Xuân và Tết trong thơ Nguyễn Bính


.Chị ơi! em cưới mùa xuân nhé
Thử ghi lại tên một số bài thơ mà Nguyễn Bính đã viết, trong đó có nói đến xuân và tết. Trong tập Lỡ bước sang ngang: Mưa xuân.Tập Tâm hồn tôi: Xuân về. Tập Một nghìn cửa số: Thơ xuân, Mùa xuân xanh.Tập Mười hai bến nước: Xuân tha hương.Tập Mây tần: Tết của mẹ tôi
Đây nữa, các bài thơ lẻ mới đăng báo mà chưa in vào tập nào: Vườn xuân, Xuân thương nhớ, Tết biên thuỳ.
Tiếp đó, nếu dừng lại kỹ hơn ở các bài thơ khác không thật trực tiếp song vẫn nói đến cùng một đề tài (như Cô lái đò, Quán trọ, Khăn hồng, Vài nét rừng) thì người ta phải công nhận với nhau rằng Nguyễn Bính, trong số các nhà thơ hiện đại, là một trong những người viết nhiều về xuân và tết hơn ai hết.
Nếu lại biết rằng Nguyễn Bính qua đời vào một ngày cuối tháng giêng 1966, tức cuối năm Ất Tỵ, trước khi chuyển sang năm Bính Ngọ, thì người ta càng có quyền để cho sự liên tưởng được đẩy đi xa hơn nữa. Giai thoại Nguyễn Bính kể: một người bạn của Nguyễn Bính là Trần Lê Văn cho rằng tác giả Lỡ bước sang ngang đã tiên liệu trước cái chết của mình ngay từ thời viết mấy câu thơ trong bài Nhạc xuân:
Năm mới tháng giêng mùng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Chúng ta có thể không hoàn toàn nghĩ như Trần Lê Văn song phải nhận là giữa Nguyễn Bính với cái thời khắc trời đất giao hoà này, đúng là có mối duyên nợ thầm kín nào đó.
Mùa xuân và tết đã được Nguyễn Bính miêu tả như thế nào?
Ở bài Xuân về, ta bắt gặp: gió, trời trong, nắng, lá non, hoa bưởi, hoa cam, cánh bướm.
Ở bài Vườn xuân: gió, bướm, mưa bụi, búp non.
Khi tả tết (như ở các bài Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ) Nguyễn Bính lại cũng nói đến pháo, hoa, rượu, những nét son trên môi thiếu nữ.
Đại khái, đó là những chi tiết thông thường mà mỗi chúng ta hình dung ra, khi nghe nói đến xuân và tết. Về mặt thi liệu mà xét, chúng không có cái lạ, cái choáng ngợp, của những gì thật mới, thật độc đáo. Chỉ có điều là những chi tiết đơn sơ ấy được Nguyễn Bính thổi vào một sức sống, khiến nó hiện lên thành những bức tranh tự nhiên, đồng thời gợi lên trong lòng người đọc những xúc động mà hầu như ai cũng có, nhưng lại không hay biết.
Ý nghĩa mà mùa xuân và tết để lại trong lòng người.
Bài Thơ xuân nhắc đến đủ loại người, và ở mỗi loại xuân lại có một ý nghĩa riêng.Với các em nhỏ, xuân là đùa vui nhí nhảnh. Với các cô gái, xuân gợi chuyện ái ân. Với các chàng trai, ngày xuân cũng là những ngày bắt đầu của một mơ ước cao rộng: thi cử, đỗ đạt. Ngược lại, với các cụ già, xuân là thời gian để chiêm nghiệm việc đời.
Có thể dự đoán một bài như bài thơ Thơ xuân được viết để “góp tên góp tuổi góp chất lượng” cho một số báo tết của một cố nhân nào đó trong làng báo, nên nặng tính cách giao đãi (tất nhiên, giao đãi của Nguyễn Bính, thì cũng đã rất tài). Còn như muốn tìm cái phần thật là chân chất của Nguyễn Bính, cái phần xuân và tết riêng của ông, thì không gì bằng đọc lại những bài như Mưa xuân. Mượn lời tâm sự của một cô gái đi xem chèo không gặp người yêu, bài thơ cô kết lại ở những cảm giác âm thầm và rạo rực mà mùa xuân mang lại trong lòng mỗi người. Đây là thời gian của gieo cấy ấp ủ, của tin yêu và chờ đợi. Sau cái mưa bụi kia, trong không khí lành lạnh của những thoáng mùa đông đang còn sót lại, thực ra là bao hy vọng mơ hồ được đánh thức, nó làm cho mỗi con người, nhất là những người tuổi trẻ “ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng”, và mặc dù đôi khi dó chỉ là những hy vọng hão, những ước mong không được đáp ứng, song nó vẫn bền chặt trong lòng người, cả đến khi đau đớn, con người ở đây vẫn không nản lòng, vẫn gắng công chờ đợi, vì ngày xuân còn dài, và theo nhịp tháng năm, sau xuân này còn có những xuân khác.

Trở lên là những bài thơ xuân Nguyễn Bính đã viết khi mới từ nông thôn lên thành thị, mới bắt đầu cuộc đời của một thi sĩ với bao náo nức.
Chỉ vài năm sau thôi, khi gió bụi kinh thành mang lại cho Nguyễn Bính nhiều chua xót, và những ngày giang hồ đôi khi đồng nghĩa với cuộc lưu đày bất dắc dĩ, thì một mô típ khác bắt đầu xuất hiện: xuân và tết gắn liền nỗi nhớ quên, nhớ những kỷ niệm êm đẹp ngày trước. Giờ đây, nhìn ngày vui của mọi người, chàng thi sĩ chợt nhận ra mình quá đơn độc. Sống giữa cái tết của người ta, chàng mong những cái tết của mình. Và trước khi làm thơ xuân cho người, chàng làm cho mình những vần thơ xuân thật đau đớn, thật tê tái. Đấy là âm hưởng toát ra qua những bài thơ như Xuân tha hương, Quán trọ, Bài hành phương Nam viết sau 1940.
Nếu trước đây, thơ xuân Nguyễn Bính thường nói đến những buổi sáng, thì nay trong thơ xuân của con người ấy có những buổi chiều, những đêm tối.
- Thơ suông rượu nhạt, quán cơm nghèo
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều
- Đây lời tâm sự cùng ai tỏ
Một lạnh đêm xuân chiếu lạnh giường.
Theo hướng phát triển này, giọng thơ Nguyễn Bính có dịp tự đổi khác khá bất ngờ. Trước đấy, thơ như một thứ quà tặng mà thiên nhiên ban phát cho người nghệ sĩ tài ba, và chàng chỉ việc giơ tay ra là hái ngay được để trao tặng cho đời. Nay ta bắt gặp một sự dụng công hơn và những gì tâm huyết hơn – thơ là sản phẩm của chính con người Nguyễn Bính, kết quả của sự từng trải riêng Nguyễn Bính mới có, thơ như những giọt nước mắt đã cố kìm giữ mà cứ trào ra trên gương mặt phong trần của chàng thi sĩ. Có thể nói, những vần thơ đanh quánh rắn rỏi có hơi hướng thơ biên tái (một dòng trong thơ Đường) này như là trình ra một Nguyễn Bính mới, và cái điều mà Nguyễn Bính vẫn tự hào, là được theo đòi bút nghiên, học chữ Hán từ lúc nhỏ, điều đó đã được chứng thực một cách thuyết phục.

Nhưng có lẽ những bài thơ xuân tha hương buồn bã chỉ có tiếng vang trong lòng một lớp công chúng chật hẹp.
Với đa số bạn đọc, Nguyễn Bính vẫn là tác giả của những câu thơ đắm say tha thiết với mưa xuân, những câu thơ chúng chiều chuộng người ta mơn trớn người ta, và phải nói là khá phù hợp với những ảo tưởng tốt đẹp mà mùa xuân thường gợi ra trong lòng bất cứ ai, kiểu như:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Trời ở trên cao lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Hoặc:
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.
Người ta biết rằng Nguyễn Bính, con người rất nhạy cảm với phụ nữ, dễ yêu và cũng rất dễ là khổ phụ nữ này, trong đời riêng, khá bất hạnh. Cái hạnh phúc thông thường – một tình yêu trung hậu, kết thúc bằng một cuộc hôn nhân bền chặt – nhiều người bình thường có thể có, song chính Nguyễn Bính lại không có. Có lẽ vì thế người thi sĩ của chúng ta không khỏi có lúc muốn tìm tới trong thơ cái điều không đạt tới trong cuộc đời: trong cơn say sưa đã mấy lần ông gọi mùa xuân là một người con gái, và sẵn sàng đi đến cùng, trong mối quan hệ với người con gái ấy. Nhân trò chuyện với người chị ở xa là chị Trúc, ông cả quyết:
Chị ơi em cưới mùa xuân nhé!
Để rồi một dịp khác ông sẽ diễn tả những luống cuống trong tình yêu và niềm khao khát tận hưởng tình yêu với người con gái – mùa xuân trong những câu thơ thuộc loại hay nhất của mình.
Xuân đến tình tôi náo nức quá
Như người giai tế tối tân hôn
Vì say sưa quá, cho nên đã
Đành đổ trời xuân xuống suối hồn.

About these ads
Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Phản hồi

  • parking balice  On Tháng Bảy 31, 2013 at 9:00 sáng

    Great article! This is the type of information that are meant to be shared across the internet.
    Shame on Google for now not positioning this submit higher!
    Come on over and visit my site . Thank you =)

  • Nicolas  On Tháng Năm 1, 2013 at 9:40 sáng

    This article will assist the internet people for building up new blog or even a weblog from start
    to end.

  • Thái An  On Tháng Mười Hai 10, 2011 at 8:52 sáng

    1. Lịch sử nghiên cứu

    Về thơ Nguyễn Bính, trước đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận ở góc độ truyền thống, tức là đi tìm hiểu và phân tích nội dung thơ của ông theo hướng nhận định chung về thời gian ra đời tác phẩm, về nguồn gốc lịch sử của tác phẩm, từ đó đưa ra quan niệm và phong cách sáng tác của nhà thơ.
    Một số bài nghiên cứu trước đây về thơ Nguyễn Bính:
    GS. NGND Hoàng Như Mai từng bình về bài thơ Lỡ bước sang ngang và ông đã có nhận xét rằng, khi độc giả thưởng thức bài thơ nghĩa là “độc giả không đến để xem cục đất mà để xem tài hoa của nghệ sĩ, bằng cục đất tầm thường, nặn thành pho tượng tuyệt mỹ”. Ý nói rằng chủ đề bài thơ thì cũ nhưng cách diễn đạt của Nguyễn Bính rất tài tình.
    GS. Hà Minh Đức nhận định rằng Nguyễn Bính là “thi sĩ của đồng quê”, khi bình về bài Mưa xuân ông cho rằng “Mùa xuân quả là có duyên trong thơ Nguyễn Bính”.(Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê. NXB Giáo dục, 1995).
    Trần Phò thì lại nhận định rằng Nguyễn Bính là “thi sĩ của thương yêu”, khi bình về bài thơ Tương tư, ông chia sẻ “Nguyễn Bính đã nói được những tình ý kín đáo nhất trong tâm hồn con người, đã làm hết tính cách của nhà nghệ sĩ lãng mạn”. (Nguyễn Bính – thi sĩ của thương yêu. NXB Hội Nhà văn, 1990).
    Cũng bình về bài thơ Tương tư, nhà thơ Mã Giang Lân lại nhận xét “Bài thơ Tương tư biểu hiện một mối tình, một nỗi nhớ trên cái nền thiên nhiên quen thuộc, gợi cảm của làng quê Việt Nam” (Thơ – những cuộc đời.NXB Văn học, 1992).
    Nhà phê bình Hoài Thanh cho rằng Nguyễn Bính là “một nhà thơ quê mùa”, “ông vẫn còn giữ được bản chất quê nhiều lắm” (Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2005).
    Tuy nhiên, khi tiếp cận thơ Nguyễn Bính ở góc độ Thi pháp học, đặc biệt việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong thơ của ông đã đưa đến cho người đọc cái nhìn mới hơn về phong cách của nhà thơ cũng như những giá trị mà các tác phẩm của ông mang lại.Thời gian trong thơ Nguyễn Bính là thời gian của tâm tưởng, không chịu sự chi phối của thế giới bên ngoài. Đó là thời gian của thôn quê, và cùng với hình tượng thời gian “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” (Hoài Thanh).

    2. Nguyễn Bính – Tác giả và tác phẩm
    2.1. Tác giả
    Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918–1966) là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam. Thơ ông phần lớn là thơ tình nhưng mang một sắc thái quê mùa, dân dã riêng biệt. Cùng với Xuân Diệu, ông được mệnh danh là “Vua thơ tình”.
    Nguyễn Bính sinh tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyệnVụ Bản, tỉnh Nam Định.
    Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính.
    Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng.
    Mấy năm sau ông Bình cưới bà Phạm Thị Duyên làm kế mẫu (bà sinh được bốn người con, hai trai hai gái).
    Bà cả Giần là chị ruột của mẹ Nguyễn Bính, nhà bà lại giầu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của Nguyễn Bính và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thủa bé, được cậu Khiêm khen hay nên được cưng
    Năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:
    …Anh đố em này:
    Làng ta chưa vợ mấy người ?
    Chưa chồng mấy ả, em thời biết không
    Đố ai đi khắp tây đông,
    Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây?
    Làm sao như rượu mới say,
    Như giăng mới mọc, như cây mới trồng ?
    Làm sao như vợ như chồng ?
    Làm sao cho thỏa má hồng răng đen
    Làm sao cho tỏ hơi đèn ?
    Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?
    Làm sao ? anh khen em tài ?
    Làm sao ? em đáp một lời làm sao … ?

    Một thời gian sau, Trúc Đường thi đỗ thành trung (đíp-lôm) vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.
    Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài Cô hái mơ. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn.
    Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đề tài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình. Cũng trong năm này Trúc Đường chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi Huế tìm đề tài sáng tác. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất của gia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính.
    Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ ra cho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau. Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: Xuân tha hương và Oan nghiệt. Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.
    Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn. Trong thời gian này Nguyễn Bính đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây,…
    Năm 1954 theo Hiệp định Genève, Nguyễn Bính cũng như bao cán bộ Việt Minh khác tập kết ra Bắc. Ông về công tác tại Nhà xuất bản Văn nghệ, sau đó ông làm chủ bút báo Trăm hoa.
    Từ 1955 đến 1962, Nguyễn Bính cho in hàng chục tác phẩm thơ. Chủ đề nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bính thời gian này là vạch trần tội ác của bọn Mỹ Diệm, phản ánh tinh thần đấu tranh thống nhất đất nước và tâm tình “ngày Bắc đêm Nam”. Ông cũng đã chú ý viết những tác phẩm ca ngợi truyền thống bất khuất, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, ca ngợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc.
    Năm 1958, Nguyễn Bính về cư ngụ tại Nam Định, tiếp tục sáng tác, sau đó nhận công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Nam Định. Ông đã góp phần mình vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ ở quê hương và thơ ông vẫn bám sát các yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước.
    Mùa thu năm 1965, Nguyễn Bính theo cơ quan Ty Văn hóa Nam Hà sơ tán về huyện Lý Nhân. Ngay từ những ngày đầu giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, Nguyễn Bính đã có ngay một số bài thơ chống Mỹ, cứu nước. Tiếc rằng ông đã mất đột ngột vào ngày 20 – 1 – 1966, khi ông chưa kịp sang tuổi bốn mươi chín, khi ông vừa hoàn thành Bài thơ quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu một giai đoạn mới của đời thơ ông.

    2.2. Tác phẩm
    Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ… Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca. Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại.: Một số tác phẩm:
     Qua Nhà (Yêu đương 1936)
     Những bóng người trên sân ga (Thơ 1937)
     Cô Hái Mơ (Thơ 1939)
     Tương tư
     Chân quê (Thơ 1940)
     Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
     Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
     Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
     Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
     Sao chẳng về đây (Thơ 1941)
     Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
     Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
     Mây Tần (Thơ 1942)
     Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
     Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
     Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
     Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
     Trả Ta Về (Thơ 1955)
     Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
     Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
     Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)
     Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)
     Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)
     Cô Son (Chèo cổ 1961)
     Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)
     Người Lái Đò Sông Vỹ (Chèo 1964)

    Thơ Nguyễn Bính có nhiều bài được phổ nhạc và cũng có nhiều nhạc sĩ phổ nhạc cho thơ của ông:
    1. Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc
    2. Người hàng xóm được Anh Bằng phổ thành ca khúc Bướm Trắng
    3. Cô hái mơ được Phạm Duy phổ nhạc
    4. Lỡ bước sang ngang được Song Ngọc phổ nhạc
    5. Nhạc xuân được Đức Quỳnh phổ nhạc, Thanh Lan hát
    6. Thời trước đượcVăn Phụng phổ nhạc thành bài Trăng sáng vườn chè
    7. Ghen được Trọng Khương phổ nhạc
    8. Gái xuân được Từ Vũ phổ nhạc
    9. Cô lái đò được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc
    10. Chân quêđược nhạc sĩ Trung Đức phổ nhạc
    11. Nụ tầm xuân được Phạm Duy phổ nhạc

    3. Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính
    Thời gian là một thuộc tính phổ biến, là điều kiện tất yếu, là hình thức tồn tại của thế giới.Trong tác phẩm văn học, nghệ sĩ chọn cho mình những điểm mốc thời gian để làm nền, điều đó góp phần hoàn thiện nội dung cho những đứa con tinh thần của mình.
    Thời gian trong thơ Nguyễn Bính mang tính dân gian, tính chất “quê” mặn mà. Thời gian vật lý và thời gian tâm lý hiện lên vừa mờ ảo vừa cụ thể, trong bốn mùa của đất trời cũng là bốn mùa của đời người “Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng”, hình ảnh mùa xuân và mùa thu hiện lên rất rõ trong những vần thơ của Nguyễn Bính.
    3.1. Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính
    Mùa xuân là mùa hồi sinh của đất trời, cây cối đâm chồi nảy lộc. Ở thôn quê, không có gì vui bằng ngày xuân. Một mùa xuân ấm áp chan hòa, mùa của lễ hội, mùa của những đôi lứa cưới nhau, dường như thiên nhiên cũng chia sẻ niềm vui cùng con người mỗi khi tết đến, xuân về. Và bài thơ Xuân về của Nguyễn Bính mang đến cho lòng người cảm giác hồi hộp, bâng khuâng để đón mừng hơi ấm của ngày mới:
    Đã thấy xuân về với gió đông
    Với trên màu má gái chưa chồng
    Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
    Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong

    Từng đàn con trẻ chạy xum xoe
    Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe
    Lá nõn nhành non ai tráng bạc
    Gió về từng trận gió bay đi

    Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
    Lúa thì con gái mượt như nhung
    Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
    Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng

    Trên đường cát mịn một đôi cô
    Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa
    Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
    Tay lần tràng hạt niệm nam mô.
    Bài thơ đã phác ra một quang cảnh mùa xuân, các dấu hiệu của mùa xuân mới đều được Nguyễn Bính đưa vào trong sáng tác của mình. Mùa xuân đến, người con gái trinh nguyên nhận biết sự thay đổi trong hương sắc của đất trời, xuân của tạo vật và cũng chính là tuổi xuân của nàng.
    “Mưa tạnh, trời quang” là biểu hiện đầu tiên của sự chuyển mùa từ mùa đông sang mùa xuân, những em bé rong chơi trong ánh nắng đồng quê ấm áp, và thiên nhiên cũng vậy, những cành cây đua nhau đâm chồi nảy lộc, để những con bướm vàng cũng thỏa sức cùng mùa xuân.
    Xét cho cùng, cái chất “quê” trong thơ Nguyễn Bính mang dấu ấn rất đậm, như thế những vẫn thơ mới dễ đi vào lòng người! Những cánh đồng lúa mướt, những bác nông dân mùa này được nghỉ ngơi, các cô gái cùng các bà già đi trẩy hội … đó là hình ảnh ghi dấu thời khắc của mùa xuân.
    Hình ảnh những cô gái trong mùa xuân còn được Nguyễn Bính thể hiện một cách rõ hơn trong bài Gái xuân :
    Em như cô gái hãy còn xuân
    Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
    Xuân đến hoa mơ, hoa mận nở
    Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

    Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
    Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
    Đôi tám xuân đi trên mái tóc
    Đêm xuân cô ngủ có buồn không?
    Chỉ có vẻn vẹn tám câu thơ nhưng xuất hiện đến chín từ “xuân”. Mùa xuân hiện lên trong thơ Nguyễn Bính với vẻ tự nhiên, chân thành. Cô gái còn xuân mong muốn mình có chồng vì sợ thời gian trôi qua làm mất đi tuổi trẻ của mình, thời gian làm phai màu tóc, thời gian làm buồn tủi lòng người con gái mỗi khi đêm về.
    Mùa xuân ở đây không chỉ là một quy luật của tạo hóa, rằng đông qua xuân lại nữa, mà mùa xuân chỉ mùa của tuổi trẻ, của sự “nở rộ” trong vẻ đẹp của đời người con gái, như vậy chính cái xuân của đất trời đã đi vào cái xuân của lòng người!
    Trong những khúc nhạc xuân du dương, nhà thơ của chúng ta cũng có lúc nhớ về người con gái trước đây mình quen, giờ đã đi lấy chồng, khúc nhạc xuân chính là khúc nhạc đệm cho lòng nhớ thương của thi nhân trong bài thơ Nhạc xuân:
    Hôm này là xuân, mai còn xuân
    Xuân đã sang đò, nhớ cố nhân
    Người ở bên kia sông cách trở
    Có về Chiêm quốc như Huyền Trân?
    Nói về bài Nhạc xuân, Bùi Hạnh Cẩn viết:
    “… Mùa xuân năm Thìn ( 1940 ) ở xóm Trạm, Nguyễn Bính đã viết một bài thơ dài, treo lên tường như một trang trí Tết. Đó như những lời tâm sự của các cô gái quen của ông đã lấy chồng hoặc tha phương kiếm ăn”. Tuy nhiên, nhà thơ nhớ thì cứ nhớ, cố nhân đi thì cứ đi, không thể ngăn cản được bước chân của Huyền Trân về với chồng. Người đi rồi chỉ còn cánh hoa đào rơi như đệm thêm vào nỗi buồn của nhà thơ:
    Hôm nay là xuân, mai còn xuân
    Một cánh đào rơi nhớ cố nhân
    Nếu như mùa hè có những cơn mưa dông nặng hạt thì sang với mùa xuân, những cơn mưa bụi nhạt nhòa như đánh thức lòng người một nỗi nhớ miêm man về xúc cảm của mùa xuân, bài thơ Mưa xuân :
    Em là con gái trong khung cửi
    Dệt lụa quanh năm với mẹ già
    Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
    Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

    Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
    Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
    Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
    Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.
    Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bính giới thiệu khung cảnh một gia đình có nề nếp với nghề canh cửi, có mẹ già và cô gái trẻ dịu dàng, ngây thơ và trong trắng. Tiếp theo, nhà thơ lại mở ra khung cảnh thiên nhiên của một đêm xuân, có mưa xuân “phơi phới bay” và hoa xoan “lớp lớp rụng vơi đầy”.
    Những cụm từ này diễn tả đúng trạng thái của hiện tượng những lại mang sắc thái thẫm mỹ riêng biệt. Bình thường là những hạt mưa rơi, nhưng ở đây lại là mưa bay, hình ảnh rất chân thực và Nguyễn Bính đã dung từ rất chính xác. Cũng như đối với việc miêu tả hoa xoan, một loài hoa phổ biến ở các vùng quê, nó không khoe hương khoe sắc như những loài hoa khác và cánh của nó rơi rụng phủ từng lớp lên mặt đường, bởi vậy cụm từ “lớp lớp rụng vơi đầy” đầy chất sáng tạo. Tô Hoài đã nhắc đến hai câu thơ trên của Nguyễn Bính với lời khen trân trọng “Tầm vóc, thật tầm vóc mỗi câu thơ Nguyễn Bính”.
    Câu chuyện của cô gái tiếp tục với những chi tiết, khi cô đi nghe hát trong hội chèo để hi vọng gặp được chàng trai của mình, theo như lời hứa hẹn năm xưa. Tuy nhiên, chàng trai đó đã không đến, một mình cô gái lại lủi thủi đi về trong đêm mưa. Đó là khoảnh khắc để cho hạt mưa xuân kia giăng mắc những tơ tình ngổn ngang lòng người thôn nữ, thời gian như chứa đựng cái hồi hộp bâng khuâng của lần hò hẹn cùng người trai thôn Đoài đủ làm hai má em “bừng đỏ” giờ đây không còn nữa, cũng như không còn buổi mưa xuân phơi phới bay của đêm hôm ấy, bài thơ khép lại mùa xuân với hình ảnh nặng nề và buồn tủi:
    Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
    Hoa xoan đã nát dưới chân giày
    Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
    Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”.
    Thiên nhiên không còn vẻ đẹp nguyên sơ nữa, mưa xuân không còn “phơi phới” như ngày đầu, mà nó đã “ngại bay”, những cánh hoa xoan cũng đã tàn lụi dưới những gót chân giày, cũng như con người, “mùa xuân đã cạn ngày”. Tuy nhiên, đối với thời gian của đất trời thì mùa xuân này qua đi có thể đợi mùa xuân khác. Nhưng với thời gian của đời người, tuổi xuân đã qua đi thì có lấy lại được không?
    Bài thơ Mưa xuân ghi lại cả hai mùa xuân ấy và gợi lên bao ngậm ngùi xót xa về số phận và hạnh phúc của tuổi trẻ trong cuộc đời của những tháng năm qua.
    Mỗi dịp tết đến, mùa xuân không lựa chọn những lứa tuổi đón chào đất trời. Bởi thế, từ em nhỏ cho đến những chàng trai thư sinh mơ ước đỗ đạt làm quan trạng, từ những nàng thục nữ dậy thì đến những ông già say chén rượu đào đề thơ… Tất cả họ làm nên không khí của mùa xuân:

  • NGUYỄN GIA HƯỞNG  On Tháng Một 11, 2010 at 8:25 sáng

    tôi là một người khá trẻ tuổi, nhưng lại là người rất thích thơ của nguyển bính, trong tôi nguyển bính như là một thần tượng về thơ.mặc nhiên tùy ở mổi người có một cách nhìn riêng và một sự cảm nhận riêng, tôi xin mạo muội đưa ra một số ý kiến của mình, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tác giả đả có một bài viết mang tính quảng đại và hay thế nhưng tác giã lại chưa đi sâu vào phân tích cho những hình ảnh nội tâm của nhà thơ trong những bài thơ ( có thể vì thời gian hay là do một số lý do nào đó ) tôi xin đơn cử một số hình ảnh như sau : trong bài thơ xuân tha hương nguyển bính có viết
    ‘tết nay chưa chắc em về được
    em gởi về đây một tấm lòng
    ôi chị một em, em một chị
    giời làm xa cách mây con song
    mùa xuân là mùa biêur hiện cho sự sum họp, đoàn tụ và yêu thương…thế nhưng nguyển bính vẩn còn ‘chưa chác’. dọc bài thơ này tôi chowts nhớ đến một tứ thơ trong truyện kiều của nguyễn du’
    bắt phong trần, phải phong trần
    cho thanh cao mới được phần thanh cao.
    tôi rất thích đoạn bạn viết như sau:’Chỉ vài năm sau thôi, khi gió bụi kinh thành mang lại cho Nguyễn Bính nhiều chua xót, và những ngày giang hồ đôi khi đồng nghĩa với cuộc lưu đày bất dắc dĩ, thì một mô típ khác bắt đầu xuất hiện: xuân và tết gắn liền nỗi nhớ quên, nhớ những kỷ niệm êm đẹp ngày trước. Giờ đây, nhìn ngày vui của mọi người, chàng thi sĩ chợt nhận ra mình quá đơn độc. Sống giữa cái tết của người ta, chàng mong những cái tết của mình.
    rồi tiếp theo tác giã lại tự nhũ
    cột nhà hãng xóm lên câu đối
    ai viết tương tư giữa giấy hồng
    hay
    người ta đua nhau mà sắm tết
    một mình em vẩn cứ tay không
    chính cái sự khát khao đó có lẻ đã làm cho nguyền binh nấc lên những tiêng trong nghẹn nghào…
    chị ơi tết đến em không được
    trong thấy quê hương thật nảo nùng
    và rồi tác giã lại tìm cách chống chế với nổi cô đơn đó ..”chị ơi tế đến em mua rượu
    ….
    những một mình em uống rượu nồng
    ….
    say rồi cười với ba gian gác
    và ở bài trên bạn có chỉ ra ‘trong cơn say sưa đã mấy lần ông gọi mùa xuân là một người con gái, và sẵn sàng đi đến cùng, trong mối quan hệ với người con gái ấy. Nhân trò chuyện với người chị ở xa là chị Trúc.nhưng theo tôi trong những dịp tết thì khơi gợi cho nhà thơ nhiều cảm xuac nhất về sự cay nghieetf của cô đơn… chính vì vậy nguyễn bính muốn cưới mùa xuân cũng chỉ vì nguyển bính muốn ‘nhưng thà đau, đau một làn rồi thôi’tác giã muốn thưởng thức hết những cảm xúc rồi sau để rồi ông lại ” sặc sụa trong đau khổ ” và cuối cùng là những câu thơ tuyêt thế cho bạn và tôi
    ” tôi cảm thông cho số phận của nhà thơ và bai phục sự bản lĩnh diệu kỳ của nhà thơ”
    trò đời luôn trớ trêu
    ” dã sinh ra số hồng nhan
    làm sao cho hại cho tàn cho cân
    dã đày vào kiếp phong trần
    sao cho sỉ nhục một lần mới thôi’
    rất cảm ơn bạn khai thác và tìm tòi ra những hình ảnh trong thơ nguyễn bính. một mùa xuân mới đã tới, xin chúc bạn sức khỏe và hạnh phúc

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: