải rời chỗ cũ.

12-3

Tiếp tục câu chuyên về những cột thép bị rút ruột. Thử vân vi nghĩ rộng ra một chút. Trong khu vực đào tạo nhân tài,lâu nay không thiếu luận án tiến sĩ hình thành theo lối xào xáo lắp ghép. Mặc dù không có chuyện ăn cắp, song tiêu chuẩn tiến sĩ bị rút ruột ; thành thử có thi cứ bảo vệ đàng hoàng theo ngạch chính quy, nhưng đám người có danh đó vẫn là những nhân tài rởm. Hoặc hàng năm bao nhiêu sinh viên ra trường không đủ trình độ tối thiểu nên không cơ quan nào dám nhận. Một người bạn tôi kể chuyện là con anh ta học đại học ngoại ngữ ra, đã đi thực tập ở nước ngoài hẳn hoi, mà đọc không nổi một cuốn sách viết bằng thứ tiếng đã học. Một bên là những những ngôi nhà có cột thép bị rút ruột sẽ không bảo đảm tuổi thọ và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Bên kia là những con người do tiêu chuẩn đào tạo bị hạ thấp, trở nên non kém ọp ẹp về mặt chuyên môn nghề nghiệp. Nào có khác nhau bao nhiêu?
Nhìn vào giao thông để thấy xã hội
15-3
Sau vụ đổ tàu E1 ở Trị Thiên Huế, nhà văn Võ Thị Hảo có bài viết khá hay trên VietnamNet. Sau khi nói rằng thắp ít nén nhang cho người bị nạn, ít nén nhang cầu bình an cho những người ngày ngày hối hả đi lại trên đường, chị nói rằng dành một nén cho con đường sắt cổ lỗ cũ kỹ. Đó là những con đường được làm thuở dân ta mới có hai mươi triệu. Ngày nay, nó chẳng khác gì những đôi chân suy dinh dưỡng buộc phải cõng trên mình bao nhiêu dục vọng ghê gớm của thời kinh tế thị trường. Tai nạn trước sau sẽ tới trên những con đường như vậy.
Võ Thị Hảo kể là có những đoạn như ở Ga Vinh, bèo tấm lăn tăn giữa những vũng nước đọng ngay trong lòng đường sắt. Giá kể lấy những tiêu chuẩn hiện đại ra mà xét, chắc còn tìm được nhiều cảnh “tang thương ngẫu lục “ tương tự. Mà giao thông công cộng ở ta là vậy, đường xá hư hỏng, phương tiện cũ kỹ, tất cả trong tình trạng quá tải. Hàng ngày phải theo đê lên cầu Chương Dương đi làm, tôi rất sợ mấy quãng rẽ, quãng nào đường cũng mấp ma mấp mô ; muốn tránh những chỗ mấp mô lượn sóng ổ gà ổ voi đó, người ta dễ làm phiền người khác và cũng gây ra tai vạ như chơi. Xa hơn là chuyện những chiếc tàu biển.Từ năm 2002, tôi đã nghe bên truyền hình đưa cái tin là nhiều cảng trên thế giới, người ta cấm tàu mình cập bến. Vì cái gọi là tàu mình đó toàn loại “ bé bé xinh xinh “, thiết bị kỹ thuật cổ lỗ, riêng chuyện giữ vệ sinh trên mặt nước đã không bảo đảm.
Lại nhớ khi được hỏi rằng tại sao đến Việt Nam, một người nước ngoài bảo đến để tìm lại những cái mà trên thế giới nay không đâu còn ( bài của Đặng Huy Giang, Văn nghệ trẻ số ra 27-2-05 ).

16-3
Nguyên nhân lật tàu E1 không có gì lạ, tốc độ lúc đó đâu đến 69 km/h, trong khi quy định chỉ được chạy 30-40 km.
Thế nhưng sau những căm giận đối với hành vi vượt quá quy định của người lái tàu, dân tình có ngay sự thông cảm: chẳng phải là lúc nào chúng ta cũng lo phấn đấu để rút giờ chạy tàu xuống thấp hơn? Đường xấu ; người đi đường cứ lao vào đường sắt như thiêu thân ; các ga điều hành kém gây mất thời gian chờ đợi ; trong khi đó thì cả xã hội đòi hỏi giảm giờ chạy tàu và cơ quan chỉ thưởng cho những con tàu về kịp thời gian mới được rút ngắn.
Hoá ra cuối cùng phải nhìn thấy nguyên nhân sâu xa của các tai nạn loại này chính là cái sự vênh váo so le giữa một bên là khả năng quá non yếu, với một bên là mong mỏi quá cao ( dù là chính đáng, song vẫn là quá cao ) của con người thời nay.
Nhớ lại văn học tiền chiến. Đọc Hai đứa trẻ của Thạch Lam, thấy cuộc sống ngày xưa sao mà chậm rải, đúng giờ đó thì có việc đó, mọi người yên tâm chấp nhận cái sự an bài như một định mệnh. Còn ngày nay, nét mặt người nào lộ rõ những tham vọng ghê gớm. Mắm môi mắm lợi mà “ guồng “. Lao về phía trước bằng tất cả sức lực sẵn có. Đã cố lại phải cố nữa. Từng người là thế mà cả xã hội cũng thế.

18-3
Năm 1998, đi du lịch bụi trên đất Trung quốc, tôi nhớ là tàu của họ lúc đó đã đạt mức trung bình 110km/h. Ngành đường sắt có lẽ là hình ảnh của sự phát triển của đất nước tỉ rưỡi dân đó: tất cả xã hội có sự kết hợp nhịp nhàng thành một guồng máy thống nhất, tốc độ cao mà vẫn cực kỳ trật tự.
Còn ở ta, cả xã hội lao ra đường mỗi người một xe, chen chúc xô đẩy, mạnh ai nấy chạy. Có điều, đầu tư vào đường sắt thì quá tốn kém, mà sự chỉ huy ( trước tiên là chỉ huy tài chính ) quy về một mối, chỉ có một ngành đứng ra quản lý chứ không phải mỗi địa phương cấu véo một tí. Một lối làm ăn manh mún không biết bao giờ mới kịp thay đổi.

19-3
Bốn ngày sau vụ đổ tàu,một phóng viên đi theo một chuyến tàu E1 kể lại đủ chuyện gian khổ trên đường để rồi bỏ nhỏ thêm một chi tiết: mỗi chuyến cả đi lẫn về, một lái tàu chỉ có thu nhập 360.000đ, và để bảo đảm sinh kế gia đình, họ thường chỉ có hy vọng kiếm thêm vào khoản thưởng tàu về đúng giờ. Thế nghĩa là gì? Là rút cục mọi chuyện lại liên quan đến đồng lương. Lương thấp nên nhiều lái xế phải tiếp tay cho bọn buôn lậu ; lương thấp nên phải gồng mình lên mà chạy, dù biết rằng nguy hiểm lúc nào cũng cận kề. Tôi nhớ đã nghe nói lâu nay nhiều lái xe tải đã rơi vào cảnh liều đó. Nay lại đến chuyện những người lái tàu hoả.
Thay đổi ư?Khó đấy !?
22-3
Truyện vừa Cha và con và…kể về một cha đạo rõ ràng là có thiện chí, nhưng làm việc gì cũng hỏng. Chủ đề của truyện là sự bất lực.
Thiên truyện ấy của Nguyễn Khải thường trở lại trong đầu óc tôi khi phải đối mặt với nhiều chuyện xảy ra hàng ngày. Chẳng hạn, từ đầu tháng 3 có tin Hà Nội chủ trương phạt thật nặng những xe chở vật liệu xây dựng rơi vãi trên đường, gây ô nhiễm bẩn thỉu. Nhưng kiểm tra 43 xe thì đã có hơn ba chục xe có sai phạm. Sau không thấy nhắc lại việc này nữa. Định phân luồng xe chạy trên đường Kim Mã, nhưng chỉ là được vài ngày rồi cũng phải bỏ: không lấy đâu ra người để lúc nào cũng đứng đấy uốn nắn mọi người. Mà làm thì chậm, vừa làm đã tắc đường.
Hàng ngày có biết bao nhiêu chuyện như thế. Cẩu thả, tuỳ tiện, bát nháo, luộm thuộm đã trở thành không thể kiểm soát. Nhưng do không uốn nắn từ đầu, nay không thay đổi nổi nữa.

23-3
Hồi đầu những năm 90, xe máy còn ít, có lúc những chiếc Honda Suzuki đã trở thành dấu hiệu của sự khá giả, nhiều bạn trẻ bảo rằng muốn đi liên hệ công tác với ai, mà cứ thũng thĩnh cái xe đạp xe không xong, nên phải sắm bằng được xe máy. Nhưng một vài năm gần đây, nhiều người đã bắt đầu cảm thấy cái xe là cả một sự phiền. Mà thành phố gồm toàn những xe máy là một thành phố lộn xộn, ô nhiễm, mà lại hung dữ,dễ gây tai nạn. Nhiều người trong đó có tôi bắt đầu có cái mơ ước “ dở hơi “ là bao giờ trút bỏ được xe máy. Nhưng rồi thấy ngay đó là một ý nghĩ không tưởng: Bao giờ mới làm lại được thành phố? Bao giờ mới có đường xá mới? Bao giờ cho các tuyến xe công cộng đáp ứng đầy đủ nhu cầu đi lại. Bao giờ ư? Lâu lắm !

25-3
Câu chuyện dịch muỗi ở mấy quận huyện thuộc TP Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục dai dẳng:
tin đưa là đến nay, muỗi chỉ bớt được độ 50% mặc dù đã sử dụng đến đủ các biện pháp mạnh là dùng hoá chất để xịt. Nhưng xịt xong chỉ đỡ độ 5 ngày, tới ngày thứ sáu muỗi lại sinh sôi nẩy nở. Mọi người đang lo mùa này đã vậy, mùa mưa sắp tới, rồi muỗi còn sinh sản đến đâu.

26-3
Khi giải thích việc phải dùng hoá chất để xịt muỗi, một quan chức y tế của TP Hồ Chí Minh giải thích “ môi trường bây giờ còn ô nhiễm hơn hoá chất “. Tôi hiểu ông muốn nói sử dụng hoá chất đúng là có hại thật,nhưng môi trường bây giờ đã hỏng nặng, cái hại của hoá chất cũng chẳng thấm thía gì.
Thế thì nghĩa là vô kế khả thi? Và “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, cái câu Kiều ấy lại thấy ứng nghiệm.
Tâm lý hưởng lạc
29-3
Cảm tưởng của một Việt Kiều là bà Thái Kim Lan vốn người Huế sống lâu nay ở Đức ( TT&VH 29-3 ):
“Mỗi khi bước chân ra đường, nhìn thấy thanh niên đông chật trong các quán cà phê ở khắp ba miền, ngay cả Huế nữa, tôi rất buồn. Hình như họ không có đủ tri thức để kiểm soát hành vi sống của mình, họ biến mình thành người nhàn rỗi ( VTN gạch dưới ). Đây là một vấn đề lớn của xã hội mà nguyên do là do chúng ta chưa tạo ra được một nền tảng xã hội thích ứng cho việc giáo dục con người một cách toàn diện.”
Quả có thế thật. Nhiều người chúng ta đang sống lờ đờ qua ngày, thế nào cũng xong. Không ai đọc sách, rỗi chỉ tán chuyện. Cơ quan hành chính mà 9 giờ còn có người chưa bắt đầu làm việc, nhưng độ 11 giờ đã chuẩn bị cơm nước buổi trưa rồi, cần tiếp ai họ khó chịu ra mặt.
Báo chí đang nói đến chuyện dùng xe công đi lễ chùa và chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh dùng xe công ; nhưng tôi tưởng còn phải lưu ý: một số làm việc đó ngay trong giờ công. Nghĩa là họ bỏ bễ bao việc.
30-3
Nhàn rỗi đi đôi với việc thèm muốn hưởng thụ. Một người Nhật kể với tôi rằng cô rất lấy làm lạ khi thấy có những người VN sang Nhật mua những cái chảo rán hàng trăm đô ; chính người Nhật thông thường cũng không dám sài sang như vậy. Hoặc một nhà buôn Nhật cũng ngạc nhiên vì dân thành phố ở VN tiến rất nhanh trong việc tiêu thụ những thiết bị trong phòng toa-lét: miễn có đồ mới, ngoài ra họ không cần mặc cả.
Lại nhớ ai đó nói rằng bây giờ nhiều người chỉ lo tiêu tiền. Bữa ăn sáng mà không hết một triệu là không yên tâm.
Còn hôm nay, báo Tuổi trẻ có phóng sự kể về những ngóc ngách ăn chơi sau 0 giờ, ở đó, tuy chai bia đã lên tới 50.000 đồng, song vào uống bia chỉ có những ông Tây, chứ khách ta thì cứ rượu tây tiền triệu mà trị. Cũng ở đó, trai gái nốc rượu bằng chai, nhảy như phồng lửa.

1-4
Trong lịch sử Việt nam, Nguyễn Công Trứ nổi tiếng như một con người hành động, nhưng cũng nổi tiếng vì hưởng lạc. Một nhà nghiên cứu là Phạm Thế Ngũ cắt nghĩa rất hay: là bởi ông luôn luôn tìm ra lý do, khiến cho lý trí ông khi thì tha thứ khi thì đồng loã. Sáng suốt mấy cũng không ngăn chặn nổi.
Hình như nhiều người chúng ta bây giờ cũng vậy, chỉ sợ không “ tranh thủ “ hưởng đi thì không bao giờ được hưởng.

3-4
Nhắc tới chuyện hưởng thụ còn mấy câu thơ của Văn Cao viết năm 1945 mà tôi hay nhớ: “Một nửa kêu than ma đói sa trường – Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc.” Cái trớ trêu của hưởng lạc ở nước mình là nó diễn ra khi còn rất nhiều người sống dưới mức nghèo khổ và trong một hoàn cảnh bao chuyện làm ăn thất bát với lại đâm xe, đổ tàu, cùng là dịch bệnh đủ loại. Bản tin thời tiết chiều nay cho biết, có tỉnh ở miền nam hơn ba trăm héc ta tôm chết vì khô nóng.
Những bao khoai tây lủng củng
4 — 4
Cụm cảng Sài Gòn — theo như một phóng sự đưa trên TV hôm 3-4 –, thực ra gồm nhiều cảng nhỏ, nếu tôi nghe không lầm thì đâu đến mấy chục cái. Nhưng toàn thứ cảng chỉ đón được tàu vài chục ngàn tấn. Và thế là xảy ra tình trạng vừa thiếu vừa thừa. Trong hoàn cảnh thế giới người ta xài toàn tàu lớn thì số cảng như thế không thừa sao được? Song lại vẫn là thiếu vì các loại tàu từ tám trăm ngàn tấn trở lên, chở hàng vào VN, thường phải đổ hàng qua cảng lớn của mấy nước bên cạnh, rồi “tăng bo” qua ta sau. Dự đoán ngành vận tải còn là thất thu, xuất nhập khẩu càng phát triển thì thất thu càng nặng.

6-4-05
Câu chuyện về các cụm cảng còn có một khía cạnh nữa: Trong cảnh ế hàng, các cảng tí xíu phải hạ giá để mời khách hàng chiếu cố, và giữa các cảng có sự tranh khách rồi lườm nguýt nhau đến khổ. Lại nhớ một nhận xét của Marx về người nông dân sản xuất nhỏ lẻ: Họ giống như những củ khoai tây cùng nằm trong một bao tải ; đúng là họ giống nhau thật nhưng giữa họ lại chẳng có liên hệ gì với nhau hết. Mạnh ai nấy sống. Đôi khi người này tưởng rằng người kia là nguyên nhân của mọi bất hạnh của mình. Và chen cạnh nhau, phá hại nhau, làm cho nhau bầm dập đau đớn mới thôi.
Có vẻ như cái nếp sống rời rạc này đang chi phối cả xã hội và nó tác oai tác quái hàng ngày. Nhiều con đường, anh giao thông vừa làm xong anh điện ra đào lên để đặt đường điện, anh nước san lấp để đặt ống nước. Hàng hoá lúc thiếu thì mua tranh bán cướp và vừa cảm thấy thừa là đua nhau bán phá giá. Mỗi bộ mỗi ngành một luật lệ riêng, người dân vào đâu lại phải lựa đấy.

9 — 4
Đọc báo nào cũng thấy nói chuyện hàng giả: trứng gà giả ; văn bằng giả ; đường dây khắc dấu giả làm hồ sơ cho sinh viên vào đại học ; vé sổ số được làm giả để trúng thưởng. 47 tấn trái cây được nhập lậu vào TP Hồ Chí Minh để sau đó dán nhã mác giả là hoa quả của phương Tây để lừa những anh thừa tiền và thích xài của lạ.
Cắt nghĩa hiện tượng khán giả Hà Nội ít đến sân vận động, một tờ báo mấy tuần trước cho biết người ta không chỉ buồn vì các cầu thủ VN đá kém mà còn vì cảm thấy họ chơi không thực, các trận đấu mất đi tính thành thực đáng lẽ phải có ( ý nói có sự bán độ móc ngoặc gì đó )
Một bài báo trong mục điện ảnh của tờ Thể thao văn hoá thì mang tựa đề: Phim Việt Nam: “Nói dối “ đã thành …” bệnh “

10 -4
Nhiều chợ ở Hà Nội xây xong, không có người đến mua bán. Trong khi đó, các chợ xanh chợ cóc vẫn mọc lên hàng ngày ở chính những chỗ không được phép có chợ. Tức là ở đây, trong trường hợp này, cái sắp đặt tổ chức đang thua cái tuỳ tiện tự phát.
tiêu tiền cũng là việc phải…học
11-4
Có hai chuyện liên quan đến các tượng đài. Cung văn hoá và hữu nghị ở trung tâm mới được đặt một bức tượng.Người ta nhắc lại câu ca Trời xanh mây trắng nắng vàng — Công nông binh trí sắp hàng tiến lên để bảo rằng nó thuộc về một tư duy nghệ thuật cổ lỗ, công thức. Vậy mà tiền chi cho bức tượng là bạc tỉ. Cũng như tượng Điện Biên mới khánh thành nhân dịp 7-5 năm ngoái, nay đã hỏng và mới được cấp thêm 4 tỉ để sửa chữa. Thế thì các nhà thầu chỉ mong có tượng hỏng ! – ai đó mỉa mai. Một người khác đặt câu hỏi: hình như chúng ta không làm nghệ thuật mà chỉ cần tiêu tiền.
12 -4
Hàng trăm tỉ đã được tiêu phí, đó là con số liên quan đến sự thất bại của chương trình trồng cà phê ở nhiều tỉnh Bắc bộ từ Thanh Hoá cho đến Tuyên Quang Lạng Sơn. Nhìn trên tivi, cảnh nông dân chặt nốt mấy hàng cây oặt oẹo mà xót xa. Nghe nói nhiều tỉnh chậm triển khai chương trình này hoá ra mừng. Vì đỡ mang tiền đổ xuống sông xuống bể.
Lại nhớ những chuyện mấy chục năm trước: sau Cải cách, nhiều gia đình nông dân được chia quả thực, ruộng đất có mà nhà cửa cũng có. Nhưng bên cạnh một số người biết làm ăn, cũng có người cấy hái cẩu thả mùa màng thất bát rồi lại để ruộng hoang hoá ; còn cái sân gạch đang nguyên vẹn sau khi chia năm xẻ bẩy thì mỗi người phá một kiểu, chẳng còn thể thống gì.
Hoá ra kiếm tiền là khó, tiêu tiền lại khó hơn. Làm cho những của cải trong tay mình sinh lợi là chuyện thiên nan vạn nan, mà nếu không biết tiêu thì đồng tiền nó còn tác oai tác quái làm hỏng con người nữa kia. Như nhà có đám con đói, vay được ít gạo, không biết nấu, cơm thiu cơm hỏng ăn vào ốm thêm, rồi anh em tranh giành nhau, đánh nhau thêm tội.

15-4

Hà Nội đang có một dự án mà trọng tâm là dạy cho người dân những kỹ năng cơ bản để đi bộ trên đường. Thì ra cái việc tưởng ai cũng biết này, nhiều người lại đang biết sai biết nhầm, mà cứ yên chí rằng mình đúng. Thả nào mà dự án phải do cơ quan hợp tác với nước ngoài của Nhật Bản phối hợp với Sở giao thông công chính tổ chức và đang thí nghiệm đưa kiến thức đến một số tổ dân phố để phổ biến.
Tương tự, không phải cứ đẻ ở nông thôn là đã biết làm ruộng, có chút dấn vốn là biết buôn, có thuốc là biết dùng… Cái gì ta cũng phải học lại.

16-4
Một trong những tin đáng chú ý được in trên Nông thôn ngày nay trong tuần là tin: Việc dạy nghề cho nông dân đang trong tình trạng tuỳ nghi, trên cấp tiền cho tỉnh, tỉnh chia cho huyện xã, trên dưới làm ào ào, cùng lo phát tán cho hết kinh phí 30 tỉ, còn kết quả lôm côm chẳng đâu vào đâu.
Lại cũng là chuyện tiêu tiền không dễ.

Tương tự như… quấn lốp xe

18-4
Lâu lắm đồng bằng sông Hồng mới có một mùa xuân lê thê như mùa xuân năm nay. Đến giữa tháng tư dương lịch không khí vẫn còn se lạnh. Những đợt mưa phùn rỉ rắc kéo dài. Nhưng xét trên phạm vi cả nước thì hanh khô lại quá nặng. Từ mấy tháng nay, tối tối xem TV, đến mục bản tin thời tiết, bắt đầu quen với những lời cảnh báo, cũng như các loại màu trên bản đồ, đánh dấu mức nguy hiểm rừng có thể cháy. Tức cũng chưa bao giờ mọi người dân –kể cả dân thành phố — thấy đời sống mình kề cận với rừng như thế.
Nhưng mà cảnh báo thế nào thì rồi cũng chẳng thoát. Tây Bắc có cháy, Tây Nguyên có cháy, cháy ở rừng chàm Nam Bộ, cháy ở rừng đầu nguồn miền Trung … Đã buồn vì rừng bị cháy lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy. Ngao ngán nhất là một lần xem TV thấy cái cảnh cháy ở Kong – tum, mấy ông bảo vệ chỉ có cành cây bẻ vội để xông vào với lửa. Thế thì còn kiềm với chế gì nữa !

20-4
Không bùng phát mạnh mẽ như cháy rừng nhưng lại âm ỉ kéo dài,đó là việc giá cả leo thang. Đến gói xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách kiềm chế giá cả xem ra cũng chẳng khác gì bẻ cây dập lửa. Theo bài ghi in trên báo Tiếng nói Việt Nam 29-3, tại một hội thảo, một nhà nghiên cứu tài chính khái quát đại khái chúng ta chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, đến đâu hay đến đấy, chứ chưa tính được xa hơn. Rồi chỉ toàn thấy những cam kết duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các công cụ vĩ mô quan trọng thì hoạt động rất kém.

21-4
Hồi chiến tranh phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Khi lốp xe quá hỏng, nhiều người phải dùng tới lối dùng những sợi dây cao – su quấn chung quanh lốp ; xe đi trên đường phẳng mà giật như trên đường mấp mô, cố nhiên là tốc độ rất chậm. Nhưng thôi thì có những chiếc lốp đã hết thời kỳ sử dụng còn hơn không, quấn vào mà đi, người ta tự nhủ.
Sau khi bảo việc kiềm chế giá cả như vá lỗ thủng, ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn ví cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay với kiểu “ quấn lốp xe “ mà bây giờ chỉ những người tuổi từ 60 trở lên may ra mới nhớ.

23-4
Tiếp tục câu chuyện cháy rừng. Một xã của huyện Tương Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ quá chậm. Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện. Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc –ta rừng bị mất đứt. Cụ già có lỗi ngồi hối hận. Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.

R Văn hoá ngày hội

26-4
Chung quanh Bờ Hồ thấy dựng lên nhiều quán nhỏ. Vậy là sắp đến ngày Hội du lịch của thành phố. So với hồi trước thì những quán này được dựng tạo công phu hơn. Mừng cho sự phát triển của đầu óc kinh doanh của người Hà Nội, nhưng tôi vẫn hơi buồn: Không có cách nào làm khác ư? Thế thì còn gì là Hồ Gươm nữa, dù là chỉ trong mấy ngày?!
Chính báo chí gần đây viết về du lịch cũng bật mí: các tua du lịch có nghề thường khuyên khách nước ngoài không đi vào những ngày Hội.Vì đó là thời gian lộn xộn không xem được gì. Sự dự đoán của họ không thừa.
Nghe nói là đi du lịch Trung quốc kỳ này cũng chán. Họ cho khách dừng lại ở chỗ mua bán nhiều hơn là các danh lam thắng cảnh.

28-4
Trên báo Phong Hoá số ra 14-9-34, Thạch Lam kể lại cuộc diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm về Thơ mới ở Hội Khai trí tiến đức với một nhận xét tổng quát “ người ta đến như một cuộc vui chơi “ “ không ai nghe rõ được cái gì “. Thậm chí, cô Kiêm ( diễn giả ) muốn nghe lời mình cũng không được. Vì “ đám đông quá ồn, bắt nguồn từ một óc xếp đặt quá thiếu thốn “. Và Thạch Lam, người nổi tiếng có một tình yêu sâu xa với sự yên lặng, nhận xét khái quát: “Mà nói cho đúng nữa, người mình không bao giờ có biết cách xếp đặt một buổi hội họp cho được hoàn toàn. Hễ đâu đông người là hỗn độn ồn ào rầm cả lên. “
Lại nhớ hồi có Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, tổng thống Pháp trong lời trò chuyện với nhân dân thủ đô không quên ngỏ lời xin lỗi là đã khiến cho một thành phố nổi tiếng là yên tĩnh như Hà Nội bị ồn mất ít ngày. Chung quanh sự yên lặng, người ta là khách mà trân trọng quá, còn mình là chủ lại không thấy quý.
Chả lẽ cứ hội hè, thì nhất thiết phải ồn ĩ, như đã xây dựng thì nhất thiết phải bụi bậm, độ ô nhiễm lên tới năm mười lần mức được phép?

1-5
Năm nay ít mưa, nước sông Hồng xuống đến mức thấp nhất với nhiều năm. Đã sang hè mà mỗi lần qua sông, tôi để ý vẫn thấy mép nước dầy lên một lớp rác mỏng bao gồm túi ny lông và đủ loại rác rưởi mọi người vứt từ hồi Tết, nay chưa tiêu hết.
Sau những ngày Hội, cái đáng sợ nhất là rác.Và rác ở ta thì bền lắm, nhiều khi chỉ đổi màu, hoặc từ chỗ này chạy sang chỗ khác.
VTV1 hôm nay đưa tin ở London, để cảnh báo về ô nhiễm môi trường, người ta vừa dựng nên một bức tượng làm từ các loại rác thải điện tử. Hai mắt là hai cái ti-vi hỏng. Bụng làm bằng mấy cái máy giặt …
Còn ở mình giá làm một bức tượng tương tự, tôi nghĩ vật liệu nên dùng chắc chắn là túi ny lông. Nó vừa nhiều vừa đủ loại đa dạng, và nhất là khả năng làm hỏng đất thì … vô địch.

R mưa to gió lớn
4-5
Mưa lớn ở Hà Nội. Nhiều phố đường ngập tới bánh xe. Báo chí lại đầy các loại ảnh phố lụt trong đó có ảnh người xe đạp vác xe, với lại cảnh những người chữa xe máy túc trực bên đường. Giá sấy khô bu-di cho một xe máy đâu từ 5.000 đến 10.000.
Thời tiết bây giờ lạ lắm. Lại nhớ có lần đọc một bài viết về môi trường, người ta tổng kết kết nay là lúc có nhiều hiện tượng kỳ dị xuất hiện. Xưa mưa đá chỉ có ở trung du và miền núi, nay thì cả đồng bằng cũng thấy có mưa đá. Mưa ẩm rất thích hợp cho sâu bệnh. Bảo Lộc một thị xã ở Lâm Đồng bị sâu róm tấn công, sâu đầy trong các vườn cây, sâu có mặt hai bên lề đường,sâu lan đến cả trường học nhà máy. Người dân suốt ngày lo gãi ; chắc phải một hai tuần mới hết.

5-5
Riêng trận mưa chiều 3-5, Hà Nội đã có 31 cây bị đổ, có cây ngả xuống đè bẹp dí cả một tắc xi đang đỗ ven đường, may mà người không ai việc gì. Xưa người ta hay bảo là cây xà cừ rễ ăn nông không hợp với khi hậu Xứ ta. Sau hỏi ra mới biết căn bản là khi đánh cây từ vườn ươm ra, công nhân nhà mình không chịu đào sâu, nên rễ bị cắt ngang, thành ra xà cừ bị mang tiếng vậy, chứ ở bên châu Phi, nó có sao đâu.
( Tháng tư tháng năm là mùa xà cừ thay lá. Tôi nhớ hồi nhỏ, ở Thuỵ Khuê thường dạy sớm từ ba bốn giờ theo người lớn ra mấy con đường lớn như đường Hùng Vương, Cột Cờ … quét lá về lấy cái đun. Lá xà cừ lửa chắc đậm, đun rất thích. )

7-5
Báo chí đưa tin số tiền chi cho dự án thoát nước Hà Nội mấy năm nay lên tới 200 triệu đô – la lấy từ nguồn vốn vay nước ngoài và thực hiện trong tám năm. 200 triệu đô đây tương đương với 3.000 tỉ tiền mình,ấy vậy mà có thể nước ngập vẫn hoàn nước ngập. ( Theo báo chí nước ngoài, công quỹ mà Mỹ chi cho I-rắc, bị lạc đâu mất 100 triệu đô, người ta đã phải lập uỷ ban điều tra ).

8-5
Nhân ngày kỷ niệm 30-4, một tờ báo đăng ý kiến của các nhà hinh tế, dự đoán 30 năm nữa, chúng ta sẽ thành một quốc gia phát triển, sẽ có đội nghũ doanh nghiệp lớn mạnh, ngang tầm nước ngoài. Nghe mà mừng và muốn tin lắm, nhưng chỉ cần nghĩ đến những tin tức dội đến hàng ngày, lại thấy e ngại. Đuổi kịp Thái Lan bây giờ đã là không tưởng, chứ nói chi đến các nước công nghiệp khác. Vì ý chí thì dân ta luôn luôn có thừa, nhưng còn phải xét thực lực ra sao nữa chứ. Đám văn nghệ sĩ bọn tôi đã có nhiều kinh nghiệm về phỏng đoán tương lai. Ví dụ năm 1970, Xuân Quỳnh có bài viết một bài thơ khá hay trong đó có cái ý dự đoán đến năm 2000, đất nước sẽ giàu có sạch đẹp, đến con ruồi cũng không còn, trẻ con chỉ biết đến con ruồi trong sách báo. Thật là ảo tưởng ! Sau bài thơ Viết cho ba mươi năm sau ấy, tự tác giả phải đổi tên và mang một cái tên khác hẳn: Những năm ấy …

Bắt đầu biết sợ
10-5
Ngay ở Nam Bộ, nhiều gia đình ở các thành phố và thị xã chuyển sang ăn gạo Thái gạo Đài Loan, đơn giản là vì so với gạo nội, vừa rẻ hơn vừa ngon hơn. Chín trong mười giống lúa ở đồng bằng Sông Hồng là giống của nước ngoài. Một số bệnh viện đang có phong trào đưa thuốc nội trở lại với bệnh nhân… Hàng ngày có bao nhiêu tin mới nghe thấy bình thường, song nghĩ kỹ cứ thấy rờn rợn như vậy. Theo thuật ngữ của khoa môi trường, nó là những sự cố trường diễn, khi xảy ra chỉ âm ỉ không đáng để ý, nhưng hiệu quả thật khôn lường.
Còn đây là tin về nuôi tôm. Một anh bạn khoe vui: bữa ăn chiều qua của gia đình có thêm cả một đĩa tôm loại to, loại tôm lâu nay chỉ được ăn trong các bữa tiệc. Con trai anh giải thích hình như tôm xuất không được, đang bán với giá rẻ. Cân tôm cũng chỉ bốn chục ngàn, bằng cân thịt. Không biết tình hình đã thành phổ biến chưa, nhưng cái chuyện dân nuôi tôm đang lao đao thì là cái chắc. Qua rồi cái thời làm ăn ào ào. Sự cảnh báo từ nhiều năm trước về các bãi tha ma tôm bắt đầu ứng nghiệm.

12-5
Lâu nay giới bóng đá chỉ nổi tiếng với những chuyện đá bậy với lại móc ngoặc, dàn xếp tỉ số, — không ngờ gần đây lại nổi lên với chuyện khủng hoảng tổ chức. Tức là đại hội của ngành sắp tới nơi rồi, mà mời mãi không ai nhận làm chủ tịch cho. Chẳng là xưa nay nhiều người vẫn sẵn sàng nhảy ra làm những công việc mà họ chẳng hiểu gì cả ( như là trong ngành của tôi, Hội văn nghệ ở các tỉnh chẳng hạn ). Nay bóng đá thời thị trường chua xương quá, làm ăn sát phạt, chẳng ai muốn giơ đầu chịu báng. Thế chẳng phải: ăn cỗ đi trước lội nước đi sau là gì? Dẫu sao, việc có nhiều người từ chối cũng chứng tỏ là các đương sự bắt đầu có suy nghĩ nghiêm chỉnh về công việc.

13-5
Cùng lúc thấy nhiều người gặp nhau ở đề nghị: Quốc hội nên thận trọng khi thông qua Luật giáo dục. Thì ra những mặc dầu tình hình đã quá bê bối, nhưng biện pháp giải quyết cho chuẩn xác thì chưa có. Ràng buộc nhau vào những điều luật không hợp lý có khi lại gây ra những thất thiệt mới. Nếu chưa chuẩn bị kỹ thì đừng làm.
Cũng lại là một tiếng “ không “ cần thiết.

15-5
Việc gì cũng vậy, cái mà ở ta bao nhiêu lâu nay mọi người sợ nhất, đó là mang tiếng phân vân, dao động, sợ hãi không dám hành động, với lại nhút nhát bàn lùi ( có lẽ thực tế chiến tranh nhiều năm đã đẻ ra kiểu tâm lý “ chỉ biết tiến lên “ đó ). Nay trong nhiều lĩnh vực, người ta bắt đầu biết sợ. Xã hội bao giờ cũng vận động theo những quy luật nội tại. Mà đó lại là cái thứ ta ít kinh nghiệm. Nên phải bàn và nhất là phải lo học hỏi. Biết làm thì cái sự dám làm mới mang lại hiệu quả. Không phải cứ liều là được.

Đi tìm những lối thoát
16-5
Đương tự nhiên có động rồ ai đó mới mở miệng cầu xin trời lụt ! Thế mà người dân phường Khuê Mỹ quận Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng đang bảo nhau cầu lụt như vậy, lý do chỉ bởi hàng ngày, cuộc sống của họ bị hàng ngàn hàng vạn con ruồi bao vây, ruồi len vào mọi chỗ, đâu cũng vướng ruồi, ruồi không cho người ta ăn không cho người ta uống. Sở dĩ ruồi như ong vỡ tổ tràn vào mọi nhà vì cánh đồng gần đấy dùng phân chim cút bón rau sạch, và người dân nghĩ rằng không còn cách nào thoát khỏi ruồi trừ phi bây giờ xảy ra một trận lụt, trôi hết phân chim cút trên cánh đồng rau sạch gần đấy.

18-5
Mùa hè năm ngoái 2004, có dịp nghỉ ở Sầm Sơn, tôi đã được nghe một cậu xích lô giải thích về tình trạng đường xá ngổn ngang ổ gà khấp khểnh: “Có gì lạ hả bác, ban ngày giao thông vừa đổ cát sỏi ra đường, thì đêm dân họ ra họ hót về xây nhà xây sân, đâu mà còn vật liệu làm đường “. Và đây, một vài tin khác mới xảy ra hôm nay. Đó là việc một cây cầu mới xây ở Hải Phòng bị bà con mình tháo nậy cả ốc vít, bù loong. Hoặc đó là tình cảnh mấy huyện miền núi Cao Bằng dân xông vào các mỏ thiếc măng gan khai thác theo lối thổ phỉ bán cho mấy xí nghiệp khai thác khoáng sản đang ngắc ngoải, sau đó một số được xuất lậu qua biên giới. Vài cái lều như lều vịt được dựng lên. Rồi từng bao tải con con được buộc sau xe đạp và chuyền tay từ xe nọ sang xe kia.Trên nền núi non trùng điệp, con người sao mà bé nhỏ thảm hại !

20-5
Không cần cường điệu làm gì, từ ý nghĩ ngồ ngộ là mong có một trận lụt cho đến những việc ăn cắp ăn cướp lặt vặt nhưng liều lĩnh và rõ ràng là mang tính chất thách thức cả pháp luật như vừa nói trên, chẳng qua là những phản ứng tự phát của người dân. Đói ăn vụng túng làm càn, các cụ xưa nay đã mặc nhiên công nhận. Thế nhưng tôi vẫn cảm thấy hình như nay là lúc ở nhiều người, mọi ràng buộc kiềm chế không còn, “ như trâu đứt mũi “, rồi còn đi xa đến đâu ai mà biết được.

21-5
Bên phương Tây, từ lâu, các nhà triết học đã nói rằng khi con người cảm thấy Chúa đã chết thì người ta sẽ rơi vào hư vô và cảm thấy mình có quyền làm bất cứ việc gì.
Gần gụi hơn là quan niệm xử thế của phương Đông. Trong một cuốn sách ghi lại những câu châm ngôn nổi tiếng của các nhà nho ( Nho gia châm ngôn lục ), tôi mới nhặt được một câu đại ý muốn đánh giá một người không chỉ căn cứ vào việc xem lúc giàu có, người đó thường bố thí cho những người khác thế nào mà còn xem “ lúc cùng khốn người đó thường từ chối không làm những việc gì “.
Chuyện tưởng như đâu đâu, nhưng xem ra đến lúc áp dụng ngay cho dân mình …cũng được.

Vi phạm chuẩn mực
31-5
Hiện tượng vi phạm chuẩn mực tràn lan xuất hiện. Trong sản xuất. Trong giao thông. Trong giáo dục. Trong thi tuyển nhân viên. Trong hạch toán công trình. Trong cấp phép bằng lái xe. Và đây nữa cả trong việc làm đẹp cho con người. Tháng trước có tin một người chết vì đi mỹ viện sau khi đã nộp tiền triệu cho chủ cửa hàng. ở thành phố Hà Nội, thanh tra y tế cho biết đâu chỉ có 10 trung tâm thẩm mỹ đạt tiêu chuẩn, còn thì toàn lang băm làm liều. Vậy mà tính ra, có tới 200 trung tâm đang hoạt động

 

2-6
Mấy ngày hôm nay, bị ám ảnh bởi tin những bức tường ở công viên Hoàng Quốc Việt ở Bắc Ninh chỉ tồn tại đâu có một tiếng đồng hồ sau khi khai mạc rồi…. sụp. Nghe như chuyện hoang đường. Tính ra đây chắc chắn thuộc loại kỷ lục “ ghi – nét “ của quê mình ! Và có lẽ là kỷ lục của thế giới nữa !
Nhìn trên ti – vi, cảnh người ta có thể nhấc lên từng viên gạch từ bức tường dở — vì có xi măng đâu mà kết với chả dính – tôi nhớ tới bao vụ làm ăn vô trách nhiệm khác mà đã nao lòng. Thế nhưng đến lúc nghe người có lỗi trong việc này giải thích rằng vì yêu quê hương quá, nên muốn làm thật nhanh cho kịp khánh thành, thì tự nhiên thấy đắng ngắt cả miệng. Gian dối và khinh thường dư luận đến thế là cùng ! Lúc hoang mang nhất, trong tôi vụt ra cái câu hỏi bi quan “ chúng ta có còn là người nữa không? “, để rồi lại phải cố gạt nó khỏi tâm trí.

4-6
Từ xưa người ta đã hay nói rằng khi chất người xuống thấp hẳn chất thú phát triển. Gần đây nhiều người nghĩ lại: không nói vậy được, chính loài thú lại rất trung thực, rất có tình. Tôi cũng thấy thế và chưa biết dùng từ gì. Cho tới hôm qua, đọc được một cách diễn tả mới của một nhà tư tưởng hiện đại. Ông này cho rằng hiện đang phát triển một thứ phẩm chất “ ở bên kia của con người “. Tức là nếu con người nói chung ở về phía này, phát triển theo hướng này, thì họ ( loại người “hiện đại” làm liều nghĩ liều ) ở phía bên kia và cứ ngược mãi về phía bên kia.
ồ, nghe có vẻ có lý lắm !

5-6
Nghe nói đến việc trẻ em dưới sáu tuổi được phát phiếu khám chữa bệnh miễn phí hẳn ai cũng mừng. Nhưng lạ một cái là ngay ở một phường thuộc trung tâm Hà Nội, cũng chẳng thấy ai đến khám, trong khi đó người ta vẫn đổ đến Bệnh viện Nhi TW để khám mất tiền. Thì ra cái mà người ta sợ nhất là cũng gọi là khám với xét đấy, nhưng chả đâu vào đâu có khi rồi trẻ ốm thêm. Thế thì thà đi đến chỗ mất tiền còn hơn.
Suy đến cùng, cũng lại chuyện vi phạm chuẩn mực, chỉ có điều ở đây nó dẫn tới việc xói mòn lòng tin. Gay thế đấy !

Vứt tiền qua cửa sổ !

6-6
Cháy nhà ra mặt chuột. Chính ngay trong đợt nắng nóng khô hạn, thành phố mất điện, nhiều người mới chợt nhận ra lâu nay chúng ta lãng phí kinh khủng. Phòng làm việc các cơ quan, không có người quạt vẫn là quay vù vù. Điện thắp giữa ban ngày. Mùa rét dùng điện để làm khô quần áo. Mùa hè điều hoà phải mở thật mát mới sướng.

8-6
Trong các đề mục Quốc hội thảo luận kỳ này có vấn đề lãng phí. Một đại biểu, giáo sư tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Trân trả lời báo chí: lãng phí bắt nguồn một phần từ sự vô trách nhiệm ; từ sự dốt nát ; chính chế độ bao cấp là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng lãng phí. Rồi cả chuyện chế độ lương không hợp lý nữa chứ, cách trả lương khiến người ta chẳng có gì phải xót xa, có phải của mình đâu mà xót, tội gì không phá. Lại như tệ hội họp lu bù cũng không phải không có liên hệ với cách tiêu tiền văng mạng. Bởi chi cho họp là vô tội vạ, nên nhiều người thích họp để kiếm phong bì, và cấp trên cũng thích triệu tập họp để vỗ béo cấp dưới.
Tôi muốn bổ sung: không nói đâu xa nhìn lại mình và gia đình mình, nhiều người cũng thấy tệ lãng phí đang hoành hành. Như là ai khác đang sống và tiêu pha vô tội vạ, chứ không phải chúng ta, những người vừa trải qua một cuộc chiến tranh khốc liệt, cân muối bao diêm cũng phải mua theo tem phiếu. Nói cho to tát ra, phải chăng đó là căn bệnh thời đại: chúng ta mải miết với những công việc to lớn quá đến mức quên cả cách sống của một người bình thường. Trong một truyện ngắn của Nguyễn Kiên tôi nhớ chi tiết có một ông già hạt tiện quá, đến mức tới nơi họp hành không dám đi đái, chờ trở về nhà mới xả vào thùng gio để có phân bón ruộng. Hồi trước chiến tranh, chỉ lướt qua không để ý, nay nghĩ lại mới thấy lạ. Loại người hạt tiện như vậy bây giờ đã tuyệt chủng.

9-6
Nhà nào có ô-sin đều kêu giời về tình trạng bọn ô -sin phá của không tiếc tiền. Có người bảo “Chúng có vất vả làm ra đâu mà biết tiếc “. Người khác bổ sung: “ Sống ở nhà mình thì vậy, chứ về quê, chúng lại hạt tiện ngay “. Người khác cãi: “ Lâu thành thói quen, rồi đến lúc làm chủ gia đình, chúng cũng thói nào tật ấy. Cứ bảo người nghèo hạt tiện, hoá ra không phải. Chính nhiều khi vì nghèo quá, biết có tiết kiệm bao nhiêu cũng vô ích, người ta quay ra sống theo kiểu vén tay áo sô đốt nhà táng giấy“

10-6
Có tin ở Cần Thơ, một cổng chào thi công trị giá 1,3 tỉ, từ giờ đến cuối 2005 sẽ xong. Rồi sang năm sẽ phá đi. Vì đã có kế hoạch lập một cảng sông gì đó ở đấy. Hàng ngày có khá nhiều tin bâng quơ như vậy. Xót ruột mãi rồi người nghe cũng đâm trơ, chỉ còn có cách cười khẩy.

Gần giống như một xã hội

11-6
Vừa vào mùa thi cử, nhiều người đã lo tới chuyện chống gian lận. Quả nhiên đến những ngày thi, báo chí cho biết chợ phao tràn ngập hàng. Một con số hùng hồn: 400 cân giấy tức là bốn tạ phao đã được phát hiện và bắt giữ tại một khu vực ở Hà Nội có trường thi.
Nhưng cũng có những việc gợi ra suy nghĩ ở một chiều hướng khác: Cùng thi tốt nghiệp THCS, trong khi các tỉnh khác đỗ từ 90% trở lên thì Khánh Hoà đỗ có tới 60%. Không ít người thấy mừng, hoá ra cũng còn những nơi trung thực ( dù là trung thực bất đắc dĩ ! ).Tôi cho rằng Sở giáo dục địa phương phải được biểu dương khen thưởng vì giúp người dân lấy lại niềm tin ở ngành giáo dục.

13-6
Chưa bao giờ những cuộc họp Quốc hội được dân chúng quan tâm nhiều như lúc này. Những buổi chất vấn không mấy dễ chịu. Tình trạng chưa thoả mãn với câu trả lời của Bộ trưởng này Bộ trưởng kia. Đề nghị sớm muộn phải tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm với các thành viên của chính phủ. Cả Quốc hội và Chính phủ đều nhận lỗi trước nhân dân … Những chuyện bấy lâu chúng ta chỉ nghe thấy ở nước ngoài, nay cũng là chuyện của nước ta.
Liên hệ tới một cách nói trong bóng đá. Còn nhớ đầu mùa giải 2003 – 2004, khi Arsenal là một đội bóng thuộc tốp dẫn đầu giải ngoại hạng bóng đá Anh đạt tới “điểm chín “ của phong độ, Thiere Henry, một cầu thủ tự nhận: “Chúng tôi đang gần giống như một đội bóng “. ý cầu thủ này muốn nói: không phải cứ tập hợp 11 cầu thủ ra sân là đã có một tập thể nhất trí. Mà phải có sự tổ chức như thế nào đó, rồi người ta mới có một đội bóng với nghĩa đích thực của chữ ấy.
Theo cách này mà nói, thì xã hội chúng ta cũng đang vận động để trở nên gần giống như một xã hội đích thực.

14-6
Một người Mỹ, bà M. Ratner ( sang Việt nam với tư cách khách mời của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ) nói rằng một cuốn tiểu thuyết như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ( bản tiếng Việt thường gọi là Thân phận của tình yêu ) đã bắc một nhịp cầu thông cảm giữa cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Mỹ.
Tại sao như vậy? Theo tôi, cái chính là trong cuốn sách ấy người ta thấy một cuộc chiến tranh và những người lính giống như ở các cuộc chiến tranh khác. Và chúng ta chả có gì khác so với thế giới.

15-6
Đọc báo, nhất là các báo điện tử (là nơi “đất” viết còn mở ra rất rộng ) thời gian gần đây, tôi thường tìm tới những cuộc trao đổi tập thể: báo này trao đổi về túi ny lông, báo khác yêu cầu bạn đọc phát biểu về quà biếu ( nhận quà biếu trên 500 ngàn phải khai báo ) ; thường xuyên hơn là các ý kiến về tình hình trong giáo dục… Sẽ là quá bốc đồng nếu bảo rằng ở đó có những ý kiến sâu sắc nhưng đọc báo, vẫn thấy thú vị: hoá ra đóng góp vào các vấn đề xã hội là nhu cầu của mỗi người bình thường, chỉ cần có nơi phát biểu là người ta sẽ nói.

Dẫu sao cũng phải sống !

20-6
Thời sự ở mọi cơ quan vào những ngày này là chuyện đi nghỉ. Nghe nói ngành du lịch đã lên kế hoạch để quanh năm có lễ hội. Nghỉ ngơi đi với tham quan, học hỏi, trở về cội nguồn,– tuyệt quá còn gì? Nhưng … ( lại chữ nhưng ): đêm khai mạc lễ hội tỉnh nào cũng giống hệt nhau. Dài dòng lê thê, nặng về khoe thành tích của người đương nắm quyền. Khách sạn bóp khách.Việc tổ chức luộm thuộm đến mức nhiều công ti du lịch phải khuyên khách nước ngoài nên tránh lễ hội. Rút cục chỉ có người mình với nhau.
Vậy mà đã quá tải: có thời điểm ở di tích Phong Nha hàng ngàn du khách mắc cứng trên đường ngoài không vào được, còn bên trong, hàng trăm người không ra được.
Song không ai dám bỏ. Năm ngoái đi về mệt mỏi, định bụng cạch đến già, nhưng năm nay lại đi. Chán nơi mình ở thì đi du lịch, để rồi du lịch chán quá lại thấy thêm yêu cái nơi mình ở, tình cảm con người cũng thường tít mù vòng quanh theo kiểu đèn cù như… mọi chuyện khác !

22-6
Mấy năm nay hàng ngày có việc phải đạp xe qua cầu Long Biên, tôi nghĩ phát sợ cho lối làm ăn của dân mình: ngay giữa thủ đô mà còn làm ăn cổ lỗ như thời 1945 về trước. Hì hục cuốc đường lên rồi đổ xuống một lớp nhựa mỏng quẹt. Xe đi dăm bữa nửa tháng, mặt cầu đã biến dạng, chỗ này ổ gà, chỗ kia vũng nước. Đến lúc ấy lại đun những thùng nhựa khét mù để vá víu, thật chẳng khác người xưa vá những chiếc váy đụp.
Một hai năm lại dỡ ra làm lại. Trong khi đó thì lúc nào cũng thấy nói đã có kế hoạch sử chữa cầu thế này, kế hoạch vay vốn nước ngoài thế kia. Lúc nào cũng như đang làm mà ngoảnh lại thấy hình như không làm gì cả.

24-6
Chị Phương bạn tôi đến chơi kể chuyện: Nhà nào có người ốm bây giờ mới thấy khủng khiếp. Nhất là trẻ ốm. Vào Viện nhi, ngạt ngàn là người. Không đủ chỗ khám, phải kê thêm mấy dãy bàn ra sân để bác sĩ. Mồ hôi người nồng nặc đến mức cái khăn mang đi từ nhà, lấy ra lau mặt đã nhiễm ngay mùi viện. Người đi trông bệnh nhân cũng phải khoẻ lắm mới khỏi ốm. Thế nhưng nhỡ ốm ra đấy, đố ai dám không đi viện bao giờ. Các viện đầy mãi người lên.

25-6
Người vợ có chồng ốm sẵn sàng móc ra đồng tiền cuối cùng để nộp các nhân viên y tế. Các bậc phụ huynh có con đi học chỉ thực thở phào yên tâm khi ngày lễ ngày tết trao tận tay thày cô cái phong bì. Ông giáo sư chuyên viết sách giáo khoa cãi bằng được những chỗ sai người ta đã chỉ ra rành rành. Bà mẹ có đứa con nghiện thúc giục ông chồng tham nhũng bằng được, nhằm cố thoả mãn nhu cầu tiêu xài mỗi ngày hàng triệu của con. Hàng ngày, không khó khăn gì lắm mỗi người chúng ta đều tìm ra ngay được những lý do chính đáng để làm bậy và “ giúp “ người khác làm bậy. Bởi lý do đơn giản nhất là: dẫu sao cũng phải sống.

khi hội nhập trở thành
công việc hàng ngày

27-6
Đường hầm Hải Vân mới khánh thành đã có chuyện. Xe cộ lộn xộn. Người ta mang nguyên cách đi lại nhênh nhang trên những con đường bình thường để vận hành trên một đoạn đường “ siêu hiện đại “. Có cả xe lam dẫn khách đi vào du lịch hồn nhiên vui vẻ như chỗ không người !
Có một chi tiết đáng nghĩ: một phần các thiết bị chỉ huy và chiếu sáng không hoạt động bình thường vì các xe của ta thường quá bẩn, mang vào rất nhiều bụi. Đã bắt đầu có tai nạn. Chuyện tưởng là bé song tôi cho rằng đây là một ví dụ về khả năng hội nhập với thế giới của ta: nhu cầu buộc ta phải làm như người ta ở các nước vẫn làm, song thói quen con người lại chưa theo kịp. Chưa hiểu nay mai còn nảy sinh những trục trặc gì?

29-6
Lâu nay ai cũng tưởng không gì ngon ăn bằng đi lao động hợp tác ở nước ngoài. Hoá ra chúng ta nhầm. Khó xơi lắm ! Báo Tuổi trẻ hôm nay đưa tin: Đại sứ Anh thông báo ngừng vô thời hạn chương trình tiếp nhận lao động thấp của VN sang Anh làm việc. Cái mà chúng ta lạc hậu không phải chỉ là ở trình độ kỹ thuật mà còn là ở cách sống, ở trình độ hiểu về đời sống và mối quan hệ giữa người với người. Và những cái đó có muốn cũng không thể học nhanh, chứ đừng nói lại còn cao ngạo không muốn, và một mực tưởng rằng cái gì của mình cũng oách lắm rồi, không việc gì phải học cả !

30-6
Bóng đá có lẽ là khu vực có tỷ lệ người nước ngoài đến làm việc cao nhất ở nước ta và sự thực là các ngoại binh đó đã có một vai trò rõ rệt, đến mức giờ đây không thể hình dung ra bóng đáng VN mà lại thiếu đi vai trò của họ. Nhưng cùng với những đóng góp cụ thể, chớ nên quên đây là một dịp để qua người mà ta hiểu mình. Chẳng hạn hồi mấy tháng trước báo chí thể thao đã nêu lại nhận xét Kiatisak là một cầu thủ Thái Lan đến đá cho đội Hoàng Anh Gia Lai “ Tôi thấy phần lớn cầu thủ của các bạn không có tính chuyên nghiệp “ ‘ Chẳng ai tự tập thêm “ ” Hầu hết đều không yêu nghề không tôn trọng nghề nghiệp “. Không ai cãi lại những nhận xét chính xác kiểu đó được. Và nếu như đã có người thấy xấu hổ, thì đấy mới thực sự là cái lãi lớn của công cuộc hội nhập ( cố nhiên không chỉ cho bóng đá ).

2-7
Thông qua Ngân hàng thế giới, các tổ chức quốc tế dự định hỗ trợ chương trình “ giáo dục cho mọi người “ ở VN 50 triệu đô la. Tiền sẽ được rót vào việc giúp đữ các học sinh nghèo ở những tỉnh xa trong đó có việc cải tạo trường sở và đổi mới điều kiện học tập.
Bây giờ nghe loại tin này thường tôi mừng thì ít mà e sợ thì nhiều. Tiền của đổ vào nghe thì thích thật, lại là phục vụ người nghèo nhân hậu quá còn gì ! Nhưng với bộ máy như hiện nay, liệu có hiệu quả hay lại “ giả lễ bà chúa mường “ làm ra vài cái dự án nửa mùa, và những cuộc cải cách phất phơ kiểu hàng mã, rồi cuối cùng chỉ béo những người trung gian.

Tâm lý Ô-sin
4-7
Tại nhiều địa phương, chính người dân xé rào để làm những việc không được pháp luật cho phép. Phá rừng. Đào than thổ phỉ. Lấn chiếm đất công. Thấy chỗ nào nhà nước cần là xoay ra ăn vạ để kiếm khoản đền bù. Lần đầu tiên ở Hà Nội xây hầm cho người đi bộ qua đường ; nhưng trong lúc chưa khánh thành thì hầm bộ hành biến thành nơi tạm trú của mấy gia đình xóm liều. Thả nào các cụ bảo Chưa họp chợ đã họp kẻ cắp.

5-7
Một câu chuyện khác lâu nay đã có nhiều báo nhắc tới. Đó là chương trình đánh bắt xa bờ ở hàng hàng loạt địa phương bị phá sản ( Nghe đâu số vốn thất thoát lên tới vài trăm tỉ?!). Chúng ta muốn làm chủ biển. Chúng ta muốn vươn ra xa. Những tưởng chỉ vì không có tiền. Hoá ra còn thiếu cả kinh nghiệm và ý chí nữa.
Nhưng không chỉ liên quan tới chủ đề bất lực, mà vụ đầu tư này lại còn đáng chú ý ở một khía cạnh khác: Nhiều ngư dân đã thừa biết là làm ăn sẽ thất bát nhưng cứ vay. Họ đã tính sẵn là đến lúc cần hoàn lại đồng vốn cho nhà nước thì đánh bài ì. Không cách gì thu hồi vốn thì kệ nhà nước, họ không cần biết.Thậm chí có người nhận tiền xong chỉ đầu tư một phần, còn chủ yếu mang tiền mua sắm tiện nghi tiêu xài qua ngày.
Đây là một câu tục ngữ mới: người làm sao tao làm vậy; người làm bậy tao cũng làm theo. Trong cái việc vay tiền để làm dự án vừa nói ở trên hình như có chuyện hùa theo nhau thực. Đại khái mọi người nghĩ nhà nước là cái thùng không đáy, ai không biết cách vơ vét người đó thiệt. Thậm chí ở một số nơi chính quyền địa phương còn gia tay giúp cho dân cách làm, để cùng lừa cấp trên và nhởn nhơ coi là thành tích của mình, thế mới là chuyện lạ !

7-7
Nếu thời chiến có câu ra ngỡ gặp anh hùng thì nay là ra ngõ gặp “ tiêu cực “, đi đâu cũng thấy nói “ tiêu cực “. Giả dụ trước khi làm đại một chuyện bậy bạ nào đó, người dân cảm thấy còn có chút phân vân, thì họ có thể viện ngay ra bao nhiêu ví dụ về những người cấp trên oai phong hơn họ nói giỏi hơn họ mà lại phá hại kỷ cương vơ vét bằng mấy họ. Muốn đứng đắn song tự trong tâm lý, người ta đã không tìm đâu ra chỗ dựa.

9-7
Nhà xuất bản Hội nhà văn cho in một cuốn sách mang tên Bến ô-sin trong đó tập hợp các bài báo kể lại những nỗi khổ mà nhiều gia đình đang phải chịu: nạn người giúp việc làm ăn tuỳ tiện rồi vơ véo nhặt nhạnh đủ kiểu. Nhưng nhà văn Lê Minh Khuê còn đi xa hơn. Trên Thể thao& văn hoá tuần trước, nhân trả lời phỏng vấn, chị bảo tâm lý ô sin đang trở thành một nét tâm lý thời đại, nó chi phối cả lối sống liều lĩnh của người dân, lẫn thói mặt dày kiếm chác của các quan chức tham nhũng. Nghe hình như cũng … hơi bị có lý đấy chứ !

Khổ vì chuyện vặt

11-7
Những cái cửa bản lề lâu ngày không tra dầu, mỗi lần mở cót ca cót két, — đấy là thứ thanh âm làm nền cho câu chuyện hàng ngày ở nhiều cơ quan. Mặc dầu đã tập cho mình không lấy cái sự cót két ấy làm khó chịu ( có ai để ý đến nó đâu, tự nhiên bộ mặt nhăn nhó của anh đâm ra lố bịch vô duyên ), tuy vậy tôi vẫn thường nhân đó nghĩ rằng hình như nay là cái thời không ai chịu làm việc vặt cả, và đó là cả một nỗi khổ riêng thời ta mới có. Cái túi xách tay còn tốt nguyên, hỏng mất cái khoá nhưng đi chữa lôi thôi lắm, âu là vứt xó cho xong. Con dao dùng lâu ngày không có người mài nên quăng đi luôn. Nhà có hỏng cái cửa hay tắc ổ khoá chỉ nghĩ đến chuyện đi gọi mấy ông thợ đã thấy ngại. Những lỗi typô trên một bản thảo thì nhiều không xuể, tới mức nhiều người chữa mo-rat đành tặc lưỡi, thôi mặc kệ nó.
Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân, tôi nhớ có lần ông gật gù nhận xét với đám lau nhau ở Hội nhà văn chúng tôi: Thời nào người ta càng hay nói chuyện lớn lao thì càng hay làm khổ nhau vì chuyện lặt vặt.

12-7
Từ nhiều năm nay nhiều địa phương ở tỉnh Đồng Nai bị bọ đậu đen xâm nhập. Chúng bay hàng đàn thành đám mây đen kịt tiếng phát ra nghe như tiếng trực thăng. Sự có mặt cùng lúc của hàng vạn hàng triệu con cố nhiên gây ra mùi hôi, làm phát sinh các loại dị ứng cũng như nhiều phiền toái khác. Chùa Bửu Lâm ở Long Thành mỗi lần bị bọ xâm nhập phải nghỉ cúng lễ cả tháng.
Loại tin này có vẻ không quan trọng lắm, nên không mấy báo đưa, nhưng tôi đọc mà thấy rùng mình. Nghe đâu không ít người đã tính tới chuyện bỏ xứ ra đi vì không cách gì trị loại bọ đó cả.

15-7
Xuất khẩu chè sụt giảm. Ngành giày dép da bị kiện. Con tôm VN gặp vận hạn ( không tìm thấy người mua). Cước vận tải tăng. Giá đường tăng. Ngành điện lực thu không bù chi. Yên Bái 7 người chết vì mưa quá lớn. Thành phố Cà Mâu quanh năm ngập nước… Nhìn vào ngành nào địa phương nào giờ đây cũng thấy chuyện thất thiệt như vậy. Nhưng lạ nhất là có tin, đợt tổ chức tuyển sinh vừa rồi, nhiều trường đại học bị thua lỗ, có trường lỗ hàng trăm triệu. Có gì đâu, nhiều thí sinh đăng ký dự thi nhưng không tới. Trong khi đó thì trường đã chót thuê phòng thi, thuê giám thị đến trông ( giá số thí sinh có mặt đầy đủ thì cũng cân bằng thu chi )… Thế là mất cả vốn lẫn lãi.

16-7
Thành phố Huế đã ba lần tổ chức những trại sáng tác điêu khắc và vì có cả người nước ngoài dự nên thường gọi là festival quốc tế. Đã hình thành nên ba vườn tượng có giá trị nghệ thuật cao. Mới đây có tin nhiều tượng đang bị kẻ gian đánh cắp. Mà cách ăn cắp thì cũng rất VN, tức là cả bức tượng bằng đá của người ta rất lớn, chỉ có thêm một khối đồng nho nhỏ là thứ bán được, thế là xoáy luôn, mặc kệ cả khối đá lớn đứng than khóc.

Đến những đồng tiền
Âm Phủ cũng giả

18-7
Nghĩ lại thì thấy thua cuộc như tôi quả cũng đáng. Số là do quá tin ở lý luận, tôi cãi bằng được rằng hàng giả chỉ xuất hiện ở những nền sản xuất nhỏ, và người ta chỉ làm giả những thứ hàng tàng tàng, chứ làm hàng cho thật xịn xem, liệu ai đủ công sức làm giả bao giờ. Nhưng tôi đã nhầm to. Dẫn chứng mới toanh vừa lấy ra từ một tờ báo điện tử: hàng năm, 500. 000 ( tức năm trăm ngàn, tức nửa triệu ) xe Honda giả được bán ra ở các cửa hàng, và tình trạng giả mỗi ngày một tăng. Chỉ có điều chế tài xử phạt ở ta không nghiêm nên hàng giả vẫn cứ lưu hành, và chính chủ cũng phát ngán không muốn đi kiện nữa.

19-7
Đọc cuốn V iệt sử xứ đàng trong của Phan Khoang tôi nhặt được một chi tiết: Do nhu cầu của thị trường lúc ấy, các chúa Nguyễn phải cho tư nhân đúc tiền kẽm. Tiền kẽm đúc ra lần đầu dày cứng, tiêu dùng rất tiện. Song cũng lập tức có nạn tiền giả. Người ta trộn thêm chì vào. Tiền mỏng có thể bẻ gãy được nên bị người ta chê. Trước một đồng tiền kẽm ngang giá một đồng tiền đồng, sau ba đồng mới ăn một.

22-7
Trước cảnh mỗi mùa thi đại học cả xã hội rộn rập mất ăn mất ngủ, một anh bạn thạo về giáo dục bảo tôi: ở nhiều nước như T i những ai có bảng điểm cao, tự nhiên sẽ hạn chế được số thí sinh tham dự ngay. Hẳn anh biết bên thuỷ lợi người ta thường phân lũ để khỏi vỡ đê. Kinh nghiệm ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho chuyện thi cử. Chỉ có điều muốn thế, việc đánh giá học sinh phải chặt chẽ ngay từ các lớp dưới. Chứ công khai gian lận bằng cách chín mươi chín phần trăm tốt nghiệp, thì đến trời cũng chịu.

23-7
Hàng hoá giả. Người giả. Giấy tờ giả. Văn bằng giả. Quy hoạch giả. Công ty giả. Kết quả các trận đấu bóng giả. Mà tuổi của các cầu thủ cũng là tuổi giả. Quả thật nghĩ mà sợ, hầu như sự giả đã tràn lan, cái gì người ta cũng làm giả được.
Hồi còn sống nhà văn Triệu Bôn có lần cười nhạt bảo tôi: “Tôi đã thấy những tờ giấy báo để nguyên đặt giữa xếp tiền âm phủ người ta bán cho mẹ Hằng nhà tôi về đốt ngày giỗ. Tức là có hàng giả của hàng giả. Thế thì ông tính còn cái gì người ta không tính chuyện bịp nữa “.
Nhưng những lần chúng tôi cùng được cười như vậy hơi … bị hiếm. Đã đinh ninh người đang sống lẫn với ma, song người bị lừa thường vẫn bực mình, thậm chí điếng người đau xót. Mà ai cũng vậy thôi, một lần da đến ruột. Thành thử tôi ngờ các thảm cảnh này kéo theo một hiệu ứng phụ, tức là từ đó người ta dễ tặc lưỡi, — thế thì tội gì mình phải đứng đắn nữa, mình cũng sẽ đi làm hàng giả cho chúng nó chết !
Trong hoá học, người ta gọi là phản ứng dây chuyền.

R lưỡi không xương
nhiều đường lắt léo
25-7
Tôi xin hết lòng (truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ) kể về một người đàn bà xoen xoét cái miệng thương hại cô gái ốm, và nhận thức đêm trông cô, chỉ vì quá mê bộ tóc của cô bé. Và lấy cớ giúp cho cái đầu cô bé khỏi vướng víu, bà ta đã đang tay cắt trộm mái tóc.
Kết luận, hoá ra ở đời này chẳng có ai tốt với ai cả !
Nhưng hôm nay tôi muốn lưu ý một khía cạnh khác: lời nói đã trở thành công cụ cho người ta kiếm ăn, khi đó nó trở nên hàm hồ, tuỳ tiện lăng nhăng không thể tin nổi, một thứ sản phẩm của “ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo “ như các cụ xưa vẫn nói.
Thiên truyện thường trở lại trong đầu tôi khi hàng ngày chứng kiến cảnh người ta lừa nhau trên đầu cầu Chương Dương. Những chiếc xe khách chở người các vùng quê về chưa kịp đỗ đã có hàng loạt xe chờ sẵn. Mỗi hành khách xuống xe lập tức trở thành con mồi để đám xe ôm xô đến tỏ lòng từ thiện. Lời nói bao giờ cũng ngọt xớt. Người ngoài nghe thấy mà rùng mình, sự thực là họ đang lừa nhau để bên này bùi tai thì bên kia chém. Đại khái cũng giống như các chương trình khuyến mãi của các công ty bất chính. Họ lấy ngay tiền người mua hàng để làm phần thưởng. Của người phúc ta. Nói ra rả hàng ngày, mà không ai thấy chướng.

26-7
Có cái ác là nhiều khi biết người ta nói dối đấy mà không sao vạch mặt ra được. Chẳng hạn nhiều khi có việc cần đến một cơ quan thì thấy đập vào mắt tấm bảng viết cẩu thả “ Cơ quan chúng tôi xin được phép nghỉ sáng nay để họp “. Cùng là cán bộ nhà nước cả, nên mặc dầu biết tỏng là nhiều khi người ta chẳng họp hành già cả mà chỉ kéo nhau đi chơi, tôi cũng chẳng giận làm gì. Nhưng đau là đau ở khía cạnh khác: cái sự nói dối trắng trợn. Người ta coi thường và làm hỏng hết công việc của chúng tôi, nhưng lại nhũn nhặn xin phép, ra cái điều sợ chúng tôi lắm.

28-7
Một lần lẩn mẩn tra từ điển tiếng Việt, tôi bắt gặp đâu đến vài chục từ ghép đi liền với chữ nói, tạm ghi ra như sau: nói bóng nói gió, nói cạnh nói khoé, nói chơi, nói chua, nói cứng, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gần nói xa, nói gở, nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo, nói leo, nói lửng, nói mát, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói phách, nói phét, nói quanh, nói ra nói vào, nói suông, nói thách, nói thánh nói tướng, nói trạng,nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi … Trong số này, trên chín chục phần trăm là những từ mô tả sự nói với nghĩa xấu.

30-7
Trên một tờ báo chuyên về văn hoá hôm nay, có thư của một bạn đọc than phiền vì những sự hứa hươu hứa vượn Một bộ phim quảng cáo là phim kinh dị “made in Việt Nam “ và có tới 69 bài viết trên các báo lăng xê, sẽ không bao giờ bấm máy. Một bộ phim khác được giới thiệu là có đến hai diễn viên Hàn quốc tham gia hoá ra … treo đầu dê, bán thịt chó, bởi chẳng có công ty nào của Hàn quốc phối hợp cả.

sau hư hỏng là vô cảm
1-8
Một trong những điều lý thú người ta thấy được qua đợt phát hành các cuốn sách Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm mấy tuần nay: Hoá ra dân mình vẫn ham đọc. Là người đứng tên biên tập cuốn sách thứ hai, nhiều ngày tôi nhận được điện nhờ bảo giùm xem bây giờ mua sách ở chỗ nào. Thay cho cái đĩa, cuốn băng, một số bạn bè tặng nhau sách. Có những đơn đặt hàng từ Mỹ từ Pháp gửi về. Nghe nói đã bắt đầu xuất hiện những cuốn sách in giả, nó là bằng chứng của một mặt hàng trong “ tình trạng cháy chợ “.
Nhưng quan trọng hơn là sau khi đọc sách, nhiều người rung cảm thực sự. Những giọt nước mắt chân tình ứa ra trên những khuôn mặt tưởng đã hoàn toàn lì lợm vì kiếm tiền. Người ta cảm thấy lâu nay mình đã giàu lên và xấu đi bao nhiêu so với cái tuổi trẻ thánh thiện bốn chục năm trước.

3-8
Trong cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội, anh Xuân Thiều nổi tiếng là một trong người “ giữa đường thấy sự bất bằng mà tha.” Hồi chiến tranh, một cái xe đạp quý lắm. Vậy mà theo Nguyễn Minh Châu kể với tôi thì có lần, thấy người ta đuổi bắt một đứa bé móc túi, Xuân Thiều đang ngồi hàng nước đã đứng lên, lao thẳng chiếc xe đạp vào thằng ăn cắp ấy để chặn hắn lại.
Nhưng cái chuyện này xảy ra với Xuân Thiều hồi đầu chiến tranh, còn thời điểm Nguyễn Minh Châu kể cho tôi nghe là mấy năm 1973-74, tức cuối chiến tranh. Tác giả Dấu chân người lính tỏ ý than phiền mới mấy năm trời mà con người đã xấu đi bao nhiêu, bây giờ không ai làm như Xuân Thiều nữa.
Giá còn sống đến hôm nay, không biết Nguyễn Minh Châu còn bình luận gì thêm?

4-8
Không che giấu nữa mà trên mặt báo bây giờ ngày càng xuất hiện nhiều những tin nói về cảnh ăn chơi truỵ lạc của đám thanh niên lắm tiền. Tôi thường chỉ thắc mắc: sao không có ai đứng ra nghiên cứu xem đám thanh niên lao mình vào ăn chơi đó thường là con cái nhà ai.
Hỏi vậy bởi theo tôi, những người giàu có do mồ hôi nước mắt mà có, thường sống đúng mức, thậm chí thanh đạm và con cái họ thường ngoan. Nếu tôi không lầm thì ăn chơi xả láng bậc nhất bây giờ là đám con cái các quan chức tham nhũng. Họ ăn cướp quá dễ dàng nên con cái mới phải tìm cách khơi cho tiền của nơi họ khỏi bị ứ đọng. Nói rằng nhiều người “ đi lừa được cả thiên hạ mà không lừa được con cái “ là với nghĩa ấy.
Âu cũng là niềm an ủi cho những gia đình tử tế.

6-8
Hết than phiền vì tình trạng học sinh chán ngán học văn, nay người ta lại chưng ra đủ loại bằng chứng hãi hùng vì tình trạng học sinh dốt sử. Nghĩa là trong các bài thi vào đại học, hàng ngàn học sinh nhận được điểm một điểm hai, thậm chí điểm không.
Tình trạng kém cỏi này nảy sinh do đâu là chuyện báo chí đang bàn. Nhưng chắc chắn đây cũng là một biểu hiện của tình trạng vô cảm. Thứ vô cảm với quá khứ còn nan giải hơn nhiều so với các thứ vô cảm khác.

Cười và khóc

8-8
Đưa tin các trường công bố điểm trúng tuyển và kết quả tuyển sinh, có tờ báo giật cái tít đọc lên nghe đau điếng “ Hơn nửa triệu thí sinh đã trượt đại học “.
Chắc là lúc này khối cô cậu khóc đây.
Lại nhớ câu thơ Tàu cổ: “ Khốc như nữ tử vu quy nhật – Tiếu tự văn nhân lạc đệ thì “ ( ai đó đã dịch thoát thành “ Cười như sĩ tử hỏng thi – Khóc như cô gái sắp đi lấy chồng “ ).
So với người xưa, nỗi cơ cực của đám người “ lỡ hẹn với đời sinh viên “ đời nay nhiều khi còn ê chề hơn. Các ngành đào tạo nghề nghiệp cổ lỗ non yếu. Cơ quan xí nghiệp chỗ nào béo bở đã lấp đầy người. Rồi biết đi đâu xin việc để có thể hoà nhập vào xã hội? Bảo rằng họ đang bị vứt ra lề đường cũng không phải là nói ngoa.

10-8
Khi tôi kể lại nỗi buồn nho nhỏ trước đám sinh viên “ nhỡ tàu “ thì anh M. bạn tôi không giấu được cảm giác buồn cười. Cậu đa sự thật, anh bảo. Có phải hôm nay họ mới biết đâu. Cái chuyện các trường chỉ lấy được độ 40% số dự thi, ngoài ra 60% chắc chắn thuộc khu vực thi trượt, đó là chuyện “bánh đúc bày sàng” mọi người đã biết ngay từ những ngày đổ nhau đi nộp đơn. Rộng ra mà xét, cái việc thanh niên lớn lên không sao tìm được chỗ đứng hợp lý trong xã hội thực tế hàng ngày vẫn đang kéo dài. Bao giờ toàn ngành giáo dục được tổ chức lại, cả xã hội được tổ chức lại, thì cái chuyện cứa vào lòng người như thế này mới hết.
Để giúp tôi hoàn toàn thanh thản, anh khái quát một câu xanh rờn “ thời buổi cảm thương qua rồi “. Các nhân viên y tế nhất định không xử lý các vụ cấp cứu nếu gia đình nạn nhân không đưa tiền. Các giáo viên rút bớt chương trình dạy ở lớp để kéo học sinh đến nhà học thêm. Đấy, với hai nghề nhân đức như nghề y và nghề giáo mà người ta còn cư xử theo nguyên tắc “ tất cả vì tiền “ như thế, nữa là các nghề khác. Tức cũng có nghĩa là loại người mau nước mắt thời nay đã tuyệt chủng, sụt sùi là chuyện cổ lỗ lắm rồi !

11-8
Có tin ở TP Hồ Chí Minh, có một cây cầu gọi là cầu chợ Cầu xây mấy năm nay không xong. Dân phản ứng quá, công ty xây cầu phải làm bảng thông báo, ghi rõ lời xin lỗi trước nhân dân. Chỉ có điều sau đó đâu vẫn hoàn đấy, công việc ì ạch đến mức mọi người cảm thấy như mình bị lừa.
Gọi đây là vô trách nhiệm là gian trá cũng được, nhưng tôi thấy nó còn là một chứng minh tuyệt vời cho cái tình trạng cạn kiệt mọi giọt nước mắt thương cảm. Anh M. đã đúng.

13-8
May quá, sự đời không phải hoàn toàn đáng bi quan như vậy. Một phóng viên trẻ làm bên VTV1 tâm sự với tôi là cô hơi xấu hổ khi khóc sưng cả mắt vì đọc nhiều trang Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm. Tôi bảo với cô, bạn ơi không có gì đáng xấu hổ cả, những giọt nước mắt của bạn giúp tôi lấy lại niềm tin ở tuổi trẻ đấy ! Cám ơn bạn !

dập dềnh trôi theo làn sóng

15-8
Cuốn sách ấy bàn tới một vấn đề khá cấp bách: toàn cầu hoá là gì? Chúng ta sẽ sống sao trong thời đại toàn cầu hoá? Để thích ứng với nó chúng ta phải có một nhận thức như thế nào? Phải cái, sách không chỉ có cái tên hơi khó hiểu: Chiếc Lexus và cây ô liu, mà lại quá dày ( trên 700 trang ) và nội dung quá nặng, ngay với một số nhà chuyên môn cũng đã nặng. Giá kể có ai đọc kỹ rồi tóm tắt lại, diễn giải lại cho mọi người thì hay biết mấy.
Chỉ có điều bây giờ chả ai sẵn lòng làm việc này cả.
Tôi ghi lại một câu được dẫn trong sách: “ Ngày nay không một đất nước nào có thể khoá kín bản thân không tiếp xúc với truyền thông toàn cầu, hoặc những nguồn tin từ bên ngoài. Những khuynh hướng xuất hiện ở một nơi có thể được nhân lên đại trà ở nhiều nơi khác. “

17-8
Từ tháng 6- 2004, giá xăng đã tăng 7000đ/l, từ tháng 3-05 là 8.800đ và từ 18h chiều nay là 10.000đ/l. Suốt buổi chiều dân Hà Nội đổ đi xếp hàng mua sớm, tránh cho mỗi lít hơn đồng bạc. Nhưng từ mai thì họ sẽ được sống theo mức giá tiêu thụ của thế giới.
Thế là cái điều mà ký giả của báo New York Times ( tác giả cuốn Chiếc Lexus và cây ô liu nói ở trên ) thông báo, đã có ngay minh chứng.

18-8
Giải thích chuyện tăng giá xăng, các cơ quan có trách nhiệm không quên nói ngay là tại xăng trên thị trường thế giới là thế, mình tránh không nổi, và nghe ra ai cũng hiểu. Chỉ đau một nỗi: ở các nước người ta dự đoán được tình hình rồi tìm cách ngăn chặn và giảm khó khăn cho dân, còn ở mình thì nước đến chân mới …đứng nguyên, và hò nhau ráng chịu. Lại nhớ có lần ai đó đã ví nền kinh tế mình như chiếc nút bấc trôi nổi trên thị trường thế giới, và bị chao đảo bởi bất cứ hiện tượng nào. Đã gọi là nút bấc thì lành lặn mãi sao được !

20-8
Không kể sản xuất chắc chắn có khó khăn mà đời sống mỗi người dân thường cũng bị ảnh hưởng. Thịt ở các chợ Hà Nội tăng trung bình khoảng 5.000đ một kg. Gửi xe nhiều chỗ đã lên 2.000 đ. Trước sau cái gì cũng lên hết ! Thế nhưng khi tôi tỏ ý lo ngại không biết mai đây ra sao thì một người bạn thuộc dân giáo viên cấp hai đã cho mấy câu ráo hoảnh:
— Dào ôi, có mà lo bò trắng răng ! Người ta tăng giá thì mình cũng tăng giá lại. Bà bán phở tăng giá bát phở thì vợ tôi bán thuốc tăng giá thuốc, còn tôi phải quát học phí con các ông các bà cao hơn. Rồi chắc chắn giá mua bằng rởm lớn hơn, tiền chồng cho mỗi vụ chạy quyền chạy chức nhiều hơn. Rồi từ người tham nhũng đến thằng ăn cắp sẽ bớt phân vân khi hành sự. Rồi còn là tiếp tục chặt phá rừng với lại lấn chiếm đất công để kiếm chác. Chả ai chết cả, còn như đất nước có xơ xác hơn, thì đã có cách … cùng nhắm mắt lại, coi như không có, thế là xong chứ gì !

ùn tắc nơi nơi
ùn tắc hàng ngày

22-8
Mùa thu năm nay đến rất đúng hẹn. Sáng mồng một tháng bảy âm lịch, bắt đầu thấy se se một thoáng gió lạnh. Nắng ít đi và đã đỡ gay gắt. Trời lúc nào cũng đầy mây. Có cả những cơn mưa lai rai, như trong câu thơ của Nguyễn Du, “ tiết tháng bảy mưa rầm sùi sụt “, lẫn cả những cơn mưa rào theo kiểu mùa hè còn sót lại. Rạng sáng hôm nay mười tám ta thì trời đổ một cơn kinh khủng. Đến thời điểm các viên chức phải tới sở, nhiều quãng đường còn ngập nước. Anh Ân ở cơ quan tôi kể mọi khi đi từ nhà tới sở mất khoảng 25 phút thì hôm nay mất đúng tiếng rưỡi. Là bởi đồng thời với nạn đường ngập là nạn đường tắc, ngoài các quãng đường tắc vốn có là những quãng đường tắc vừa xuất hiện ngay cạnh đường ngập, có kêu giời thì giời cũng chịu.

23-8
Thật ra không còn đợi đến những cơn mưa lớn, hai chữ ùn tắc mới xuất hiện trong đầu óc mọi người. Mà hàng ngày người ta đã bắt gặp nó nơi nơi. Các giấy tờ khiếu nại ùn tắc ở các bàn giấy. Máy điện thoại của đoàn trưởng các đoàn kiểm tra đất đai ùn tắc vì người gọi đến quá đông. Công việc nào béo bở thì ùn tắc người tới xếp hàng. Thậm chí có một hồi mấy quán phở ngon trên đường Lê Văn Hưu cũng gây ùn tắc vì quan chức các tỉnh về Hà Nội họp rủ nhau đánh xe đến ăn. Vâng thời buổi này, hàng họ đầy ra đấy nhưng kiếm cho được một cửa hàng làm ăn ngon lành cũng khó khăn lắm, có phải chen chúc một chút có gì là đáng ngại !

24-8
Nói tiếp chuyện ùn tắc trên phương diện giấy tờ. Nghe nói là mặc lời nhắn nhủ từ cấp trên, có nơi hàng ngàn cuốn sổ đỏ vẫn còn nằm trong tủ các cơ quan công quyền, tại sao? Người ta dự đoán chẳng qua mấy ông cán bộ chỗ ấy tự nhủ chẳng lẽ phát không cho dân, mà mình lại không được sơ múi tí gì?
Nghĩa là có cái ùn tắc do kém cỏi nhưng có cái ùn tắc do người ta quá thông minh ; có cái ùn tắc định gỡ mà không gỡ nổi, nhưng có cái ùn tắc do người trong cuộc cố tình tạo ra để kiếm chác.
Nên chú ý là về mặt tâm lý mà xét thì ai cũng thế thôi, trong cảnh ùn tắc có mệt, nhưng ra khỏi thì sướng lắm. Hoặc có khi chỉ nhìn người khác mắc cạn mà mình thong dong đứng ngoài cũng đã thấy sướng. Bà chị họ tôi có lần thật thà kể một câu chuyện nhỏ như sau: trong cảnh thiên hạ đứng chồn chân chờ mua vé, bà nhờ có thằng cháu cầm giấy Uỷ ban ra mua ngay được cái vé ưu tiên ; lúc ấy bất ngờ trong đầu óc bà không khỏi thoáng qua cái ý nghĩ là bến ga phải ùn tắc thế thì thiên hạ mới biết có cháu làm quan sướng như thế nào !

26-8
Nếu đi từ A. đến B theo con đường quen tuy ngắn mà chịu nhiều ùn tắc thì bao giờ tôi cũng tính để chọn cho mình một con đường xa hơn mà đi lại dễ chịu hơn. Đó là nguyên tắc của tôi trong việc đi lại thời nay trên đất Hà Nội. Nhưng thật khốn khổ, những phương án để tôi lựa chọn ngày một ít dần chỉ có những con đường thật đông với những con đường đỡ đông hơn, chứ còn đường vắng thì giờ đây hoàn toàn không có !

Chỗ giống nhau
giữa lúa và…người

29-8
Theo một số chuyên gia nông nghiệp thì lúa lai tuy cho năng xuất cao song đòi hỏi rất nhiều phân, thuốc trừ sâu. Nó ăn hại đất, làm đất thoái hoá rất nhanh. Và điều quan trọng nhất: nó chỉ cho một thứ gạo loại xoàng, người dân những vùng nghèo cũng không muốn ăn nói chi đến việc xuất cảng ( ở nhiều nước nó được trồng một ít chủ yếu dành cho súc vật ).
Thế nhưng nhiều cấp chính quyền vẫn thích đổ tiền để tăng diện tích lúa lai, tại sao? Tôi dự đoán: lý do duy nhất chính là ở chỗ nó cho năng xuất cao, do đó các ông ấy dễ xập xí xập ngầu, báo cáo lên cấp trên về thành tích của tỉnh mình huyện mình, còn như chất lượng lúa ra sao, các ông ấy giấu biệt. Bảo rằng tư duy chất lượng đang còn khá xa lạ với cách làm ăn của nhiều người, cũng không phải oan.

30-8
Trở lại với chính tờ báo Nông thôn ngày nay của chúng ta, thì trong số ra ngày hôm nay, tôi thấy có bài nói là các nhà khoa học và cán bộ quản lý nông nghiệp đang còn tranh luận về cả mặt lợi lẫn mặt hại của lúa lai. Là người ngoại đạo, tôi không có lý gì để tham gia thêm, song bằng vào kinh nghiệm trong nhiều chuyện làm ăn khác, thấy cái sự sợ cho sự phát triển của lúa lai có vẻ dễ nghe hơn.

1-9
Đi sâu vào “ cái tổ con tò vò “, lại có người cho báo chí biết, còn một lý do nữa khiến lúa lai phát triển. Đây là giống ta chưa làm ra được mà phải nhập từ Trung quốc. Các công ty chuyên doanh về giống rất thích việc nhập này. Trước tiên, họ nhờ bên xuất hàng ghi hoá đơn đội giá lên cao để về kiếm chác chia nhau cái đã. Thứ hai, về nước, họ muốn quát giá nào các tỉnh cũng chịu, vì chỉ có họ được độc quyền cung cấp, và nếu tỉnh nào ngần ngừ một chút thì họ có tiền lót tay cho các quan chức, thế là xong ngay tắp lự.
Câu chuyện này tôi mới nghe một vài người nói, còn chờ xác minh, nhưng trong bụng nghĩ nếu đúng như thế cũng không có gì là lạ. Chuyện xảy ra ở nhiều ngành khác rồi mà,lẽ nào ngành nông nghiệp lại là ngoại lệ. Cái sự kiếm ăn thời nay, không cần ai dạy, người ta học nhau nhanh lắm !

3-9
Thú thực, câu chuyện lúa lai sở dĩ hấp dẫn với tôi, cái chính là vì những đặc tính của giống lúa ấy rất giống đặc tính của một loại người lâu nay được đào tạo. Loại người này bề ngoài có vẻ được việc, đáp ứng được nhu cầu về số lượng, nhưng nhìn kỹ thì “ ăn tàn phá hại “ và chỉ tạo ra những sản phẩm hạng nhì hạng ba gì đấy. Chắc chắn họ không thuộc về tương lai. Nhưng hiện tại họ có đáp ứng được một ít nhu cầu nào đó, nên được tin dùng, thế mới chết !
Lại sắp đến ngày khai giảng năm học mới, lòng chợt nhói lên cái ý nghĩ chẳng phải là “loại người lúa lai “ đó đang được các trường sản xuất hàng loạt và tính rộng ra đó mới là một quả đắng không bao giờ tiêu hoá nổi. Có đúng thế không, liệu ai là người trả lời câu hỏi ấy cho tôi bây giờ?!

lịch sử nhàm chán ư?
Nói gì kỳ vậy !

5-9
Trần Khánh Dư thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Có điều ông cũng rất giỏi tham lam vơ vét. Khi làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy quần áo đồ dùng còn bắt chước người Trung quốc, ông ra lệnh cho quân không được đội các nón kiểu phương bắc mà phải đội nón của một làng gần đấy gọi là nón ma lôi để phân biệt. Nghe thì có vẻ rất nghiêm. Có biết đâu, trước đó ông đã sai người nhà mua sẵn nón về bán, mỗi chiếc giá đắt gần bằng một tấm vải, nhờ thế cũng có được một chiến công tưng bừng trên phương diện kiếm lợi riêng.
Câu chuyện trên không thấy ghi trong bộ sử nào, kể cả Việt nam sử lược cũng không, tôi chỉ biết được nhờ mấy hôm nay buồn tình lấy bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ra đọc. Đến khi tìm lại Đại việt sử ký toàn thư thì thấy có thêm một chi tiết tương tự: Có lần người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn công khai tuyên bố: “ Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ? “

7-9
Câu chuyện về Trần Khánh Dư trước tiên mang lại cho tôi một sự an ủi, hoá ra nhiều chuyện đời nay chỉ là phóng chiếu những chuyện đời xưa.
Đây là cách nói của Nhà triết học B. Russel do giáo sư Hà Văn Tấn trích lại: “ Đọc sử để biết những ngu xuẩn của quá khứ nhờ thế người ta có thể chịu đựng tốt hơn những ngu xuẩn của hiện tại “.

8-9
Câu chuyện về Trần Khánh Dư còn giúp tôi có thể giúp tôi tham gia vào một câu chuyện thời sự. Số là sau khi phát hiện nhiều bài thi vào đại học ăn điểm 1 với điểm 0 trong môn sử thì nhiều tờ báo thường xuyên có bài trao đổi về chuyện “ làm sao để trò ta khỏi chán sử ta?“. Điều kỳ cục là nhận thức về môn sử của một số cây bút tham gia thảo luận. Có người dám viết rằng đã gọi là lịch sử thì bao giờ cũng nhàm chán khô khan, khó hiểu, lặp đi lặp lại. Không ít người tính chuyện tăng tính hấp dẫn của môn sử bằng tranh vẽ với lại phim ảnh, bởi tin rằng chỉ các biện pháp kỹ thuật thật xịn ấy mới cứu cho cái môn học bắt buộc ấy khỏi làm mọi người đỡ ngấy. Nếu chúng ta biết rằng ở các nước lịch sử vẫn được người ta coi là một môn học sinh động và có sức hấp dẫn bậc nhất với học sinh, thì có thể thấy phát sợ vì cái kết quả mà nền giáo dục ở ta để lại trong lòng học sinh !

10-9
Một tờ báo hôm nay đăng thư độc giả phát hiện một nhà nghiên cứu văn hoá hàng đầu của ta, khi đi vào lịch sử đã viết nào là Trung quốc không có hương ước chỉ Việt Nam mới có hương ước, đắp đê là chuyện chỉ Việt Nam mới biết làm, tam giáo đồng nguyên là chủ trương độc đáo chỉ riêng Việt Nam mới có. Nghĩa là toàn chuyện sai sự thực 100%. Các bậc trí giả kiến thức đầy mình từng đóng vai hướng dẫn cả một nền nghiên cứu còn viết liều như thế, thì học sinh và nói chung người dân thường làm sao không chán sử cho được?

cướp công cướp của

12-9

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì sát phạt, tức là tranh phần hơn thua một cách quyết liệt. Nếu lần giở tới Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì sát phạt có nghĩa là độc ác hung dữ khắc bạc.
Xưa nay tôi chỉ nhớ tới từ ấy và những nghĩa ấy khi nghĩ về phạm vi hẹp, ví dụ các con bạc sát phạt nhau. Nhưng giờ đây không hiểu sao cứ cảm thấy cái tinh thần sát phạt ấy có mặt ở khắp nơi. Khi đi đường, khi người ta chen chúc nhau vượt qua một quãng đường hẹp, không khí đã quyết liệt rồi. Trong cuộc kiếm sống hàng ngày, cuộc đua tranh càng mang tính cách một mất một còn, nghĩa là kinh khủng hơn nhiều.

14-9
Không chỉ chiếm dụng vốn, người ta còn sẵn sàng chiếm dụng của nhau cả tài năng, tên tuổi, kinh nghiệm, uy tín. Trên một số báo Nông thôn ngày nay ra đã khá lâu ( từ 30-4 ) tôi đọc được bài viết kể về một chuyện nhỏ xảy ra ở một vùng quê: một nông dân nghĩ ra việc làm con giống bằng mây tre đan, nhưng bị hàng xóm cướp không: họ cũng làm thứ đó, nhưng làm kém đi, bán rẻ. Được một thời gian, bên Tây họ không mua nữa.
Câu chuyện nhắc tôi tới một ít chuyện xảy ra ở Hà Nội.
Đường Bà Triệu quãng từ Trần Nhân tông đến Tuệ Tĩnh có đến mấy hàng lạc rang, và hàng nào cũng là bà Vân. Thì ra ban đầu có một bà Vân thật. Chung quanh thấy đắt hàng quá, liền xông vào cướp nghề. Loạn “lạc rang bà Vân “ là vì vậy.
Cũng giống như khách lên Nhật Tân ăn thịt chó có một hồi hoa mắt vì chỗ nào cũng mang tên Anh Tú, đến mức về sau, có nhà phải treo biển “Anh Tú xịn “ mà rồi người ta vẫn nghi ngờ không rõ có đúng xịn thật không, hay là cũng nói xưng xưng lên, để doạ thiên hạ. Bây giờ hạng người nói dối mà không biết ngượng, hạng đó nhiều lắm !

15-9
Lịch triều hiến chương loại chí ( thiên Quốc dụng chí ), từng chép lại một chi tiết: trong trường kỳ lịch sử, ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ đã có tình trạng quy chế luật pháp không rõ, kể cả những luật liên quan đến ruộng đất, đến mức Phan Huy Chú phải dùng đến mấy chữ “ bỏ mặc ruộng cho dân xâm chiếm lẫn nhau “, rồi mạnh ai nấy thắng.

17-9
“Mỗi khuôn mặt là một kiệt tác của Chúa “, câu nói ấy tôi ghi được từ lời giới thiệu đặt ở đầu một tập ảnh chân dung. Nó giúp tôi tìm thêm cảm hứng trong đời sống hàng ngày. Vào nhiều gia đình, tôi sung sướng ngồi xem những an-bum kỷ niệm. Dừng lại ở các phố huyện, tôi cố thu xếp thời gian ghé lại một hiệu ảnh, để nhận ra một vài gương mặt đặc trưng cho địa phương. Không có tiền mua làm của riêng, nhưng khi vào các hiệu sách các thư viện, có điều kiện tôi đều tìm cách lật qua các bộ ảnh quý, khi do người mình khi do người nước ngoài chụp. Chỉ một lần, tôi chợt nhận ra là khuôn mặt người mình vài chục năm trước bao giờ cũng hiền lành hơn, bình thản hơn, đôn hậu hơn con người bây giờ. Có điều buồn là cái ý nghĩ “ dở hơi “ ấy cứ ăn mãi vào tâm trí, không sao bác bỏ nổi.

theo sự cuốn hút
của cái tầm thường
19-9
Tuần qua, báo Nông thôn ngày nay có loạt bài mang tên Nông nghiệp Việt Nam trước thềm hội nhập, mở đầu bằng bài viết về cây chè. Bài báo cho biết chè của ta năng xuất tăng, diện tích cũng tăng. Chỉ phiền một nỗi chất lượng quá tồi. Rút cục không đi ra được với thế giới, hoặc đúng hơn, người ta chỉ mua về để trộn nhằm đỡ chi phí hoặc để bán giảm giá. Nước sản xuất khối lượng chè có cỡ trên thế giới lại đang là nước vô danh về mặt hàng này. Không ai người ta có ý niệm gì về chè Việt Nam cả.

21-9
Vấn đề của cây chè thật ra cũng là chuyện xảy ra ở nhiều ngành khác. Như là câu chuyện về lúa lai mà tôi đã ghi lại ba tuần trước. Như là nước mắm mà ta bị cướp tên gọi ( Thái Lan cũng sản xuất và gọi bằng tên Việt khi xuất cảng, và họ xuất sang châu Âu đều đều trong khi nước mắm của ta vẫn rất khó khăn khi vượt qua biên giới ). Lại như là chuyện người. Lao động thừa nhưng không ai nhận vì việc nhà cũng không biết làm ; chất lượng học sinh sinh viên mà chúng ta đang đào tạo thì đến cả các cơ quan nhà nước cũng ngán ngẩm lắc đầu, bảo không dùng được. Người tầm thường lại đẻ ra hàng hoá tầm thường, câu chuyện có gì là khó hiểu?

22-9
Nói về việc cây chè kém chất lượng, các nhà chuyên môn đưa ra lý do: Cây bị khai thác đến mức suy kiệt mà không được đầu tư chăm sóc. Hệ thống chế biến chắp vá không theo một quy trình nào…
Nhưng theo tôi cái gốc của vấn đề ở đây là quan niệm của con người: ta không có tầm nhìn xa, không có ý thức về chất lượng. Trong tiêu dùng mà nói chung là trong cuộc sống không có những nhu cầu cao. Không có ao ước vượt lên trên sự tầm thường để đạt tới sự cao sang quý phái, sự hoàn thiện. Đã thế lại không chịu mở to mắt để học hỏi thiên hạ. Bảo làm cũng làm, nhưng bảo phải vắt óc suy nghĩ học hỏi để đạt tới giá trị cao hơn thì sợ hãi lảng tránh rồi cãi chày cãi bửa. Thấy ai xuất sắc hơn mình thì chỉ muốn kéo người ta xuống. Lừa được ai một lần là hý hửng mà quên mất rằng cái người bị lừa ấy bận sau sẽ không mua hàng của mình nữa.

24-9
Chẳng nói đâu xa, hãy nhìn vào ngành sản xuất văn chương của tôi, ở đây sự tầm thường cũng đang thống trị. Cũng tác phẩm ra ê hề. Cũng giải thưởng nọ giải thưởng kia xanh đỏ loè loẹt. Mà lại cũng sự đi xuống không thể cứu vãn về chất lượng. Sách viết ra để trong nhà xài với nhau đã khó, nói chi tới chuyện đi ra với thế giới. Tức là dù rất muốn dịch của mình mà người ta vẫn không thể dịch, vì không tìm thấy điều gì cần cho người ta cả. Mới đây có người hỏi tôi xem có nhận xét gì về cuốn Từ điển văn học mới được xuất bản, tôi chỉ nói thời buổi này làm được như thế là mừng lắm, không ai làm hơn được ; có điều tuy gọi là từ điển mà dành chỗ quá nhiều cho những tác giả tác phẩm tầm thường, bây giờ thì vênh váo khoe khoang với nhau là chất lượng thế nọ giá trị thế kia, nhưng độ vài chục năm nữa là chắc chẳng còn ai để ý tới !

Có phải niềm tin thực sự?

26-9
Những ngày ngồi ô-tô đi dọc đất nước Malasia, trong đó có việc đi qua nhiều miền quê của xứ sở này, cánh du lịch bụi bọn tôi thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những nghĩa trang nho nhỏ. ấn tượng ư, ấn tượng cố nhiên là mạnh mẽ rồi. Nhưng không phải vì những nghĩa trang ấy lộng lẫy xa hoa. Mà ngược lại vì chúng rất đơn giản, tiết kiệm. Nếu so với mức sống của dân người ta thì thật quá ư tiết kiệm, trong khi đó vẫn không làm mất đi vẻ nghiêm trang thành kính là cái không khí mà các nghĩa trang nhất thiết phải có.
Mấy năm trước, đi xe lửa từ Bắc Kinh về Nam Ninh Trung quốc, cũng nhớ là không có chỗ nào thấy nghĩa trang quá chói lọi nguy nga mà lại lộn xộn đến mức phải kinh ngạc… như của dân mình.
Vâng, sở dĩ chúng tôi để ý chuyện người, cái chính là vì chuyện xứ mình. Dạo này không rõ vì sao, thấy nhiều nơi có phong trào đua nhau xây lăng cho tổ tiên thật to thật đẹp. Trong chiến tranh, Quảng Trị là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn. Nghe nói là tính ra số người nằm dưới đất Quảng Trị còn đông hơn dân số đang sinh sống.Có cái lạ là xứ Quảng Trị đó – một trong những tỉnh nghèo nhất trong cả nước — cũng chính là nơi có những lăng mộ được xây tốn kém tới cả trăm triệu.

28-9
Cái lối săn sóc tới người đã chết theo kiểu như trên thật ra đã có từ lâu. Từ trước 1940, trên báo Ngày nay, nhà văn Thạch Lam đã có lần ghi lại một nhận xét khá sâu sắc của một người nước ngoài. Người này nói rằng dân Việt hình như mải lo cho người chết mà quên cả người sống.
Từ thực tế ngày hôm nay, tôi nghĩ ngược lại: khoe khoang rầm rộ như thế ắt là vì người sống chứ đâu có vì người chết. Một khi đã mang tính cách một sự tô vẽ giả tạo thì nhất thiết sẽ nẩy sinh phản cảm.

29-9
Vào những dịp tuần rằm mùng một, nhìn cảnh người đi cúng lễ ở các đền chùa, nhiều người thường hay tự hào rằng dân mình có niềm tin ở thế giới bên kia. Với óc hoài nghi sắn có, anh M bạn tôi cãi lại: Anh thử nghĩ xem người nghèo có mấy khi đi đền đi chùa vênh vang như thế? Mà toàn dân có của đấy chứ. Tôi ngờ đến quá nửa trong đó là quan chức tham nhũng với lại cánh buôn gian bán lận, vừa làm vừa sợ tội nên chạy lễ đến đây để hối lộ thần thánh mong gỡ tội. Đâu có đáng gọi là những người có niềm tin thực sự?!

1-10
Có lần đọc báo thấy nói ở một vùng nọ trên Lạng Sơn những người có thế lực rào những khu đất để chờ bán cho người chết. Tức là một hình thức kinh doanh địa ốc xuất hiện, có điều ở đây mặt hàng kinh doanh là nhà cửa cho người chết, tức là lăng mộ. Thế là tự nhiên tôi tìm được ít đồng minh bất ngờ: đám người rào đất kia thật đã nắm được cái xu thế phát triển tâm lý của con người hiện thời. Phú quý sinh lễ nghĩa. Và trong lúc rất thiếu niềm tin thực thụ thì người ta phải vơ quáng vơ quàng lấy những niềm tin giả tạo. Điều kiện duy nhất ở đây: miễn sao không phải riêng mình mà nhiều người khác cũng đang tin vậy.

Sợ nhất là tự mình phỉnh mình !

3-10
Lại có tin cá ba sa của mình bị cấm bán ở nhiều bang của Mỹ. Mà lý do là vì trong cá có thừa kháng sinh không được phép sử dụng. Quả thật, trước kia nghe những tin tức loại này, tôi chỉ coi như chuyện bình thường, làm ăn thì phải cạnh tranh phải gây ra cho người ta khó chịu, rồi người ta phải “ chơi “ lại mình, có gì là lạ. Song đã quá nhiều lần như vậy, khiến lần này đâm ra nghi ngờ: Nay là thời cái gì cũng mang ra công khai cả rồi. Không có lý cá mìn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 25 other followers

%d bloggers like this: